favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Chesterton về Stevenson (tiếp)

08/08/2026 20:43

Tiếp tục Robert Louis Stevenson (1927), Chương IX.

 

Triết lý của điệu bộ

Ở những chương trước, ta đã vài lần đề cập đến sự công bằng hay bất công của một phản ứng được cho là chống lại Stevenson. Rất ít hoặc hầu như không có gì nói về thành công hay thất bại của phản ứng ấy, ít nhất là bởi hai lý do. Thứ nhất, những dự đoán về xu hướng tương lai thường không chính xác, bởi chúng dựa trên một ngụy biện rất hiển nhiên. Những dự đoán ấy luôn ngụ ý rằng thị hiếu công chúng sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện tại - điều chúng ta biết chắc chắn là không phải. Một thứ đi theo những đường cong duỗi tung ra có thể kết thúc ở bất cứ đâu; nhưng việc biến mỗi đường cong thành một đường thẳng hướng vào khoảng không dẫu sao đi nữa cũng là sai lầm. Điều này hiển nhiên, ngay cả trong lịch sử còn tương đối ngắn của tiểu thuyết hiện đại. Người thời Victoria có một trò chơi trong phòng khách là so sánh Dickens và Thackeray; nhưng họ sẽ rất ngạc nhiên khi nghe thấy những người trẻ tuổi hiện đại tuyên bố rằng Thackeray ủy mị hơn nhiều so với Dickens. Họ sẽ kinh ngạc trước sự hồi sinh của Trollope, đi kèm với sự lãng quên tương đối Thackeray. Đối với những người đứng đắn nhất vào thời Victoria, Trollope là một cái tên cho sự tầm thường. Họ hẳn cũng cảm thấy hệt như chúng ta nếu chúng ta được ai đó bảo cho rằng văn chương Charles Garvice sẽ còn sống lâu hơn John Galsworthy. Một thiên tài vĩ đại có thể cải trang dưới bất kỳ hình dạng nào, kể cả cải trang thành một tiểu thuyết gia thành công. Lý do thứ hai khiến tôi từ bỏ cái áo choàng của nhà tiên tri và khước từ mọi thắc mắc về tương lai, đó là bởi tôi không nghĩ đó là chuyện quan trọng. Có các nhà văn xuất sắc trong quá khứ cũng như hiện tại, những người chỉ được đọc rất ít, và tôi không cho rằng người ta đã biết hết về họ, chỉ đơn thuần vì họ chưa từng được biết đến. Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại mù quáng nghi ngờ sự nổi tiếng và mù quáng tin tưởng vào hậu thế. Nhưng có lẽ một vài điều kiện để tồn tại có thể được xem xét tổng quát.

Danh tiếng của Stevenson trong tương lai sẽ đứng vững hay chìm nghỉm tùy thuộc vào sự yếu hay mạnh của một luận điểm cụ thể. Có lẽ điều đó đã được diễn đạt rất súc tích bởi một nhà phê bình buộc tội ông về “tính chất bề ngoài.” Điều mà ông ta gọi là lỗi của tính chất bề ngoài ấy, tôi thiên về việc quy cho đó là ảo tưởng của nội tại luận. Có lẽ sẽ dễ nhận ra hơn nếu tôi gọi đó là ngụy biện của “tâm lý học.” Đó là điều quan niệm rằng một tiểu thuyết nghiêm túc phải tự giới hạn mình vào bên trong cái đầu con người. Tiểu thuyết của Stevenson thì đầy ắp kịch câm [pantomime]; theo nghĩa chặt chẽ của hành động và cử chỉ sống động. Và đúng là cứ như thể các nhà phê bình, bằng một kiểu chơi chữ hay cố tình xuyên tạc nghĩa, đã liên tưởng nó tới những điệu bộ khua khoắng tay chân lối trẻ con; dẫu cho chính Stevenson hẳn sẽ là người cuối cùng phản đối điều ấy. Dù sao đi nữa, cái ý cho rằng tiểu thuyết trí tuệ chỉ nên liên quan đến trí tuệ cô độc và không mở ra thì đúng là ảo tưởng. Có thể nói chắc chắn rằng chúng ta có thể nhìn thấy những gì ở bên dưới; nhưng chẳng thể nói rằng chúng ta không thấy được những gì trên bề mặt. Càng không hợp lý khi nói rằng không thể tin vào đó chỉ vì đã nổi lên bề mặt, dẫu nó có to khủng khiếp như một con cá voi. Thật vậy giọng điệu ấy gợi đến một số kẻ hoài nghi ngụ ý rằng các thủy thủ không nên nghĩ là họ đã thấy một con rắn biển khổng lồ khi họ trông thấy nó dài tới một phần tư dặm. Thế nên chúng ta hoàn toàn có thể lập luận rằng những điều thuộc về tâm lý lại kém phần có tính tâm lý chỉ bởi chúng hiện ra trên bề mặt ở dạng kịch câm. Lập luận này tương đương với việc bảo rằng một bộ máy đồng hồ chỉ thực tồn tại khi cái đồng hồ ấy ngưng chạy. Và quả thật tôi cho rằng các nhà phê bình ấy sẽ xem hành động của một cái đồng hồ khi kim nó cứ quay vòng như thế là một thứ khoa chân múa tay ngoại lai đầy xúc phạm. Như thế cũng giống như nói rằng một đầu máy hơi nước chỉ là đầu máy hơi nước khi nó im lìm, hoặc rằng một tòa nhà nổ tung với một tiếng ồn khủng khiếp là bằng chứng dứt khoát cho thấy nó không phải là một kho thuốc súng.

Thật vậy, xét về khía cạnh này, các nhà phê bình thuộc về tâm lý học thậm chí còn thụt lùi cả trong tâm lý học. Những người như vậy thường cảm thấy đau khổ vì lạc hậu hơn là vì chống lại sự thực; và trong trường hợp này có vẻ như họ có đủ hai thứ ấy. Sự phản bác đối với ảo tưởng về nội tại luận của họ là vô nghĩa khi chỉ nghĩ đến các ý nghĩ mà bỏ qua lời nói hay hành động, vì lời chỉ là những suy nghĩ được nói ra và hành động là lời được thực hiện.  Thực tế chúng là những lời và những ý nghĩ chiếm ưu thế nhất; các ý nghĩ trội hơn cả. Nhưng, theo như “tâm lý học thời thượng nhất” (với thẩm quyền bất biến và bất khả xâm phạm), lại còn sai lầm hơn nữa khi chỉ nhìn vào bề mặt quá hời hợt. Hành động không chỉ là những ý nghĩ chóng vánh nhất; chúng thậm chí còn quá nhanh để mà gọi là ý nghĩ. Chúng xuất phát từ một điều gì đó cơ bản hơn cả tư duy thông thường hoặc có ý thức. Tiềm thức của chúng ta thể hiện qua hành động nhiều hơn là lời, hay thậm chí cả ý nghĩ. Chính tiềm thức của chúng ta cắn móng tay hay vuốt ria mép, đá gót hay nghiến răng. Theo một số người, thậm chí chính cái tiềm thức ấy (người đồng hành vui vẻ) đôi khi cắt cổ bà mẹ hay móc túi ông bố. Tôi không quá mức coi trọng thứ tâm lý học thời thượng ấy đến thế; nhưng bất kỳ yếu tố sự thật nào trong đó cũng đều trái ngược lại với giọng điệu của những người gần đây phê bình Stevenson hay chống Stevenson. Việc đánh giá một tác phẩm hư cấu tốt, dẫu là theo thứ tiêu chuẩn nào đi nữa, thì hoàn toàn không phải là xem nó có theo đuổi những dòng suy nghĩ trong im lặng hay không, không phải là xem nó có mang tính chủ quan hơn là khách quan hay tránh né bất kỳ kết cục bạo