favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Xuân 2026
Next

Meister Eckhart: German Sermon 1

28/04/2026 21:24

Bài giảng thứ nhứt[1]

Cha Eckhart

KHI VẠN VẬT CHÌM SÂU TRONG THINH LẶNG,
LÚC ​ĐÊM TRƯỜNG CHỪNG NHƯ ĐIỂM CANH BA,

(Kn 18:14)

 

Ngay đây, lúc này[2], chúng ta đang tôn vinh sự hằng sinh mà Đức Chúa Cha đã sinh và vẫn không ngừng sinh ra suốt đời đời, bởi lẽ chính sự sinh ấy hiện đang sinh ra trong thời gian, trong bản tính con người. Thánh Augustine nói, ‘Sự sinh hoài hoài ấy có ích gì cho con nếu chẳng sinh ra trong con? Quan trọng là nó phải xảy ra trong con kìa.’ Thành thử, ta sẽ nói về sự sinh ra này, cách nó giáng xuống trong ta và ra hoàn tất ra làm sao trong tâm hồn nhân đức, mỗi khi Đức Chúa Cha phán Lời Hằng Hữu trong tâm hồn hoàn mỹ. Những gì thầy sắp nói ở đây cần phải hiểu là đang nói đến con người tốt lành, hoàn mỹ, đã và đang đi trong đường lối Chúa; chứ không phải con người tự nhiên, vô lối, bởi người ấy hoàn toàn xa lạ và tuyệt đối vô tri về sự sinh ra này. Hiền nhân có câu, “Khi muôn sự đã chìm vào thinh lặng, thì từ từng trên, từ một ngai vương báu, có một lời kín chợt giáng xuống trong tôi.” Bài giảng này chính là về Lời ấy.[3]

Có ba điểm[4] cần chú ý ở đây. Một là, nơi nào trong tâm hồn mà Đức Chúa Cha phán Lời của Người, nơi nào sự sinh ra này giáng xuống và nơi nào nàng[5] lãnh nhận hành động này, bởi sự ấy chỉ tồn tại ở phần trong khiết nhất, cao thượng nhất, vi tế nhất mà tâm hồn có thể đáo đến mà thôi. Thật vậy, giả mà Đức Chúa Cha trong toàn năng của Người có thể ban cho tâm hồn điều gì tôn quý hơn nữa, và giả mà tâm hồn chịu được từ ngài thứ gì tôn quý hơn, thì Cha hẳn đã hoãn sinh để đợi cho thứ tuyệt vời hơn đó đến. Thành ra, trong tâm hồn nơi sự sinh ra này giáng xuống nhất thiết phải giữ cho trong khiết tuyệt đối và phải sống tôn quý, toàn quy vào hướng nội, không phóng tán qua ngũ quan mà ra chỗ hỗn tạp các thụ tạo, mà thảy đều quy và tụ vào phần trong khiết nhất - chính nơi đó là chỗ của Người; và Ngài dễ duôi mọi thứ thấp kém hơn.

Phần hai của bài giảng này là bàn về ứng-thế con người trong tương quan với hành động ấy, với việc Thiên Chúa phán Lời tại nội, với sự sinh ra ấy:  có ích lợi gì chăng khi con người cộng tác với nó, đặng cho nó đến với mình qua nỗ lực và công trạng từ việc tự tạo ra một hình ảnh trong tư tưởng và tự rèn mình qua lối suy niệm rằng Đức Chúa là khôn ngoan, toàn năng, hằng cửu, hay bất cứ điều chi mà người ta tưởng tượng được về Chúa -  như thế thì có sinh hoa trái và đưa đến sự sinh ra từ Đức Chúa Cha chăng; hay là người ta nên chùn mình và giải mình khỏi mọi tư tưởng, lời nói, việc làm, khỏi mọi hình ảnh do niệm năng [understanding] tạo nên, khư giữ tâm thế sẵn lòng đón Chúa, đến mức ngã thể người ta như bất động, mặc Chúa vận hành bên trong mình. Ứng-thế nào là có lợi nhất hầu đưa đến sự sinh ra ấy? Còn phần thứ ba là về ích lợi, sự lớn lao của nó, phát sinh từ sự sinh ra ấy.

