Joseph Conrad: Tay chỉ điểm
Không thiếu những kiệt tác tiểu thuyết sinh ra khi nhà văn ban đầu chỉ định viết một truyện ngắn nhưng trong quá trình sáng tác cảm thấy thu hút bị cuốn vào ý tưởng của mình, hữu ý hay cố ý, đưa nó vượt ra khỏi dung lượng và đặc điểm của một truyện ngắn. Ta có thể kể ngay The Sound and the Fury của William Faulkner, Dưới núi lửa của Malcolm Lowry, cũng như Tay điệp viên của Joseph Conrad. Tay chỉ điểm (The Informer, 1906) với tít phụ là Một chuyện mỉa mai (A Ironic Tale) chính là tiền thân, là bản nháp cho cuốn tiểu thuyết ra đời một năm sau và trở thành điển phạm trong thể loại điệp viên. Đọc Tay chỉ điểm - viết bằng ngôi nhất, rất trực diện, hoàn toàn không bị vướng mắc với những câu văn dài dằng dặc đặc trưng - ta có thể dễ dàng nhận ra quan điểm chính trị của Conrad, cụ thể là thái độ của ông với chủ nghĩa vô trị [vô chính phủ], vốn được che đậy kỹ càng hơn trong tác phẩm kế tiếp.
Tay chỉ điểm
- Joseph Conrad
X cầm lá thư giới thiệu của một người bạn thân ở Paris đến thăm tôi, với mục đích cụ thể là chiêm ngưỡng bộ sưu tập đồ đồng và đồ gốm sứ Trung Hoa.
Ông bạn Paris ấy cũng là một nhà sưu tầm. Nhưng ông ta thì không sưu tầm đồ sứ, đồ đồng, tranh ảnh, mề đay, tem hay bất cứ vật phẩm gì có thể đem ra đấu giá sinh lời. Ông ta sẽ từ chối, với vẻ ngạc nhiên rất thực, cái danh xưng nhà sưu tầm. Tuy nhiên, đó là bản chất con người ông ấy. Ông sưu tầm những mối quan hệ. Đó là công việc tinh tế. Ông ta hành nghề với toàn bộ sự kiên nhẫn, niềm say mê và quyết tâm của một nhà sưu tầm đồ cổ thứ thiệt. Bộ sưu tập của ông không có bất kỳ nhân vật hoàng tộc nào. Tôi nghĩ ông cho rằng họ không đủ hiếm và thú vị; nhưng, ngoại trừ điểm đó, ông đã gặp gỡ và trò chuyện với tất cả những người đáng để kết giao trên bất kỳ lĩnh vực nào có thể tưởng tượng được. Ông quan sát họ, lắng nghe họ, thấu hiểu họ, đánh giá họ và cất giữ ký ức về họ vào những gian phòng trong tâm trí. Ông đã mưu tích, vạch kế hoạch và chu du khắp châu Âu chỉ để bổ sung vào bộ sưu tập ấy những con người xuất chúng mà ông có dịp giao tế.
Vì giàu có, lại sở hữu nhiều mối quan hệ tốt và trong sáng, bộ sưu tập của ông ta khá toàn diện, bao gồm cả những hiện vật (hay những đối tượng?) mà giá trị không được công chúng đánh giá đúng, và thường không nổi tiếng trong giới chính chuyên. Những hiện vật như thế, ông bạn tôi dĩ nhiên thấy tự hào nhất.
Ông viết cho tôi về X: “Ông ta là kẻ nổi loạn vĩ đại nhất (révolté) của thời hiện đại. Thế giới biết đến ông như một nhà văn cách mạng có lời châm biếm tàn bạo đã vạch trần sự mục ruỗng của những thiết chế đáng kính nhất. Ông ta đã lột da đầu của mọi cái đầu được tôn sùng, và đã xé xác trên cọc thiêu của trí tuệ mọi quan điểm hiện thời, mọi nguyên tắc đã được thừa nhận trong cách cư xử và chính sách. Ai mà quên được cuốn pamfơlê cách mạng đỏ rực của ông ta? Những quan điểm của ông tấn công ồ ạt như ong vỡ tổ, từng một thời nhấn chìm quyền lực của mọi lực lượng cảnh sát lục địa như một trận dịch ruồi son. Nhưng không chỉ có thế, nhà văn cực đoan này còn là người truyền cảm hứng tích cực cho các hội kín, là Số Một bí ẩn không ai biết của các âm mưu cực đoan đã bị nghi ngờ và chưa bị nghi ngờ, đã chín muồi hoặc bị đập tan. Và thế giới nói chung chưa từng có một manh mối nào về sự thật đó! Điều này giải thích vì sao ông ta vẫn đi lại giữa chúng ta cho đến ngày nay, một tay lão luyện đã thiết kế bao nhiêu chiến dịch ngầm, giờ đứng ngoài cuộc, an toàn và giản dị trong danh tiếng là nhà công luận đả phá vĩ đại nhất từng sống.”