lực nào trong các sự việc hay không. Vấn đề chỉ đơn giản là nó có đúng hay không; tâm lý học ở đó có đúng không và hành động thể hiện ra có đúng không. Trong tâm lý học, cũng như bất kỳ khoa học nào khác, người ta không thể nào làm nhiều hơn đúng được. Và ngay cả nhà phê bình cay nghiệt nhất cũng sẽ rất khó mà chỉ ra được rằng Stevenson thường xuyên sai. Điều mà nhà phê bình cay nghiệt có thể cho thấy, và như thế họ chỉ càng thêm cay nghiệt, là Stevenson đã thể hiện mọi thứ qua các hành động kịch tính. Và, theo các nhà phê bình ấy, bất kỳ thứ gì kịch tính đều là kịch mê-lô. Vẻ ủ ê nghiền ngẫm và khổ sở lối tự cho mình quan trọng rất trẻ con của David Balfour trong cuộc cãi vã duy nhất với Alan Breck Stewart [hai nhân vật trong KidnappedCatriona của Stevenson] được miêu tả tinh và chính xác sánh ngang được với George Meredith, người vô cùng giỏi xử lý bọn trẻ con; chúng cũng rất dễ lẫn với những ủ ê của Evan Harrington hay Harry Richmond [các nhân vật trong The Adventures of Harry Richmond của George Meredith]. Chỉ có điều trong câu chuyện của Stevenson, những tình cảm ấy kết thúc (than ôi!) bằng những lưỡi gươm vung lên và rồi Alan quẳng thanh gươm của mình đi; và chuyện ấy, đương nhiên, kịch tính lối mê-lô vô cùng. Người ta không thể có tâm lý phức tạp một khi đã đeo gươm được; và dòng suy nghĩ không thể tuần tự diễn ra dưới một cái mũ ba góc. Khoảng thời gian hạnh phúc trong tình trạng què quặt và gần như mất trí của Henry Durie, khi người anh trai tạm thời biến mất và đứa con của anh lớn lên dưới ánh mặt trời [các nhân vật trong The Master of Ballantrae], cũng cảm động và chân thực hệt như bất kỳ khoảng thời gian sáng suốt nào (nếu đúng là có lúc nào như thế) trong tình cảnh trì trệ vùng ngoại ô của trường phái George Gissing. Chỉ đến khi thiên đường của tên ngẫn biến mất, bởi một lời vu vơ về sự lệch lạc có thể xảy ra nơi đứa trẻ, thì mới không thể phủ nhận rằng Henry Durie rớt xuống đất như một cục đá. Vậy mà nhà phê bình sâu sắc lại đi giải thích rằng một người như vậy không thể có bất kỳ cảm xúc nội tâm thực sự nào, trong khi cảm xúc nội tâm của anh ta đủ mạnh để đánh gục anh ta. Hành động vị tha tăm tối, nhọc nhằn và gần như theo lối tự động của Herrick khống khổ giữa mớ hỗn độn những bội phản của hắn trong The Ebb-Tide cũng buồn và chân thực như bất kỳ con người hiện đại khốn khổ nào. Nhưng rồi Herrick nhảy xuống biển với một cú nước bắn tung tóe khủng khiếp; dẫu lẽ ra hắn nên lấy lòng nhà phê bình hiện đại bằng cách rốt cuộc không làm gì hết, ngay cả khi lối sùng bái tự sát đang rất mắn đẻ. Những lời lảm nhảm của cô gái Kirstie [trong Weir of Hermiston] về hồi ức, những giấc mơ ban ngày và những cãi vã tưởng tượng của các tình nhân, khi cô đi nhà thờ về, thì cũng hoàn toàn đúng với những hoạt động trong tâm trí một người trẻ đa cảm hệt như bất kỳ sắc thái phụ nữ tinh tế nào trong tiểu thuyết của Henry James. Nhưng rồi người ta không thể mong đợi nhà phê bình tha thứ cho cô ta