Arthur Schnitzler: Mộng Khúc (chương 2)
2
KHI Fridolin ra đến phố, chàng mở cúc áo khoác. Trời đột nhiên bắt đầu tan băng; tuyết trên vỉa hè gần như đã tan mất, và trong không khí đã thoảng chút hơi xuân. Chỉ mất chưa đến mười lăm phút đi bộ từ nhà chàng ở gần Bệnh viện Đa khoa đến phố Schreyvogel, và chàng đã sớm đến được ngôi nhà cũ. Chàng bước lên cầu thang xoắn ốc tù mù đến tầng hai rồi kéo dây chuông. Nhưng trước khi chiếc chuông cổ kịp vang lên, chàng nhận thấy cửa khép hờ, và khi bước qua tiền sảnh tối om vào phòng khách chàng lập tức nhận ra rằng mình đã đến quá muộn. Chiếc đèn dầu chụp xanh treo từ trần nhà thấp toả ánh sáng mờ lên tấm mền, bên dưới là một tấm thân gầy guộc nằm bất động. Fridolin đã quá quen thuộc với ông lão đến nỗi chàng dường như nhìn thấy rõ khuôn mặt ông mặc dù nó nằm ngoài quầng sáng – vầng trán cao, đôi má gầy hằn nếp nhăn, bộ râu trắng như tuyết và cả đôi tai xấu xí với những sợi lông trắng thô cứng. Ở cuối giường là Marianne, con gái ngài Cố vấn, ngồi đó kiệt sức hoàn toàn, hai cánh tay buông thõng từ đôi vai. Mùi đồ đạc cũ, thuốc men, dầu hoả và thức ăn lan tỏa khắp căn phòng, cộng thêm một chút mùi nước hoa và xà phòng thơm. Fridolin cũng nhận ra mùi hương thoang thoảng, ngọt ngào của cô gái xanh xao này, người vẫn còn trẻ và đã dần tàn phai qua nhiều tháng và nhiều năm dưới áp lực của việc quán xuyến gia đình, chăm bệnh và gác đêm.
Khi bác sĩ bước vào nàng ngước lên, nhưng bởi ánh sáng mờ ảo nên chàng không thể nhìn ra liệu nàng có đỏ mặt, như thường lệ, khi chàng xuất hiện hay không. Nàng định đứng dậy, nhưng chàng ngăn lại bằng một cử chỉ, vì thế nàng chỉ chào hỏi bằng một cái gật đầu, đôi mắt mở to và buồn bã. Chàng bước đến đầu giường và theo quán tính đặt tay lên trán người chết rồi lên cánh tay đang nằm trên tấm mền trong tay áo sơ mi rộng và mở khuy. Vai chàng trĩu xuống với một thoáng tiếc nuối. Chàng đút tay vào túi áo khoác và ánh mắt đảo quanh phòng cho đến khi dừng lại ở Marianne. Mái tóc nàng vàng hoe và dày, nhưng khô cứng; cổ nàng cân đối và thon gọn, dù đã hơi nhăn nheo và ngả vàng; còn đôi môi nàng mỏng và mím chặt.
"Chà, Marianne thân mến của tôi," chàng thì thầm với vẻ hơi sượng sùng, "dẫu sao em cũng không hoàn toàn bất ngờ cho chuyện này."
Nàng chìa tay ra cho chàng. Chàng nắm lấy với vẻ cảm thông rồi hỏi về những chi tiết của cơn phát bệnh chí tử cuối cùng. Nàng kể ngắn gọn và đúng trọng tâm, rồi nói về những ngày cuối đời tương đối dễ chịu của cha mình, quãng thời gian mà Fridolin đã không đến thăm ông. Kéo một chiếc ghế lại, chàng ngồi xuống đối diện nàng và cố gắng an ủi bằng cách nói rằng cha nàng hẳn đã không phải chịu nhiều đau đớn trong những ngày cuối đời. Sau đó, chàng hỏi liệu có người thân nào của nàng đã được báo tin chưa. Vâng, nàng đáp, người quản gia đã đi báo cho chú nàng rồi, và rất có thể Đốc tờ Roediger sẽ sớm đến. "Vị hôn phu của em," nàng nói thêm, và không nhìn thẳng vào mắt chàng.