Trước tiên phải nhớ rằng những điều thầy sắp nói đây sẽ dụng đến những chứng cứ sẵn có, hầu anh em còn nhận ra rằng sự ấy là thật, bởi thầy đặt niềm tin nơi Thánh Kinh hơn là nơi chính mình, thì đối với anh em, học qua lý chứng khả chứng vẫn dễ và hay hơn.

Đầu tiên, hãy xét lời này, ‘Giữa thinh lặng, một lời kín chợt giáng xuống trong tôi.’ - ‘Nhưng, thưa thầy, thinh lặng ấy ở đâu, và lời giáng xuống chỗ nào?’ - Như thầy vừa nói, chính là phần trong khiết nhất mà tâm hồn có thể đáo đến, phần tôn quý nhất, phần nền[6] - thật vậy, ở ngay trong yếu tính của tâm hồn, tức là phần kín nhiệm tột cùng của tâm hồn. Đó chính là điểm ‘giữa’ thinh lặng[7], vì chưa từng có thụ tạo nào bước vào đó và không hình ảnh, cũng không hoạt động hay niệm năng nào của tâm hồn từng vào; thành thử nàng không có ý thức về bất kỳ hình ảnh nào, dù là của mình hay của thụ tạo khác, ở đó.

Điều chi tâm hồn thực hiện, nàng thực hiện bằng các năng lực của mình.[8] Nàng hiểu chi, nàng hiểu bằng trí năng. Nàng nhớ chi, nàng nhớ bằng ký ức; nếu nàng yêu, nàng yêu bằng ý chí, và như thế, nàng hoạt tác bằng các năng lực chứ không bằng yếu tính. Mọi hành động hướng ngoại đều gắn với một phương tiện nào đó. Năng lực nhìn chỉ hoạt tác qua con mắt; ngoài đó ra, nó chẳng dụng hay ban cho thị kiến, các giác quan khác cũng vậy. Mọi hành động hướng ngoại của tâm hồn đều hoạt tác qua một phương tiện nào đó. Nhưng trong yếu tính tâm hồn thì không có hoạt động, vì các năng lực nàng dùng để hoạt tác đều bắt nguồn từ nền hữu thể. Song trong chính nền ấy lại có điểm ‘giữa’ thinh lặng: chẳng có gì nơi đó ngoài sự yên nghỉ và sự tôn vinh cho sự sinh ra này, cho hành động này, để Đức Chúa Cha có thể phán lời Ngài ở nơi này, vì phần này theo bản tính chẳng nhận lãnh thứ chi ngoài yếu tính Thiên Chúa không qua môi giới. Nơi đây, Chúa bước vào tâm hồn với toàn thể Người, chứ không chỉ một phần. Chúa bước vào nền của tâm hồn. Không ai bén gót đến nền của tâm hồn được ngoại trừ mỗi Chúa. Không thụ tạo nào bước vào nền của tâm hồn được, mà phải dừng lại ở ngoài, nơi của các ‘năng.’ Bên trong, tâm hồn thấy rõ hình ảnh của thụ tạo mà nàng đã đón nhận và cho nó cư ngụ. Vì hễ khi nào các năng lực của tâm hồn tiếp xúc với một thụ tạo, chúng sẽ hoạt tác và tác thành một hình ảnh cùng tương-thể của thụ tạo ấy, rồi hấp thụ. Chính đó là cách chúng nhận biết thụ tạo. Không thụ tạo nào đến với tâm hồn gần hơn mức đó nữa, và tâm hồn cũng không bao giờ tiếp cận thụ tạo mà lại không tự nguyện nhận lấy một hình ảnh về nó vào nàng trước tiên. Qua hình ảnh hiện tiền ấy mà tâm hồn tiếp cận các thụ tạo - một hình ảnh trở thành điều gì đó mà tâm hồn tác thành từ các đối tượng (ngoại tại) bằng chính năng lực của nàng. Có là cục đá, con ngựa, con người, hay bất cứ thứ gì nàng muốn biết, nàng lấy ra hình ảnh mà nàng từng đón vào, và nhờ vậy mà hiệp nhất chính mình với nó.