vì đã hơi nhún nhảy một chút khi bước đi trên phố. Không có phụ nữ nào trong tiểu thuyết của Henry James từng nhún nhảy. Chính bởi các trường hợp mà một số chuyển động bên ngoài làm nổi bật tâm trạng bên trong như vậy mà các nhà phê bình cảm thấy rằng chúng không thể nào quá sâu sắc được. Cần lưu ý rằng các nhà phê bình này không tự mình đưa ra một lời phủ nhận rõ ràng; họ không khẳng định rằng các nhân vật nhắc đến ấy sẽ không được độc giả cảm thấy đúng như những gì được mô tả; họ thậm chí còn không nói rằng các nhân vật kia không được hành động như những gì được mô tả; rằng David sẽ không được chiến đấu, Durie không được ngã hay Kirstie không được nhảy cẫng lên trên phố. Họ chỉ đơn giản đưa ra một cảm giác tinh tế và sâu sắc rằng tiểu thuyết có tính tâm lý chỉ nên đề cập đến, hoặc chủ yếu gồm, những lời không nói ra hoặc những ý nghĩ chưa hoàn chỉnh. Đó là một quan điểm rất thú vị; và thật hay khi được nêu lên rõ ràng và dễ hiểu như thế. Nếu Stevenson chỉ đóng vai trò là cái cớ để trình bày luận điểm thú vị này, họ có thể cảm ơn ông và thậm chí tự kiềm chế để tỏ ra lịch sự với ông. Dù sao thì đó có vẻ là nguyên tắc của họ; và tôi đã dừng lại đủ lâu để cho thấy rằng tôi không muốn bỏ qua nó. Chỉ là tôi xin phép được nói rằng sự bất bình của họ chẳng phải là với Stevenson; chắc chắn sự bất bình ấy chẳng phải là với mỗi Stevenson. Đó còn là với Homer và việc uốn cong cây cung; đó là với Hamlet và cú nhảy xuống mộ; đó là với Francesca đánh rơi cuốn sách hay với việc Don Quixote lao vào cối xay gió; đó là với Henry đội vương miện hay Anthony cởi mũ sắt ra; đó là với Roland ở Roncesvauz, thổi tù và và bẻ gãy thanh gươm và giơ găng tay lên trước Chúa. Sự bất bình ấy nằm trong tất tật các lực sử thi vốn đã mang lại cho câu chuyện cuối cùng và phần tiếp theo của nó danh hiệu cao quý của Bài ca Hành động - Chansons de Geste.

Trong số rất nhiều những chống đối vô lý sự lãng mạn của Stevenson, tôi thừa nhận rằng có một lời phản đối hợp lý có thể nêu ra được ở đây. Có thể nói rằng ông mắc lỗi về vẻ bề ngoài theo nghĩa này; rằng đôi khi ông bắt đầu với những nét bên ngoài, trong chừng mực mà ông nhìn thấy trong một xen hay một bối cảnh nào đó một gợi ý, đúng hơn là một khơi gợi lãng mạn. “Một vài khu vườn ẩm thấp đòi hỏi vụ giết người,” ông đã nhận xét rất đúng; và ông thường bị thôi thúc thực hiện vụ sát nhân ấy cách gián tiếp thông qua văn chương. Đôi khi ông muốn, ông nói vậy, gán cho mỗi nơi như thế huyền thoại thích đáng của nó. Thoạt nhìn thì người ta có lý để phản đối điều ấy; nhưng xét theo một nghĩa sâu hơn và nhiều cảm thông hơn, tôi không thấy nó mâu thuẫn với những gì tôi đã nói về nguồn cảm hứng dồi dào nơi các điệu bộ hay sự cân nhắc kỹ lưỡng của công việc thủ công. Điều đó chỉ đơn giản có nghĩa là ngay từ đầu, trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào giống như thế, đã có sự thống nhất về tâm trạng đã luôn ở đó. Như thế nghĩa là ông đã xác định viết loại tiểu thuyết