favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Xa tới đâu

06/01/2026 06:08

Những nỗi hoảng hốt của cậu học sinh Törleß, tác phẩm Debüt của Robert Musil, đem lại cho tác giả của nó sự thành công cùng danh tiếng đầu tiên, và cũng là duy nhất. Chỉ với tác phẩm đồ sộ Người không phẩm chất được viết trong suốt hơn hai mươi năm, cho đến khi ông mất nó vẫn còn dang dở, Musil mới bước ra được khỏi cái bóng của Törleß.

Giữa Người không phẩm chất Törleß là nhiều Novelle, Prosa và cả kịch nhưng đều không tạo được tiếng vang. Cả khi tập Drei Frauen được trao giải thưởng Kleist do Alfred Döblin làm chủ khảo, tình hình cũng không khả quan hơn. Từ ghi chép cá nhân và thư từ trong những năm sống lưu vong tại Thụy Sỹ người ta biết được rằng, Musil trong rất nhiều năm đã không sống được bằng những gì ông viết ra. Ông bị câu hỏi muôn thuở về tiền đày đọa. Chỉ kỷ luật tự thân là thứ duy nhất đã luôn đưa ông quay lại với bàn viết. Ở đây ta nhớ ngay đến hai nhà văn viết bằng tiếng Đức khác là RothWalser. Về khoản nhuận bút thì Roth khéo hơn cả, và eo hẹp nhất thì phải là Walser. Bộ ba Musil-Roth-Walser không nên được đọc như một sự cân xứng, lẫn cả đối xứng. Họ là những nhà văn viết bằng tiếng Đức nhưng không vẽ nên khung cảnh chỉ riêng nước Đức bị giới hạn trong phạm vi địa lý văn hóa như chúng ta ngày nay vẫn hiểu. Họ là một phần của cả một phả hệ tinh thần và thời đại.

Trong ba người họ, có lẽ Musil là Đức nhất. Chẳng cớ mà Roth ngay sau buổi gặp với Musil tại quán cà phê trong Bode-Museum đã về nói với Morgenstern rằng: Ông ấy nói như một người Áo và nghĩ như một người Đức. Còn sự nhẹ nhõm ở cái nhìn vào văn chương của ba người họ thì tăng dần từ Musil đến Walser, đặc biệt là khi đặt Törleß cạnh Jakob von Gunten, hay ngôi trường Konvikt zu W. cạnh Benjamenta.

Chất liệu cho câu chuyện về cậu học sinh Törleß, Musil gần như đã tặng không cho hai người bạn nhà văn của mình là Franz Schamann và Eduard Schick vào năm 1901 khi ông theo học ngành kỹ sư ở Stuttgart. Sau này Musil kể lại, ở tuổi 22, khi đã từ bỏ hẳn sự nghiệp nhà binh và hoàn thành việc học ngành kỹ sư, ông luôn thấy một sự không thỏa mãn trong công việc của mình, muốn bỏ việc và theo học ngành triết. Ông đọc các nghiên cứu triết học trong chính giờ làm việc và đến chiều tối khi không còn tiếp nhận thêm được nữa, ông thấy chán và khởi sự viết. Törleß được hình thành như vậy. Bản thảo được viết xong vào đầu năm 1905 và xuất bản lần đầu tiên năm 1906 với nhiều chỉnh sửa và gợi ý chính sửa từ Alfred Kerr.