Nhưng để con người đón nhận một hình ảnh theo lối trên, nó tất yếu phải bước vào từ bên ngoài qua các giác quan. Hệ quả là, không có gì xa lạ với tâm hồn hơn chính nàng. Dẫn đến việc, có bậc thầy nói rằng tâm hồn không thể tạo ra hay có được một hình ảnh về nàng. Nên nàng không có cách nào để biết mình cả, bởi mọi hình ảnh đều phải bước vào qua giác quan, và vậy là nàng chẳng có được hình ảnh nào về mình. Vậy là nàng biết hết mọi tha thể, nhưng không biết bản thể. Không có gì mà nàng ít biết như chính nàng, bởi thiếu môi giới.

Và anh em cũng nên biết rằng, nội tại, tâm hồn tự do và trống rỗng mọi phương tiện và mọi hình ảnh - chính do vậy mà Chúa mới có thể tự do hiệp kết với nàng mà không cần hình ảnh hay tương-thể. Hễ anh em gán cho một người thầy năng lực nào, thì anh em cũng phải quyền năng ấy cho Chúa cách vô hạn. Vị thầy càng tinh thông và càng quyền năng bao nhiêu, thì công trình của ông lại càng được làm trực tiếp và đơn giản bấy nhiêu. Con người cần nhiều phương tiện để làm các công trình ngoại tại; cần phải chuẩn bị vật liệu cho nhiều trước lúc tạo được thứ mà mình đã hình dung. Song mặt trời, với quyền phép tối thượng của nó, thì thực hiện công việc của mình (chiếu sáng) rất mau: ngay khắc ánh dương tuôn ra, tận cùng trái đất đã sáng rỡ. Cao cường hơn là thiên thần, lại càng cần ít phương tiện hơn cho công việc của mình và có ít hình ảnh hơn. Phẩm Sê-ra-phim cao nhất chỉ có một hình ảnh đơn nhất: ngài thâu nhiếp [cho mình một hình ảnh] như nhất thể của hết thảy những gì mà các phẩm thấp hơn xem như đa tạp. Nhưng Chúa thì chẳng cần hình ảnh và cũng chẳng có hình ảnh: không qua phương tiện nào, tương-thể nào, hay hình ảnh nào, mà Chúa vận hành trong tâm hồn - ngay nơi nền vốn không hình ảnh nào lọt vào được, mà chỉ có chính Người với bản thể của Người.[9] Chẳng thụ tạo nào làm được điều này.

‘Vậy Đức Chúa Cha sinh Con Người ra trong tâm hồn như thế nào? Có phải như thụ tạo, qua hình ảnh và tương thể, hay không?’

Không, thật lòng mà nói, nhưng Người sinh Con Người ra trong cõi đời đời - không hơn không kém.

‘Thế thì Người sinh Con Người ra như thế nào?’

Hãy xem: Đức Chúa Cha có một nội kiến tận tường hoàn hảo vào chính Người, một tri thức uyên nguyên và và thấu suốt về chính Người bởi chính Người, không qua một hình ảnh nào. Và như thế, Đức Chúa Cha sinh ra Con Người trong sự hiệp nhất chân thật của bản tính Thiên Chúa. Ta thấy, chính theo cách ấy và không cách nào khác nữa mà Đức Chúa Cha đã sinh ra Con Người trong nền và yếu tính của tâm hồn, và như vậy mà kết hiệp chính Người với tâm hồn. Bởi nếu có bất kỳ hình ảnh nào hiện diện ở đó, thì sẽ không có sự hiệp kết thật, và ngụ trong chính sự hiệp kết thật ấy là toàn bộ mối phúc của tâm hồn.