nào, trước khi ông quyết định viết cuốn tiểu thuyết nào; và như vậy thì đúng và không thể tránh khỏi. Khu vườn ẩm thấp kia không thể ngay lập tức gào lên đòi hỏi, bằng những lời lẽ đại loại như, “ở chỗ này tay giám hộ nham hiểm có một con mắt to hơn mắt còn lại đã chôn thanh đoản gươm của lão thủy thủ già mà hắn đã dùng để giết tay đô đốc độc ác khủng khiếp nhưng không ai biết kia, kẻ thực ra chính là anh trai hắn.” Không có khu vườn ẩm thấp nào lại tự biểu đạt chính xác như thế khi kêu gào với bất kỳ ai; nhưng điều đó không làm giảm đi sự thật rằng đúng là vẻ ảm đạm và đúng là bề ngoài hỗn loạn ấy đã gợi lên, không chỉ một vụ giết người tầm thường, mà là một vụ giết người mang những điểm đặc biệt thiếu tự nhiên và vô cùng kỳ lạ. Điều này không chứng tỏ rằng đó không phải là những cảm xúc sâu sắc trỗi dậy khi nhìn thấy phong cảnh kỳ lạ và dò dẫm tìm những hình ảnh thích hợp về sự diệt vong. Nó chỉ cho thấy rằng nguồn của câu chuyện cũng giống như nguồn của một bài thơ. Người ta có thể gọi Stevenson là một nhà thơ văn xuôi, nếu muốn; nhưng không thể gọi ông là một nhà văn hời hợt, trừ phi tất tật các nhà thơ đều hời hợt.

Tôi sẽ còn nói đến ở chỗ khác rằng theo một nghĩa kỹ thuật cụ thể mà cách của Stevenson có thể được xem là một cách xử lý mỏng hoặc bẹt. Cũng theo nghĩa ấy, một món đồ sắt trang trí có thể được xem là thanh hoặc mảnh, hoặc xem cách Whistler sử dụng các mảng màu đơn sắc chỉ đơn thuần là bẹt. Có những khuyết điểm, ngay cả khi xem đó như một xử lý kỹ thuật; có một nỗi ác cảm nghệ thuật đối với những chạm trổ trang sức; và rất nhiều người vẫn khăng khăng rằng các mảng màu của Whistler quá nhạt nhẽo. Nhưng điều cốt yếu là không được lẫn lộn ý phê bình văn chương kia với những gợi ý tôi vừa nêu lên; tức là không theo nghĩa khiến những mẫu trang trí hay tranh trở nên nông cạn và kém sâu sắc. Đó là một vấn đề khác và hoàn toàn không liên quan đến câu hỏi về hình thức ưa chuộng của chúng ta; và, dẫu hình thức mà Stevenson ưa chuộng đôi khi hơi quá hoa mỹ, không có gì ở đó vô vị hay chỉ thuần là đạo đức ủy mị. Ngược lại, ông bị thu hút rất nhiều vào những chủ đề đạo đức khó và phức tạp, và thích tự đặt ra cho bản thân câu đố về những quan hệ khả dĩ của tâm hồn con người. Chỉ là ông thích để cho tâm hồn con người đi đến một kết luận nào đó và công bố kết luận ấy theo cách nào đó. Bởi vậy mà có tất tật những tín hiệu đột ngột và sự rời bỏ thể xác kia, mà những người nhạy cảm vô vàn nuối tiếc; bởi vậy mà có đồng xu bị quẳng qua cửa sổ ở Durrisdeer; cái đàn bango bị ném vào lửa trên đảo Midway; con dao cắm vào cột buồm hay viên kim cương bị ném xuống sông. Tóm lại, các câu chuyện của Stevenson thường là các câu chuyện nêu vấn đề, theo phong cách của những vở kịch nêu vấn đề. Nhưng vì một điểm yếu mà ông đã tự loại mình khỏi nhóm những tác giả thực sự có óc thực tế và chân thành của các vở kịch nêu vấn đề hay các tiểu thuyết nêu vấn đề. Điểm yếu của ông là ở chỗ thích giải quyết vấn đề.