Bạn tôi viết như vậy, còn thêm rằng Ngài X đây là một người sành sỏi về đồ đồng và đồ sứ, đồng thời yêu cầu tôi cho ông ta xem bộ sưu tập của mình.
X đã đến đúng hẹn. Những món bảo vật của tôi được bày trong ba căn phòng lớn không thảm và rèm cửa. Không có đồ đạc nào khác ngoài những giá trưng bày và tủ kính chứa đựng bên trong các mẫu vật đáng giá cả một gia tài đối với ai được tôi để lại cho. Tôi không cho phép đốt lửa sưởi, vì sợ tai nạn, và một cánh cửa chống cháy ngăn cách chúng với phần còn lại của ngôi nhà.
Đó là một ngày lạnh giá. Chúng tôi dù ở trong nhà vẫn bành tô và đội mũ. Người tầm thước và gầy, đôi mắt tinh anh trên khuôn mặt mũi khoằm kiểu La Mã dài, X bước đi trên đôi chân nhỏ gọn, những bước chân ngắn, và ngắm những món bảo vật của tôi một cách thông tuệ. Tôi hy vọng trong mắt ông ta tôi cũng thông tuệ. Bộ ria và chòm râu dưới môi trắng như tuyết khiến nước da nâu hạt dẻ của ông trông có vẻ tối hơn thực tế. Trong bộ áo khoác lông và chiếc mũ cao bóng lưỡng, người đàn ông khủng khiếp ấy trông rất tân thời. Tôi tin ông thuộc một gia đình quý tộc, và có thể tự gọi mình là Tử tước X xứ Z nếu ông muốn. Chúng tôi chỉ nói về đồ đồng và sứ. Thái độ của ông dường thể hiện rằng ông đánh giá cao bộ sưu tập của tôi lắm. Chúng tôi chia tay trong không khí thân tình.
Tôi không biết ông ta ở đâu. Trong suy nghĩ của tôi, ông ta chắc hẳn phải là một con người cô đơn lắm. Những kẻ vô trị, tôi đoan, thì không có gia đình - ít nhất là không theo cách chúng ta hiểu về mối quan hệ xã hội ấy. Thiết chế gia đình có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó cố hữu của con người, nhưng xét đến cùng, nó được xây dựng trên luật pháp, và do đó một kẻ vô trị như ông ta hẳn phải xem nó là đáng ghét và không thể chấp nhận được. Mà, thực tế, tôi không hiểu nổi những kẻ vô trị. Một vô trị nhân theo cái… cái… liệu có còn là vô trị nhân khi ở một mình, hoàn toàn một mình, chẳng hạn khi đi ngủ? Liệu anh ta có đặt đầu lên gối, kéo chăn đắp lên người và đi ngủ với đầu óc chỉ toàn suy nghĩ về tính cần thiết của một chambardement général như tiếng Pháp lóng, của một cú nổ toàn diện? Và nếu vậy thì làm sao anh ta có thể ngủ được? Tôi khẳng định, nếu một niềm tin (hay một sự cuồng tín) như thế chi phối suy nghĩ của tôi, tôi sẽ không bao giờ có thể bình tâm đủ để ngủ hay ăn hay thực hiện bất kỳ việc thường nhật nào. Tôi sẽ không muốn vợ, không muốn con; tôi sẽ chẳng thể có bạn bè, tôi nghĩ vậy; còn việc sưu tầm đồ đồng đồ sứ, tôi dám nói, sẽ hoàn toàn bất khả. Nhưng tôi không biết. Tất cả những gì tôi biết là Ngài X dùng bữa ở một nhà hàng thượng hạng mà tôi cũng thường lui tới.
Phơi đầu trần, chỏm tóc bạc ngược gọn gàng bổ sung vào thái độ hoàn toàn vô cảm trên gương mặt toàn là những đường gờ xương và hõm sâu của ông. Đôi tay gầy nâu của ông thò ra từ những cổ tay áo trắng lớn, giơ ra và bẻ bánh mì, rót rượu, vân vân, với sự chính xác máy móc lặng lẽ. Bên trên khăn trải bàn, phần đầu và thân trên của ông bất động cứng nhắc. Ngọn lửa bùng cháy này, nhà kích động vĩ đại này, lại biểu lộ sự nồng nhiệt và sinh khí cực kỳ yếu ớt. Giọng ông the thé, lạnh lùng và đều đều ở một âm vực thấp. Không thể gọi ông là một nhân vật nhiều chuyện; nhưng với thái độ điềm tĩnh, tách biệt, ông có vẻ sẵn sàng tiếp diễn cuộc trò chuyện cũng như bỏ dở nó bất cứ lúc nào.
Và cuộc trò chuyện của ông hoàn toàn không tầm thường. Tôi thừa nhận, tôi cũng có chút phấn khích khi trò chuyện một cách bình thản bên bàn ăn với một người đã dùng ngòi bút tẩm độc của mình làm suy yếu sinh lực của ít nhất một nền quân chủ. Điều ấy công chúng ai cũng biết cả. Nhưng tôi còn biết nhiều hơn. Tôi biết về ông - qua bạn tôi - với sự chắc chắn mà những người bảo vệ trật tự xã hội ở châu Âu cùng lắm cũng chỉ nghi ngờ hoặc mơ hồ đoán chừng.
Ông đã có cái mà tôi có thể gọi là cuộc sống ngầm của mình. Và khi tôi ngồi, đêm này qua đêm khác, đối diện ông tại bàn ăn, một nỗi hiếu kỳ về cái cuộc sống đó tự dưng nảy sinh trong tâm trí tôi. Tôi là sản phẩm của nền văn minh đặc trưng bởi sự yên bình và hòa nhã, và cũng không có niềm đam mê nào khác ngoài thú sưu tầm đồ hiếm, luôn giữ cho mình sự tinh tế ngay cả khi tiếp cận với những điều quái gở. Vâng, có vài món đồ Trung Hoa quý hiếm đến quái gở. Và ở đây (từ bộ sưu tập của bạn tôi), trước mặt tôi là một quái vật quý hiếm chứ gì nữa. Đúng là con quái vật này đã được đánh bóng và, theo một nghĩa nào đó, thậm chí còn tinh tế. Cái phong cách thanh nhã và không nao núng của ông thể hiện ra điều đó. Nhưng dù sao ông cũng đâu phải là đồ đồng. Ông thậm chí còn không dính líu gì tới Trung Hoa, chứ không thì làm sao thiên hạ nhìn nhận ông một cách bình tĩnh như chẳng hề có cái vực thẳm của sự khác biệt chủng tộc nào như thế. Ông là một sinh thể còn sống và là người châu Âu; ông có phong cách của giới thượng lưu, mặc áo khoác và đội mũ như tôi, và chúng tôi gần như có cùng gu ăn uống. Nghĩ đến điều đó thật quá kinh khủng.
Một tối nọ, đang trò chuyện thì ông tình cờ đưa ra một lời nhận xét như thế này, “Không có sự sửa chữa nào đạt được trong nhân loại nếu không dùng khủng bố và bạo lực.”
Tác động của một cụm từ như vậy thốt ra từ miệng một người như thế lên một người như tôi, người cả cuộc đời đã sống dựa vào sự phân biệt tế nhị và tao nhã về các giá trị xã hội-nghệ thuật, bạn hoàn toàn có thể tưởng tượng được. Hãy thử tưởng tượng đi! Lên tôi, người mà mọi hình thức bạo lực đều xa lạ chẳng kém gì những người khổng lồ, yêu tinh hay những con thủy quái bảy đầu, những sinh vật tưởng tượng mà mà tác động của chúng chỉ thường ảnh hưởng, một cách kỳ quặc, đến mạch truyền thuyết và cổ tích!
Tôi bỗng dưng như nghe thấy trong không gian huyên náo và tiếng chén đĩa của nhà hàng lộng lẫy lời thì thầm của một đám đông đói khát và phản loạn.