Giờ thì, anh em dễ bảo rằng, do bản tính nên trong tâm hồn chẳng có chi ngoài hình ảnh. Không hề! Là vậy thật thì tâm hồn chẳng bao giờ được nên phúc rồi, vì Chúa không thể tạo bất kỳ thụ tạo nào mà ta được nhận đoàn-phúc từ nó - bằng chẳng vậy, Chúa đã chẳng là ân phúc tối thượng và là cứu cánh sau hết, trong khi bản tính Người là như vậy, và ý muốn Người là làm alpha và omega của muôn vật. Không thụ nào có thể làm nên ân phúc của anh em, cũng không thể là sự hoàn thiện dưới đất này, vì sự hoàn thiện của đời này - là tổng của mọi nhân đức - còn được tiếp nối bởi sự hoàn thiện của đời sau. Thế nên anh em phải hiện hữu và ngụ trú trong yếu tính và trong nền, và tại đó Chúa sẽ chạm anh em bằng yếu tính đơn thuần của Người mà chẳng cần hình ảnh nào trung gian. Không hình ảnh nào tái hiện và biểu thị được yếu tính ấy: nó luôn nhắm và chỉ đến điều mà nó làm nên hình ảnh[10]. Và, bởi anh em không có hình ảnh nào khác ngoài những gì ngoại tại với mình (những gì được thu nhiếp qua các giác quan và không ngừng chỉ về điều mà chúng nó làm nên hình ảnh), nên anh em không thể được phúc hóa bởi bất kỳ hình ảnh nào. Vì thế, phải có một thinh lặng và một tĩnh tại, để Cha phán trong đó, và sinh ra Con Người, và hoạt tác công trình của Người mà chẳng cần hình ảnh.

Điểm thứ hai là, con người phải đóng góp gì bằng hành động, đặng lãnh và đáng được xảy đến cùng hoàn tất sự sinh ra này trong mình? Có nên làm gì nhằm hướng tới điều ấy không, như tưởng tượng hay gẫm ngợi về Chúa? - hay là nên giữ mình yên tĩnh, thinh lặng và cứ để cho Chúa phán và hoạt tác trong mình, tức chẳng làm gì hơn ngoài đợi Chúa hành động? Như đã nói, những lời và hành động này chỉ dành cho những ai tốt lành và trọn lành, đã hấp thu yếu tính của mọi nhân đức đến nỗi các nhân đức nhiên-xuất từ người ấy ra, họ chẳng phải cất công đi tìm; và trên hết, họ phải có một đời sống nhiều công phúc cùng những giáo huấn cao vợi của Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta ngự bên trong. Họ phải biết rằng sự đạt được tuyệt hảo và tuyệt cao nhã của đời này chính là trở nên thinh lặng, để Thiên Chúa hoạt tác và phán từ bên trong. Khi các năng lực đã hoàn toàn thối lui khỏi mọi công trình và hình ảnh, thì Lời được phán ra. Nên hiền nhân mới nói, ‘Giữa thinh lặng, một lời kín chợt giáng xuống trong tôi.’ Như vậy là, anh em càng quy hiệp được các năng lực của mình thành một nhất thể và quên hết mọi sự cùng hình ảnh mà anh em đã thu nhiếp từ chúng, và càng xa lìa được các thụ tạo và hình ảnh của chúng, thì anh em càng kề cận điều ấy hơn, càng sẵn sàng đón nhận Lời hơn. Giá như anh em có thể bất thần mất ý thức về mọi sự,[11] thì anh em được vượt sang sự lãng quên chính thân xác mình như Phao-lô, khi ngài nói, “Có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa mới biết” (2 Cr 12:2). Khi ấy, tinh thần đã hấp thu toàn bộ năng lực đến nỗi nó quên cả thân xác: ký ức không vận hành, niệm năng không, giác quan cũng không, hay đến cả những năng lực vốn phải vận hành để điều hành và ban sinh khí cho thân xác cũng chẳng; hơi ấm sự sống và thân nhiệt ngưng lại, nên thân xác ông không hao suốt ba ngày không ăn không uống. Môi-sê cũng không khác, ông ăn chay bốn mươi ngày trên núi mà chẳng khánh kiệt gì, ngày cuối ông vẫn khỏe như ngày đầu. Cứ theo lối ấy, con người khá thối lui khỏi các giác quan, quy hồi các năng lực vào nội hướng và chìm vào quên lãng mọi sự cùng chính mình. Về điều này, một bậc thầy[12] từng nói với tâm hồn như sau: ‘Khá lui khỏi sự xao động từ các hành vi ngoại tại, rồi lánh đi, ẩn mình khỏi sự náo nhiễu từ các tư tưởng nội tại, bởi chúng chẳng tạo ra gì ngoài bất hòa.’ Thế cho nên, nếu Thiên Chúa muốn phán Lời Người trong tâm hồn, thì nàng ta phải đang yên và đang nghỉ, rồi Người mới phán Lời, và chính Người, [sẽ ngự] trong tâm hồn - không hình ảnh gì hết - nhưng  là chính Người!