Trong ưu điểm lại có một nhược điểm; và đó chính là nhược điểm mà ông thường bị buộc tội. Ông bị gọi là người tự ý thức; và trong các tác phẩm của mình có lẽ ông đã hơi quá tự ý thức, so với vài nhà văn khác, ở đó các thôi thúc cơ bản hoặc thậm chí đã bị lãng quên được cho phép tuôn ra một cách tự động và có lẽ tự nhiên hơn nhiều. Nhưng những điều này là vấn đề của mức độ và sự cân bằng; và người ta có thể cho rằng loại đối lập mới trở nên thiếu cân bằng. Đi khắp thế giới ngày nay, tôi không chắc mình ít thích có ý thức hơn là vô thức. Stevenson cảm thấy một trách nhiệm trong nghệ thuật cũng giống như trách nhiệm sống động và gần như theo nghĩa không lành mạnh của ông trong hành vi. Những vấn đề về hành vi của ông quả có hơi hỗn loạn; và cách giải quyết về mặt đạo đức trong những hành vi ấy có lẽ hơi tài tử. Giống như Ibsen, Bernard Shaw và rất nhiều những người cùng thời, ông chưa hoàn toàn nhận ra sự cần thiết thực tiễn đầy cấp bách của việc có một quy tắc chung, nếu không hẳn thế giới sẽ trở thành một mớ hỗn độn các ngoại lệ. Nhưng ông vô cùng quan tâm đến giải pháp đạo đức đúng dẫu cho nó là gì đi nữa, ngay cả khi nó có vẻ nhất thiết phải đảo ngược một quy tắc đạo đức. Và ý thức trách nhiệm xã hội này hoàn toàn chân thành, ngay cả khi lời biện hộ có lẽ hơi quá cá nhân để mang tính xã hội. Có lẽ là rất tự nhiên đối với một tiểu thuyết gia, việc cảm thấy rất sâu sắc và mãnh liệt về trường hợp cá nhân cụ thể. Dẫu sao đi nữa, tôi nghĩ ông thường làm vậy; giống như Loudon Dodd trong The Wrecker, khi hắn cân nhắc về thuốc phiện và Jim. Ông chắc chắn rất quan tâm đến loại vấn đề như thế. Henley gọi ông là một người dạy giáo lý; nhưng đáng lẽ nên gọi ông là một nhà ngụy biện thì hơn. Ông thừa nhận rằng có một sự cảm thông đầy khiếm khuyết với đức tin Công giáo; và ông có lẽ vẫn còn khá thiển cận để cảm thấy một nỗi kinh hãi với Dòng Tên; nhưng thực tế,  ông giỏi ngụy biện hơn bất kỳ một tu sĩ Dòng Tên nào. Ông không rạch ròi lắm về các giáo điều phổ quán khởi đầu cho một cuốn sách giáo lý, ngay cả với một cuốn rút gọn. Nhưng ông lại vô cùng quan tâm về các trường hợp khi nghĩa phổ thông của những học thuyết ấy dường bị thách thức bởi một nhu cầu đặc biệt. Bởi vậy chúng ta có thể nói rằng trong cuộc sống và trong văn chương, về bản chất ông là một người có lương tâm. Và một người có lương tâm được cho là một người ý thức, đôi khi có lẽ là một người tự ý thức. Ông đã phạm rất nhiều tội ác gián tiếp trong các quyển sách của ông; và cung cấp hàng loạt xác chết cho nhà xuất bản theo đúng phong cách của những nhà văn viết truyện giật gân. Nhưng những cái chết trong tiểu thuyết của ông có sự tinh tế và nét riêng biệt của các vụ giết người; không chút thô tục hay bạo lực của thảm sát hàng loạt. Trong một tình tiết duy nhất trong truyện của ông có thể được coi là một vụ thảm sát, cuộc