Chắc tôi phải là người dễ bị ảnh hưởng và giàu trí tưởng tượng lắm. Trước mắt tôi là một bóng tối chộn rộn đầy những hàm răng gầy gò và đôi mắt hoang dại, giữa hàng trăm ánh đèn điện của nơi này. Nhưng bằng cách nào đó, hình dung này cũng làm tôi phát cáu. Cảnh tượng người đàn ông đó đang bẻ những mẩu bánh mì trắng trong sự bình tĩnh quá đỗi làm tôi bực cả mình. Và tôi tự dưng có được dũng cảm để hỏi ông ta làm thế nào mà giai cấp vô sản đói khổ của châu Âu, những người ông đã rao giảng. về nổi loạn và bạo lực, lại không phẫn nộ bởi cuộc sống xa hoa không buồn giấu giếm của ông. “Trước tất cả những điều này,” tôi dõng dạc nói, với một cái liếc quanh phòng và nhìn vào chai sâm-panh mỗi tối chúng tôi đều chia nhau uống.
Ông ta không nhúc nhích.
“Tôi có sống bằng mồ hôi và máu của họ không? Tôi có là một kẻ đầu cơ hay một nhà tư bản không? Tôi có làm giàu cho bản thân bằng cướp bóc từ một dân tộc đói khổ không? Không! Họ biết rõ điều này. Và họ không ghen tị gì với tôi. Khối quần chúng khốn khổ ấy rộng lượng với những người lãnh đạo của họ. Những gì tôi có được đến với tôi qua các tác phẩm của tôi; đâu phải từ hàng triệu pamfơlê tôi phân phát miễn phí cho những con người cùng khổ và bị áp bức, mà từ hàng trăm nghìn bản bán được cho tầng lớp tư sản no đủ. Ông biết rằng các tác phẩm của tôi đã từng là cơn sốt, là mốt thời thượng - một thứ để đọc với sự kinh ngạc và kinh hoàng, để trợn mắt lên trước nỗi đau thương của tôi... hoặc nếu không thì, để cười mê mẩn trước sự hóm hỉnh của tôi.”
“Vâng,” tôi thừa nhận. “Tất nhiên rồi, tôi nhớ chứ; và tôi phải thú thật với ông rằng tôi không bao giờ hiểu nổi cái sự nồng nhiệt ấy.”
“Ông vẫn chưa biết sao,” ông nói, “rằng một tầng lớp nhàn rỗi và ích kỷ thì ưa ngắm nhìn người ta phá phách, ngay cả khi chính họ chính là bên phải trả giá cho nó diễn ra? Cuộc sống của họ chỉ xoay quanh những cử chỉ và tư thế, họ không thể nhận ra sức mạnh và sự nguy hiểm của một phong trào thực sự và của những lời nói vô nghĩa giả tạo. Tất cả đối với họ chỉ là trò vui và cảm xúc. Chẳng hạn, chỉ cần chỉ ra thái độ của giới quý tộc Pháp cũ đối với các triết gia, những lời nói của họ đang chuẩn bị cho Đại Cách mạng, là đủ thấy. Ngay cả ở Anh, nơi ông có một chút lương thức, một kẻ mị dân chỉ cần la hét đủ to và đủ lâu thì trước sau gì cũng nhận được sự ủng hộ từ chính giai cấp mà hắn đang rủa xả. Ông cũng vậy thôi, ưa ngắm nhìn người ta phá phách. Một kẻ mị dân thường hấp dẫn những kẻ xoàng xĩnh vì cảm xúc nhất thời mà theo. Xoàng xĩnh cái này một tí, cái kia một tí, thứ nọ một chặp là cách dễ dàng thú vị để giết thời gian và nuôi dưỡng lòng tự ái của mình - cái thứ tự ái ngớ ngẩn của việc đi ngang hàng với những ý tưởng của tương lai. Cũng giống như những người tốt và vô hại sẽ cùng ông mê mẩn trước bộ sưu tập của ông mà không có một chút khái niệm nào về việc sự kỳ diệu của nó thực sự nằm ở những chỗ nào.”
Tôi cúi đầu. Đó là hành động thể hiện sự choáng ngợp về sự thật đáng buồn mà ông vừa đưa ra. Thế giới đúng là không thiếu những người như vậy. Và ví dụ về giới quý tộc Pháp trước Cách mạng cũng cực kỳ thuyết phục. Tôi không thể bác bỏ lời tuyên bố của ông, mặc dù tính chất hoài nghi chủ nghĩa của nó - thứ vẫn luôn là một đặc điểm khó chịu - đã làm giảm đi nhiều giá trị của nó trong tâm trí tôi. Tuy nhiên, tôi thừa nhận mình bị ấn tượng. Tôi cảm thấy cần phải nói điều gì đó không mang tính chất đồng tình và cũng không mời gọi tranh luận.