Ông Dionysius[13] nói, ‘Thiên Chúa không có hình ảnh hay sự giống chính Người, bởi nội tại Người là tất cả sự tốt lành, chân lý cùng bản thể.’ Thiên Chúa thực hiện mọi công trình của Người, dù trong chính Người hay bên ngoài Người, trong chớp mắt. Chớ có tưởng rằng Thiên Chúa, khi Người dựng trời đất cùng muôn vật, lại làm một vật này hôm nay rồi mai làm vật khác. Môi-sê trình thuật như vậy thật, nhưng ông biết rõ: ông thuật theo cách đó con người không còn cách lĩnh hội nào khác. Tất thảy những gì Thiên Chúa làm là: Người muốn, Người phán, vật hiện hữu! Thiên Chúa hoạt tác không qua phương tiện và không qua hình ảnh, và anh em càng giải thoát mình khỏi hình ảnh bao nhiêu, anh em càng dễ lãnh nhận những hoạt tác nội tại từ Người bấy nhiêu, và càng nội-quy và càng quên mình bao nhiêu, anh em càng tiệm cận điều ấy bấy nhiêu.

Ông Dionysius[14] đã khuyên môn đệ mình là Timothy theo ý trên như sau, ‘Hỡi con Timothy yêu dấu, khá lấy trí bất động mà cất lên trên mình và trên mọi năng lực mình, trên cả suy lý và luận lý, trên mọi công việc, trên mọi thể cách cùng hiện hữu mà lên với sự tối tĩnh tại kín nhiệm, hầu con đạt được tri thức về Đức Chúa Cực Thánh, Không Ai Biết.’ Phải thối lui khỏi mọi sự. Chúa dể việc hoạt tác qua các hình ảnh.

Giờ có khi anh em sẽ hỏi, ‘Vậy Thiên Chúa làm gì trong nền và yếu tính khi không qua các hình ảnh?’

Điều ấy thầy không thể biết, bởi năng lực tâm hồn thầy chỉ nhận mỗi hình ảnh thôi; chúng phải biết và phải nắm bắt mỗi sự bằng hình ảnh nào [tâm hồn thấy là] thích hợp với sự ấy. Chúng không thể nhận ra con ngựa khi hiện diện trước chúng là con người; và vì mọi sự đều đi vào từ bên ngoài, nên sự biết ấy bị giấu khỏi tâm hồn thầy - đó lại là đại lợi của nàng. Chính sự không-biết ấy khiến nàng kinh ngạc và hướng nàng, thôi thúc nàng truy cầu, bởi nàng tri nhận rõ rằng: nó đang hiện hữu đấy, mà chẳng biết nó ra sao hay là gì. Hễ khi con người biết được căn nguyên mọi sự, thì họ liền chán nó và lại tìm biết thứ khác. Còn đòi biết mọi sự là còn bất định. Thế nên, sự không-biết-mà-biết ấy sẽ giữ cho tâm hồn bất biến mà vẫn thúc nàng truy cầu.