tàn sát thủy thủ đoàn cũ của tàu Flying Scub bởi Wicks và đồng bọn [tiểu thuyết The Wrecker], toàn bộ nỗi kinh hoàng của vụ việc nằm ở tính cá nhân cực độ. Nó nằm ở sự thật rằng những người kia phải bị giết từng người một; và cuộc thảm sát ấy là một chuỗi những vụ giết người. Ông thậm chí, trong thư từ trao đổi, còn vui vẻ nói về cái bẫy đẫm máu mà Henry Durie giăng ra cho anh trai, rằng đó là “một vụ giết người tuyệt đối máu lạnh mà tôi mong độc giả cũng chờ đợi và tán thành.” Nhưng ngay cả ở đây người ta cũng sẽ nhận thấy rằng ông đã dự định một điều gì đó và đã nói rõ là như thế, vậy thì cũng máu lạnh không kém tên sát nhân. Nhưng ít nhất ông chẳng hề phạm tội giết người mà không hề biết, giống như những tên tội phạm và kẻ loạn óc hành động vô thức trong các tác phẩm hư cấu hiện đại. Ông không đồng cảm với những anh hùng gần đây dường rất quyến rũ và tráo trở, thậm chí còn đâm chém loạn xạ trong một cơn mất trí kéo dài. Chưa từng có, đối với ông và với các nhân vật của ông, một lối đi tắt thuận tiện như thế của tiềm thức hay hành động tự động, mà qua đó một thứ gì chẳng phải là chính bản thân chúng ta (và tạo ra sự vô lý) có thể thoát khỏi hầm ngục mà xổng ra đường. Có lẽ đó là một khiếm khuyết; trong toàn bộ cuộc đời và tác phẩm của ông hoàn toàn vắng mặt sự mất trí.

(…) Đến lúc này cần thấy rằng tầm quan trọng của Stevenson phần lớn nằm ở mối quan hệ của ông với xu hướng của thời đại ông. Xu hướng ấy hướng tới một duy vật luận thần bí ở mức nhất định, mà biểu hiện giáo điều nhất của nó chính là cái gọi là nhất nguyên luận; nhưng nó có thể được diễn đạt nhẹ nhàng hơn dưới hàng trăm hình thức, chẳng hạn như tất cả sự sống đều là một, hoặc mọi thứ đều có tính di truyền và phủ khắp xung quanh, hoặc cái phi cá nhân cao hơn cái cá nhân, hoặc con người sống theo bản năng bầy đàn hoặc theo tinh thần của tổ ong. Cha ông chúng ta gọi bầu không khí phổ quát là định mệnh luận; nhưng giờ đây có vô vàn những cái tên duy tâm hơn. Stevenson cảm thấy được tất tật những điều ấy, mà không xác định nó một cách cụ thể; ông cảm thấy nó trong thực tại luận của văn chương thế kỷ 19, trong tính yếm thế của thơ đương đại, trong sự rụt rè của các biện pháp phòng ngừa vệ sinh, trong vẻ tự mãn nơi sự đồng nhất của tầng lớp trung lưu. Và trong khi ông hoàn toàn thuộc về thời đại và xã hội ấy, trong khi ông đọc tất tật các nhà văn hiện thực, biết tất tật mọi nghệ sĩ, nghi ngờ cùng những người nghi ngờ và thậm chí chối bỏ cùng với những kẻ chối bỏ, ông vẫn còn một điều gì đó bên trong không thể không bùng phát thành một kiểu phản kháng nhiệt thành cho những điều cá nhân và thi vị hơn. Ông dang rộng vòng tay với một cử chỉ rộng và mù quáng, như một người sẽ tìm thấy đôi cánh vào khoảnh khắc thế giới chìm xuống dưới chân mình.

Công Hiện dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công