Những tương đồng trong tiểu sử của Musil với các tình tiết trong Những nỗi hoảng hốt của cậu học sinh Törleß dẫn đến việc Törleß rất hay bị cho là chính Musil, cũng như câu chuyện về những gì xảy ra trong ngôi trường Konvikt zu W. đó là những gì Musil đã trải qua. Những suy luận như vậy thì thật dễ. Chính Musil luôn gạt bỏ lối dẫn dắt ấy và tự nhận, mình thuộc về phía bên kia. Văn chương không chỉ là kể lại. Với Musil văn chương không phải là miêu tả mà còn là sự diễn giải cuộc đời. Những cái nhìn về khía cạnh dự báo về sự tuân phục độc tài, về sự bình thường hóa và trừng phạt nửa vời dành cho các vi phạm kỷ luật, đạo đức, điều tưởng là không tồn tại trong một thể chế trọng kỷ cương như đế chế Habsburg; về dục vọng giới tính ở những cậu con trai mới lớn bị tách khỏi gia đình quá sớm và bị nhét vào một môi trường khắc nghiệt nơi mỗi lớp học là một đất nước riêng, về cả những ẩn ức tâm lý; tất tật chúng tựu chung lại đã lấn át cái nhìn về một quá trình đang diễn ra trong Törleß, những diễn biến nội tâm của cậu và hơn hết là biến chuyển trong cái nhìn của cậu về mọi sự, là câu trả lời cho câu hỏi: Xa tới đâu.

Ở tất tật những trò của Beineberg và Reiting, Törleß chỉ chân trong chân ngoài, cậu không hề thực sự hứng thú. Trong mỗi xen hành hạ Basini của Beineberg và Reiting, lẫn cả trong sự gần gũi thân thể dưới lớp áo của nỗi cô đơn, luôn có thứ gì đó cồn cào trong Törleß giữ cậu lại. Khi thì cậu nhìn thấy một con mắt thứ ba, khi thì cậu thấy như mình đang trong một cơn mơ rồi hoảng hốt choàng tỉnh.

Törleß đã quá rạch ròi để cố tìm ranh giới của giới hạn. Sự tò mò của Törleß về số ảo không nằm ở sự có hay không một tồn tại như vậy, mà ở con đường dẫn tới một số không thực thông qua những thứ có thực, như thể người ta nhảy qua những nền tảng vững chắc để đi tới một thứ không tồn tại. Ở lỗi lầm sai trái của Basini, thứ khiến Törleß hoảng hốt cũng không nằm ở điều Basini đã làm mà cậu ta đã nghĩ gì khi làm điều đó, khi chấp nhận để bị hạ nhục, cậu ta đã thấy thế nào. Câu hỏi này Törleß đã lặp đi lặp lại, và nó hành hạ Basini hơn nhiều so với những gì hai người kia đã tiến hành lên cậu. Một cuộc thí nghiệm nhìn từ phía Beineberg là một phép thử thông giao với linh hồn sau khi đã ru ngủ tất tật các xấu xa, một ví dụ cho tiền đề huyền bí đậm màu tâm linh với một chút siêu nhiên con người quá con người; nhìn từ phía Reiting là một trò chơi tuân phục ranh mãnh được dựng công phu. Với Törleß, mỗi một lần đối mặt với các xen ấy cũng như với ham muốn bất hình thức trước Basini, trong cậu là một hỗn độn của choáng ngợp, hoảng hốt, rối trí và nhất là sự ghê tởm. Diễn biến của sự vụ càng đi xa sự xáo trộn trong Törleß càng dữ dội.

Trong thế giới của Törleß, cậu không thể cắt nghĩa được sự mập mờ nhập nhằng. Với cậu, từng chỉ tồn tại các trạng thái với hai thái cực, bên này và bên kia. Ở cuộc thẩm tra, và cũng lại đúng khoảnh khắc cậu nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài kia chẳng có gì khác nếu không kể bề mặt bất tận màu trắng của bình nguyên, cậu nhìn mọi sự đã sáng rõ. Trước đó đã từng có hai khoảnh khắc Törleß nhìn từ cửa sổ vọng ra ngoài: ở hiệu bánh cùng Beineberg và trong căn buồng của Božena. Khi ấy sự mông lung trong Törleß, bởi cuộc sống trong ngôi trường Konvikt zu W. và những lớn lên trong cậu, hẵng còn rất khẽ.