Fridolin chỉ gật đầu. Trong năm đó chàng đã gặp Đốc tờ Roediger hai hoặc ba lần tại nhà ngài Cố vấn. Chàng trai trẻ xanh xao – một giảng viên Lịch sử tại Đại học Vienna – có vóc dáng mảnh khảnh khác thường cùng bộ râu ngắn màu vàng và cặp kính, và đã tạo ấn tượng khá tốt với chàng, tuy nhiên, không khơi dậy sự quan tâm nào hơn thế. Marianne hẳn sẽ trông đẹp hơn, chàng nghĩ thầm, nếu nàng là tình nhân của mình. Tóc nàng sẽ bớt khô hơn, môi nàng sẽ mọng và đỏ hơn. Ta không biết nàng bao nhiêu tuổi, chàng tự hỏi. Lần đầu tiên ta đến nhà ngài Cố vấn, ba hay bốn năm trước, nàng hai mươi ba tuổi. Khi ấy mẹ nàng vẫn còn sống và nàng tươi vui hơn bây giờ. Nàng thậm chí còn học thanh nhạc một thời gian. Vậy là nàng sắp kết hôn với anh giảng viên này! Ta tự hỏi tại sao? Nàng chắc hẳn không yêu anh ta, và anh ta hẳn cũng không có nhiều tiền. Cuộc hôn nhân ấy sẽ thành ra thế nào? Có lẽ cũng giống như hàng ngàn cuộc hôn nhân khác. Nhưng đó không phải việc của ta. Rất có thể ta sẽ không bao giờ gặp lại nàng, vì chẳng còn việc gì để ta làm ở đây nữa. Chà, nhiều người mà ta từng quan tâm cũng đã đi theo con đường ấy rồi.
Trong khi những suy nghĩ ấy thoáng qua tâm trí chàng, Marianne bắt đầu nói về cha mình – với sự tha thiết – như thể cái chết đã đột nhiên biến ông thành một người đáng kể hơn. Vậy ra ông thực sự mới chỉ năm mươi tư tuổi ư? Chà, dĩ nhiên, ông ấy đã có biết bao lo toan và thất vọng – vợ ông luôn đau ốm – và con trai ông là một nỗi khổ! Cái gì, nàng có một người anh trai sao? Chắc chắn rồi, nàng đã từng kể với bác sĩ về anh ta. Anh trai nàng hiện sống đâu đó ở nước ngoài. Một bức tranh anh vẽ năm mười lăm tuổi đang treo trong phòng Marianne. Bức tranh vẽ một sĩ quan đang phi ngựa xuống đồi. Cha nàng luôn giả vờ như không nhìn thấy nó mặc dù nó không tệ. Ồ vâng, nếu có cơ hội anh trai nàng hẳn đã có thể làm nên điều gì đó.
Nàng nói thật kích động làm sao, Fridolin nghĩ, và đôi mắt nàng thật sáng! Là sốt chăng? Rất có thể. Nàng đã gầy đi nhiều. Có lẽ là bị lao phổi.
Nàng tiếp tục tuôn lời, nhưng chàng có cảm giác nàng không thực sự biết mình đang nói gì. Đã mười hai năm kể từ khi anh trai nàng bỏ nhà. Thực tế, nàng vẫn còn là một đứa trẻ khi anh biến mất. Họ lần cuối nghe tin từ anh bốn hay năm năm trước, vào dịp Giáng sinh, từ một thành phố nhỏ ở Ý. Lạ lùng thay, nàng đã quên mất tên thành phố đó. Nàng cứ tiếp tục như vậy một lúc, gần như rời rạc. Đột nhiên nàng dừng lại và ngồi im lặng, đầu gục vào hai tay. Fridolin mỏi mệt và càng thêm chán nản. Chàng nóng lòng chờ đợi ai đó đến, người thân của nàng, hoặc vị hôn phu của nàng. Sự im lặng trong phòng thật ngột ngạt. Chàng có cảm giác như người chết cũng tham gia vào sự im lặng ấy, một cách cố ý và đầy ác ý.