“Tức ông muốn nói rằng,” tôi nhận xét, thoải mái, “những nhà cách mạng cực đoan đã từng được tiếp đỡ bởi sự mê muội của những người như vậy?”
“Ý tôi muốn bày tỏ không hẳn là như vậy. Tôi đã nói theo kiểu khái quát hoá. Nhưng vì ông đã hỏi, thì tôi xin thưa rằng sự tiếp đỡ như vậy đối với các hoạt động cách mạng là có thật, ở nhiều quốc gia và ít nhiều có ý thức. Và ngay cả ở quốc gia này.”
“Không thể nào!” tôi kiên quyết phản đối. “Chúng tôi không chơi với lửa đến mức đó.”
“Có thể ông giỏi trong việc kiềm chế mình hơn đa số người khác. Nhưng xin thưa, tôi ghi nhận rằng hầu hết phụ nữ, nếu không phải lúc nào cũng sẵn sàng chơi với lửa, thì thường háo hức chơi với một vài tia đóm lạc.”
“Ông đùa sao?” tôi hỏi, mỉm cười.
“Tôi không biết mình đã đùa gì đấy,” ông nói, cứng nhắc. “Tôi đang nghĩ về một ví dụ. Ồ! Một ví dụ nhẹ nhàng thân ái...”
Lúc này, tôi trở nên háo hức đợi chờ những gì ông nói tiếp. Tôi đã thử nhiều lần tiếp cận phương diện ngầm ẩn của ông, có thể nói như vậy. Chính xác cái từ đó đã được phát ra giữa chúng tôi. Nhưng ông luôn đón tôi với sự điềm tĩnh không thể xuyên thủng của mình.
“Và đồng thời,” Ngài X tiếp tục, “nó sẽ cho ông một khái niệm về những khó khăn có thể phát sinh trong cái mà ông thoải mái gọi là công việc ngầm. Đôi khi khó để đối phó với chúng. Tất nhiên không có hệ thống cấp bậc giữa những đương sự. Không có hệ thống cứng nhắc.”
Tôi ngạc nhiên hết sức, nhưng dịu đi rất nhanh. Rõ ràng, giữa những kẻ vô trị cực đoan thì làm sao có hệ thống cấp bậc, làm gì trong bản chất lại có một quy luật gì về thứ tự. Ý tưởng về sự vô trị ngự trị giữa những kẻ vô trị cũng thật an ủi. Nó phá vỡ sự hiệu quả của họ.
Ngài X làm tôi giật mình bằng câu hỏi đột ngột, “Ông biết Phố Hermione chứ?”
Tôi ngần ngừ gật đầu. Phố Hermione, trong vòng ba năm qua, đã được cải tạo đến mức không ai còn nhận ra. Cái tên vẫn còn, nhưng không một viên gạch hay đá nào của Phố Hermione của ngày xưa còn sót lại. Ông đang muốn nói đến cái Phố Hermione của ngày xưa ấy, vì ông bảo:
“Có một dãy nhà gạch hai tầng bên trái, dựa lưng vào của toà nhà công vụ bề thế - nếu ông còn nhớ. Ông có rất ngạc nhiên khi nghe rằng một trong những ngôi nhà này đã từng là trung tâm tuyên truyền vô trị, là đầu não của thứ anh gọi là hoạt động ngầm không?”
“Không hề,” tôi tuyên bố. Phố Hermione trong trí nhớ của tôi cũng không phải nơi đáng kính gì cho cam.
“Ngôi nhà đó là tài sản của một viên chức chính phủ xuất chúng,” ông thêm, nhấp một ngụm sâm banh.
“Ồ, thật sao!” tôi nói, lần này nửa chữ cũng không tin.