Sự vụ kết thúc, Basini bị tống khứ, Törleß cũng rời khỏi ngôi trường, hoàn toàn tự nguyện. Cậu còn khởi sự quên luôn những cái tên rồi. Khả dĩ cả ba người, Beineberg, Reiting lẫn Basini vẫn sẽ là chính họ, sau tất cả. Còn Törleß, cậu đã khác. Cái nhìn mơ mộng và lý tính đã không còn. Giờ thì nó đã qua. Em biết rằng dẫu thế nào đúng là em đã nhầm. Em không sợ gì hết nữa. Em biết: sự vật là sự vật và sẽ cứ luôn như vậy; và em sẽ cứ tiếp tục nhìn chúng lúc thì thế này, khi lại thế kia. Hết bằng đôi mắt của lý trí, rồi bằng đôi mắt của thứ kia … Và em sẽ không tìm cách so sánh chung với nhau thêm nữa.

Những rối trí và hoảng hốt của những gì đã xảy ra nương lại trong tâm hồn Törleß như những vết nứt trên một bức tường. Những gì đi ngay trước dục vọng, bị dục vọng lừa phỉnh không thể bị xóa đi. Sự tồn tại muôn trạng của nó được Törleß nhìn bằng một đôi mắt khác.

Phan Nhu

viết tiếng Đức
Gotthold Ephraim Lessing (1729–1781)
Georg Christoph Lichtenberg (1742–1799)
Johann Gottfried Herder (1744–1803)
Johann Wolfgang von Goethe (1749–1832)
Friedrich Schiller (1759–1805)
Jean Paul (1763–1825)
Novalis (1772–1801)
E. T. A. Hoffmann (1776–1822)
Heinrich von Kleist (1777–1811)
Arthur Schopenhauer (1788–1860)
Heinrich Heine (1797–1856)
Eduard Mörike (1804–1875)
Adalbert Stifter (1805–1868)
Georg Büchner (1813–1837)
Theodor Mommsen (1817–1903)
Jacob Burckhardt (1818–1897)
Gottfried Keller (1819–1890)
Paul Celan (1920–1970)
Friedrich Nietzsche (1844–1900)
Georg Simmel (1858–1918)
Peter Altenberg (1859–1919)
Gustav Meyrink (1868–1932)
Heinrich Mann (1871–1950)
Hugo von Hofmannsthal (1874–1929)
Karl Kraus (1874–1936)
Arnold Schönberg (1874–1951)
Max Scheler (1874–1928)
Rainer Maria Rilke (1875–1926)
Thomas Mann (1875–1955)
Alfred Kubin (1877–1959)
Robert Walser (1878–1956)
Martin Buber (1878–1965)
Robert Musil (1880–1942)
Franz Kafka (1883–1924)
Walter Benjamin (1892–1940)
Joseph Roth (1894–1939)
Ernst Bloch (1885–1977)
György Lukács (1885–1971)
Hermann Broch (1886–1951)
Paul Tillich (1886–1965)
Johannes Itten (1888–1967)
Martin Heidegger (1889–1976)
Ludwig Wittgenstein (1889–1951)
Franz Werfel (1890–1945)
Norbert Elias (1897–1990)
Theodor W. Adorno (1903–1969)
Ludwig Hohl (1904–1980)
Hugo Friedrich (1904–1978)
Elias Canetti (1905–1994)
Klaus Mann (1906–1949)
Fritz Hochwälder (1911–1986)
Hans Robert Jauss (1921–1997)
Friedrich Dürrenmatt (1921–1990)
David Bronsen (1926–1975)
Ingeborg Bachmann (1926–1973)
Günter Grass (1927–2015)
Carl Dahlhaus (1928–1989)
Thomas Bernhard (1931–1989)
W. G. Sebald (1944–2001)
Peter Handke (1942– )
Michael Haneke (1942– )
Yoko Tawada (1960– )

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công