Về điều này, hiền nhân nói “Trong trường dạ đêm tối, giữa thinh lặng, một lời kín chợt giáng xuống trong tôi. Như kẻ trộm, nó âm thầm mà đến.”[15] Do đâu hiền nhân lại gọi đó là một “lời”, khi nó vốn kín? Bản tính của lời là mặc khải điều ẩn giấu. Lời bày tỏ mình cho ta và sáng tỏ trước mặt ta, tỏ lộ điều gì đó cho ta và khiến ta biết Thiên Chúa, do vậy mới gọi là Lời. Tuy vậy, điều ấy là gì, thì vẫn còn kín nhiệm với ta. Đó là là cách lời đến, trong thinh lặng thì thầm, để mặc khải mình. Đấy, chính vì lời bị giấu [kín] nên người ta mới và phải luôn đi tìm. Lời sáng tỏ mà cũng kín nhiệm: ta được định phải khát khao và thổn thức vì lời. Phao-lô khuyên ta phải đi tìm tới khi nhìn thấy lời, và không được dừng chân tới khi đã nắm được lời. Sau khi được nhắc lên từng trời thứ ba nơi Thiên Chúa tỏ lộ cho ông và được nhìn thấy mọi sự, khi ông trở lại, ông không quên gì cả, nhưng lời ấy đã giáng xuống thật sâu trong nền ông đến nỗi trí năng ông chẳng lặn nổi tới; lời đã bị mạng lại khỏi ông. Nên ông phải truy cầu và dõi tìm lời trong mình, chứ không ngoài mình. Toàn bộ lời đều ở trong, không ở ngoài, mà hoàn toàn ở trong. Biết rõ vậy, ông nói, ‘Tôi tin chắc rằng: dù có là sự chết hay bất cứ gian truân nào cũng không tách được ta ra khỏi điều ta thấy đang nằm bên trong ta”[16].

Có một lời rất hay của một thầy ngoại giáo[17] nói với người nọ về điều này: ‘tôi thấy trong mình có gì đó soi sáng vào trí hiểu của tôi; tôi nhận biết rõ rằng có gì đó, nhưng đó là gì thì tôi không nắm bắt được. Ấy mà nếu tôi chộp được nó thì tôi hẳn sẽ biết hết mọi sự thật.’ Thầy khác đáp rằng, ‘Can đảm mà đi theo đi! anh mà chộp được là anh sẽ có được hết tất thảy mọi sự tốt lành và sẽ được sự sống đời đời!’ Augustine[18] cũng nói cùng một ý: ‘Con thấy có gì đó trong con lóng lánh, chớp lóe trước tâm hồn con; nếu sự đó đã toàn hảo và vững lập trong con, đó ắt phải là sự sống đời đời!’ Nó ẩn, mà vẫn hiện; nó đến, mà đến như phường trộm, để lấy đi và cướp hết mọi sự khỏi tâm hồn. Nhưng chính khi hiện ra và tỏ mình đôi chút, nó nhằm mà quyến dụ tâm hồn và đưa nàng về phía nó, cướp của nàng và tước nàng khỏi chính nàng. Về điều này, ngôn sứ nói, ‘Chúa lấy sinh khí chúng đi, mà gửi lại sinh khí Người’[19]. Tâm hồn sốt mến cũng thưa điều ấy, “Hồn tôi mất khi Người Yêu tôi phán lời”[20]. Chàng bước vào, tôi phải tiêu tan. Và chính Đức Ki-tô cũng dạy, “Ai bỏ hết mọi sự vì Thầy sẽ được nhận lại gấp trăm, ai muốn sở hữu Thầy thì phải bỏ mình và mọi sự, còn ai phục vụ Thầy thì phải theo Thầy chứ không còn đi theo đường mình nữa”[21]

Giờ có khi anh em lại hỏi, ‘Nhưng, thưa thầy, thầy đang đảo lộn trật tự tự nhiên của tâm hồn và đi ngược lại bản tính của nàng đó! Bản tính nàng là phải thu nhiếp sự vật qua các giác quan dưới hình thức hình ảnh. Lẽ nào thầy muốn phá vỡ trật tự ấy ư?’