Liếc nhìn thi thể, chàng nói: "Dù sao thì, Cô Marianne à, với tình hình hiện tại, thật may là em sẽ không phải ở lại ngôi nhà này lâu hơn nữa." Và khi nàng hơi ngẩng đầu lên, tuy vậy, không nhìn Fridolin, chàng tiếp tục: "Tôi nghĩ vị hôn phu của em sẽ sớm được phong giáo sư. Cơ hội thăng tiến ở Khoa Triết thuận lợi hơn ở Khoa Y chúng tôi." Chàng nhớ rằng, nhiều năm trước, chàng cũng từng khao khát một sự nghiệp học thuật, nhưng vì muốn có thu nhập dư dả, chàng cuối cùng đã quyết định hành nghề y. Đột nhiên chàng cảm thấy rằng so với Đốc tờ Roediger cao quý này, chàng mới là kẻ thấp kém.
“Chúng em sẽ sớm chuyển đi,” Marianne uể oải nói, “anh ấy đã có một vị trí tại Đại học Göttingen.”
“Ồ,” Fridolin đáp, và định chúc mừng nàng nhưng vào lúc này điều đó dường như không hợp lý lắm. Chàng liếc nhìn cửa sổ đóng kín, không xin phép mà viện đặc quyền của một bác sĩ, chàng mở hai cánh cửa để không khí tràn vào. Trời đã trở nên ấm áp hơn và phảng phất hơi xuân, và làn gió dường như mang theo hương thơm thoang thoảng từ những cánh rừng xa xôi đang thức giấc. Khi quay vào phòng, chàng thấy đôi mắt Marianne nhìn chàng với vẻ dò hỏi. Chàng tiến lại gần nàng và nói: “Tôi hy vọng không khí trong lành sẽ tốt cho em. Trời đã khá ấm rồi, và đêm qua”—chàng định nói: chúng tôi đã lái xe về nhà từ buổi dạ hội hóa trang trong một trận bão tuyết, nhưng chàng nhanh chóng đổi ý và tiếp lời: “Đêm qua tuyết vẫn còn phủ trên đường phố và dày đến nửa mét.”
Nàng hầu như không nghe thấy chàng nói gì. Mắt nàng ướt nhoà, những giọt lệ lớn lăn dài xuống má và một lần nữa nàng vùi mặt vào hai bàn tay. Gần như ngoài ý muốn, chàng đặt tay lên đầu nàng, vuốt ve. Chàng cảm nhận thân thể nàng bắt đầu run lên, và những tiếng nức nở thoạt tiên còn rất khẽ, dần trở nên rõ hơn và cuối cùng gần như không kìm nén nổi. Bất chợt nàng trượt khỏi ghế và sụp dưới chân Fridolin, ôm lấy đầu gối chàng bằng hai tay và áp mặt vào đó. Rồi nàng ngước nhìn chàng với đôi mắt mở to, hoang dại vì đau khổ, và thì thầm tha thiết: "Em không muốn rời khỏi đây. Dẫu cho anh không bao giờ trở lại, dẫu cho em không bao giờ gặp lại anh nữa, em cũng muốn, ít nhất, được sống gần anh."
Chàng xúc động hơn là ngạc nhiên, vì chàng đã luôn biết rằng nàng yêu chàng, hoặc tưởng rằng mình yêu chàng.