Không hề! Nhưng làm sao anh em biết được Thiên Chúa đã ban cho bản tính con người sự trổi vượt nào? sự đến nay vẫn không cách nào tả trọn, và vẫn chưa khải lộ? Những người từng viết về sự trổi vượt của tâm hồn đến nay vẫn chẳng cách nào đi xa hơn giới hạn của trí năng tự nhiên; họ chưa từng bước vào đất của nàng, nên với họ, vẫn còn lắm điều ám tàng và chưa biết. Ngôn sứ cũng nói “Giữa thinh lặng, con sẽ ngồi, Lắng tai nghe lời Chúa phán trong con”[22]. Chính vì quá kín nhiệm, nên Lời mới đến trong đêm và trong sự tối. Thánh Gio-an bảo: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, Người đã đến nhà mình, và những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa”[23].

Giờ hãy xét đến công hiệu và hoa trái của Lời kín nhiệm và sự tối ấy. Con của Cha trên trời không sinh ra một mình giữa sự tối, vốn là sự thuộc về Người: chính anh em cũng có thể sinh ra mà làm con của Cha trên trời chứ chẳng phải con ai khác, và anh em cũng sẽ được Người ban cho quyền ấy. Công hiệu ấy mới lớn biết dường nào! Vì mọi chân lý mà mọi bậc thầy học được bằng trí năng và niệm năng, dù có học đến ngày sau hết, cũng chẳng có một chút hồ-ý nào về sự biết này. Tuy có thể gọi đó là “không biết” [nescience], một sự bất tri, thì bên trong đó vẫn có nhiều hơn mọi tri thức và hiểu biết bên ngoài, vì sự “không biết” này quyến dụ và thu hút anh em khỏi mọi sự đã hiểu, khỏi cả bản thân anh em nữa. Đó là ý mà Đức Ki-tô muốn nói đến, “Ai không từ bản thân, không từ cha từ mẹ, không xa lìa hết những điều ấy, thì không xứng với Thầy”[24], như thể Người muốn nói: ai không buông những sự thụ tạo ngoại tại thì không được hoài thai cũng như không thể sinh ra trong sự sinh thánh thiên này. Mà chính việc trút bỏ mình khỏi chính mình, trút bỏ cả mọi sự ngoại tại, lại sẽ ban sự sinh ra ấy cho anh em. Và thật vậy, thầy tin, không, thầy chắc chắn, rằng ai đã vững lập trong điều này thì không đời nào bị tách biệt khỏi Thiên Chúa. Tức là họ không cách nào sa vào trọng tội được. Họ thà chịu lấy cái chết nhục nhã ê chề, như các thánh, chứ chẳng để mình phạm lấy một mẩu tội trọng. Thầy dám nói những người như thế không thể cố ý phạm hay ưng thuận một tội nhẹ nơi mình hay nơi người khác, nếu họ ngăn cản được. Họ bị quyến dụ, mê mải với con đường ấy, đến mức chẳng thể quay gót sang con đường khác; mọi giác quan của họ đều hướng đến con đường này, cùng mọi năng lực của họ nữa.

Nguyền xin Thiên Chúa là Đấng đã được sinh ra làm người nâng đỡ chúng ta để nhận sự sinh ra này, hằng cứu giúp chúng ta, những kẻ yếu đuối, hầu được tái sinh trong Người như là Thiên Chúa. Amen.

 

 

Gia Hải dịch


[1] Bài giảng này tóm lược một số phương diện quan trọng nhất trong toàn bộ giáo huấn của Meister Eckhart.