"Xin em—đứng lên đi, Marianne," chàng nói khẽ và cúi xuống dịu dàng đỡ nàng dậy. Dĩ nhiên nàng đang lên cơn thần kinh, chàng tự nhủ và liếc nhìn người cha đã chết của nàng. Ta không biết ông có nghe thấy mọi thứ không, chàng nghĩ. Có lẽ ông chưa thực sự chết. Có lẽ mọi người trong những giờ đầu sau khi qua đời, chỉ rơi vào cơn hôn mê. Chàng vòng tay ôm lấy nàng trong một cái ôm đầy ngập ngừng, và gần như trái với ý muốn của mình, chàng hôn lên trán nàng, một cử chỉ bằng cách nào đó lại có vẻ khá nực cười. Chàng thoáng hồi tưởng về một cuốn tiểu thuyết đã đọc nhiều năm trước, trong đó một chàng trai trẻ, gần như vẫn còn là một cậu bé, đã bị quyến rũ, thực tế gần như bị cưỡng bức, bởi người bạn của mẹ mình ngay bên giường bệnh của bà. Cùng lúc ấy chàng nghĩ đến vợ mình, không hiểu vì sao, và chàng cảm thấy một nỗi cay đắng cùng sự thù địch mơ hồ dành cho gã trai với chiếc túi xách màu vàng trên cầu thang khách sạn ở Đan Mạch. Chàng ôm Marianne gần hơn, nhưng không hề có chút cảm xúc nào. Hình bóng mái tóc xỉn màu, khô xơ của nàng, mùi hương ngai ngái, ngọt lợ từ chiếc váy bí bách của nàng đã gợn lên trong chàng một thoáng ghê sợ. Chuông ngoài cửa lại reo, và cảm giác được giải thoát, chàng vội vã hôn lên tay Marianne, như để tỏ lòng biết ơn, rồi đi ra mở cửa. Đốc tờ Roediger đứng đó, trong chiếc áo khoác màu xám đậm, tay cầm ô và gương mặt nghiêm nghị, phù hợp với hoàn cảnh. Hai người đàn ông chào nhau thân mật hơn nhiều so với mức độ quen biết thật sự giữa họ. Rồi họ bước vào phòng. Sau một ánh nhìn gượng gạo về phía người đã khuất, Roediger chia buồn với Marianne, còn Fridolin bước sang căn phòng bên cạnh để viết giấy chứng tử chính thức. Chàng vặn sáng ngọn đèn khí phía trên bàn viết và ánh mắt dừng lại nơi bức tranh người sĩ quan mặc quân phục trắng đang phi ngựa xuống sườn đồi, với thanh gươm tuốt trần, để đối đầu với một kẻ thù vô hình. Bức tranh treo trong một khung hẹp màu vàng xỉn và trông khá giống một bản in màu bình dân.
Viết xong giấy chứng tử, Fridolin trở lại căn phòng nơi cặp đôi đính ước ngồi, tay trong tay, bên giường ngài cố vấn đã khuất.
Chuông cửa lại vang lên và Đốc tờ Roediger đứng dậy ra mở cửa. Trong lúc anh đi, Marianne, mắt vẫn hướng xuống sàn nhà, khẽ nói, gần như không thể nghe được:“Em yêu anh.”, và Fridolin đáp lại bằng cách dịu dàng gọi tên nàng. Rồi Roediger trở lại cùng với một cặp vợ chồng đứng tuổi — bác trai và bác gái của Marianne — và vài lời, phù hợp với hoàn cảnh, được trao đổi, cùng vẻ gượng gạo thường thấy trước sự hiện diện của một người vừa mới qua đời. Căn phòng nhỏ bỗng chốc như chật kín những người đưa tang. Fridolin cảm thấy thừa thãi, bèn cáo từ và được tiễn ra tận cửa bởi Roediger, anh nói vài lời cảm ơn và bày tỏ hy vọng sẽ sớm gặp lại chàng.
Tâm Nguyên dịch.