[2] Lễ Giáng sinh. Tuy nhiên, Eckhart không quan tâm đến thời gian “thực”, mà lập tức chuyển sang nói về Sự Hằng Sinh.

[3] Ở đây Eckhart kết hợp Khôn ngoan 18:14 và Gióp 4:12. “Lời” đối với Eckhart là Logos trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, tức là Ngôi Con trong Ba Ngôi. Bản văn từ Sách Khôn Ngoan được Eckhart tự do chọn để diễn đạt tư tưởng của mình, vốn song song với phần chú giải Latinh của ông về sách này. Đây thực ra là chủ đề duy nhất, cốt lõi trong toàn bộ tư tưởng của ông: sự sinh ra của Lời trong tâm hồn.

[4] Ba điểm này phù hợp với nguyên tắc bốn tầng giải thích. Eckhart bỏ qua tầng thứ nhất, tức tầng nghĩa văn tự: điểm thứ nhất ở đây tương ứng với nghĩa ẩn dụ, điểm thứ hai là nghĩa luân lý, và điểm thứ ba là nghĩa cánh chung, liên quan đến sự sống đời đời. Sau đó, các điểm này được triển khai lần lượt.

[5] Nguyên bản: she. Eckhart dùng danh từ “nàng” để gọi tâm hồn, một cách gọi phúng dụ rất hiệu quả để giúp các tu sinh thời ấy, hay cả chúng ta thời nay, hình dung về nàng.

[6] Nguyên bản: the ground. Nguyên cụm ấy là “the ground of the soul”, “Nền của linh hồn”, nơi sự sinh diễn ra, mà Eckhart thường xuyên nhắc đến dưới nhiều tên gọi khác nhau: “tia lửa”, “lâu đài”, v.v. Nó được phân biệt rạch ròi với các “năng lực”.

[7] Hoặc cũng có thể hiểu là “trung tâm”.

[8] Các “năng lực” của tâm hồn là những quan năng qua đó tâm hồn hoạt động. Các năng lực cao gồm trí năng, ký ức và ý chí; các năng lực thấp gồm trí năng bậc thấp, sự giận dữ và dục vọng, cùng với các giác quan. “Trí năng cao” không phải là năng lực suy luận, mà là trực giác, theo nghĩa cao nhất của từ này. Các năng lực này là phương tiện, phân biệt với “nền” là yếu tính của tâm hồn, không trực tiếp hành động.

[9] Ta cần phải đọc đoạn này cẩn thận, bởi nếu không, sẽ trượt vào hư vô hóa mọi thứ, thậm chí là các vật thể, lễ nghi có tính bí tích; hoặc sẽ đồng nhất tâm hồn với Chúa.

[10] Chẳng hạn, một bức chân dung thì chỉ đến người trong đó, chứ không khiến họ hiện diện trước mắt ta.

[11] Có thể là một manh mối về bản chất kinh nghiệm chiêm niệm của chính Eckhart.

[12] Thánh Anselm thành Canterbury, Proslogion 1.

[13] Pseudo-Dionysius the Areopagite, De divinis nominibus 9, 6.

[14] De mystica theologia 1.

[15] Kn 18:14-15. Eckhart trích đọc, có thêm bớt không y nguyên bản, bởi lẽ đây là bài giảng.

[16] Rm 8:38-39.

[17] Không rõ.

[18] Confessions 10, 27. Bản văn này hẳn đã có sai sót, bởi đoạn trích Confessions ở đây không khác mấy so với đoạn vừa nghe. Có lẽ người chép bài giảng đã nhầm.

[19] Tv 103:29-30.

[20] Dc 5:6. Ấy tức khi đã kinh nghiệm được sự thinh lặng tuyệt đối: “không một tiếng đáp”. Câu sau là ngâm thêm từ chính đoạn Diễm ca này.

[21] Mc 10:29, Ga 12:26.

[22] Tv 84:9.

[23] Ga 1:5, 11-12.

[24] Mt 10:37.

Tags: Gia Hải
favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công