“Dĩ nhiên ông ta không sống ở đó,” Ngài X tiếp tục. “Nhưng từ mười giờ bốn giờ, ông ta sẽ ngồi ngay bên cạnh, con người đáng kính ấy, trong căn phòng riêng trang hoàng sang trọng của mình ở mặt cánh toà nhà công vụ lúc nãy tôi có nhắc. Để ông hiểu cho chính xác tuyệt đối, tôi xin giải thích thêm rằng ngôi nhà ở phố Hermione không thực sự thuộc về ông ta. Nó thuộc về những đứa con của ông - một con gái và một con trai, đều đã lớn. Cô con gái có ngoại hình dễ nhìn, nhưng đẹp xuất sắc thì hoàn toàn không phải. Ngoài sức hút cá nhân hơn đặc quyền của tuổi trẻ, cô còn thêm vẻ quyến rũ của nhiệt huyết, của tính cách độc lập, của tư tưởng khảng khái. Tôi cho rằng cô khoác lên những vẻ ngoài này cũng như cô mặc những bộ váy độc đáo của mình và vì cùng một lý do: để khẳng định cá tính của mình bằng bất cứ giá nào. Ông biết đấy, phụ nữ sẽ làm gần như bất cứ điều gì vì mục đích đó. Cô đã đi rất xa. Cô đã tiếp thu tất cả những cử chỉ thích hợp của niềm tin cách mạng - những cử chỉ của lòng thương hại, của sự tức giận, của phẫn uất trước những thói xấu phản nhân đạo của tầng lớp xã hội mà chính cô thuộc về. Tất cả những điều này ngự trị trên cá tính nổi bật của cô cũng như những trang phục hơi khác thường của cô. Chỉ hơi khác thường thôi; vừa đủ để đánh dấu một sự phản kháng đối với sự tầm thường của những kẻ mập đẫy vì ăn trên đầu trên cổ người nghèo. Vừa đủ, không hơn. Sẽ không ổn nếu đi quá xa theo hướng đó - ông hiểu mà. Nhưng cô đã đến tuổi trưởng thành, và không có gì cản trở việc cô dâng tặng ngôi nhà của mình cho những người hoạt động cách mạng.”
“Nghe chẳng đúng chút nào!” tôi kêu lên.
“Xin bảo đảm với ông là như thế,” ông ta khẳng định, “rằng cô đã thực hiện cử chỉ rất thiết thực đó. Chứ không thì bằng cách nào nhóm cách mạng lại có được nơi đó? Họ toàn thuộc dạng tay không bắt giặc. Vả lại, nếu không phải được hiến tặng thì họ sẽ gặp rắc rối kinh hoàng với bất kỳ đại lý nhà đất nào, vì họ sẽ muốn thư giới thiệu và vân vân. Nhóm người mà cô tiếp xúc khi khám phá các khu phố nghèo của thị trấn (ông biết cái cử chỉ từ thiện và tình nguyện cá nhân đã rất thời thượng vài năm trước) đã nhận nơi ấy với lòng biết ơn. Lợi thế đầu tiên là phố Hermione, như ông biết, có vị trí cách xa vùng nóng của thị trấn, khu vực bị lũ cớm đặc biệt dòm ngó.
“Tầng trệt có một nhà hàng Ý xoàng, bẩn thỉu. Không có khó khăn gì trong việc mua lại từ chủ sở hữu. Một cặp nam nữ trong nhóm đảm nhiệm chuyện này. Trong đó, người đàn ông từng là đầu bếp. Các đồng chí có thể ăn uống ở đó mà không bị xét nét giữa những thực khách khác. Đây là một lợi thế khác. Lầu một được một Đại lý Nghệ sĩ Tạp kỹ tồi tàn chiếm cứ - một đại lý môi giowis diễn viên cho các rạp hát hạng tồi, ông biết đấy. Một gã tên Bomm, tôi nhớ. Gã chẳng thấy phiền. Thậm chí còn thuận lợi hơn là có nhiều người có vẻ ngoài ngoại quốc vào ra, những kẻ tung hứng, nghệ sỹ nhào lộn, nam-nữ ca sỹ, vân vân, ra vào suốt ngày. Cảnh sát thường bỏ qua những khuôn mặt mới, ông thấy đấy. Tầng trên cùng, rất thuận tiện, khoảng thời gian đó lại để trống.”
Ngài X dừng lại, dùng ăn món bombe glacée người bồi vừa dọn lên bàn bằng những động tác được cân nhắc. Ông cẩn thận xúc vài thìa món thức quà ngọt mát rồi hỏi tôi: “Ông đã bao giờ nghe nói đến Súp Khô Stone chưa?”
“Nghe thứ gì cơ?”
“Đó là,” ngài X tiếp tục, giọng đều đều, “một mặt hàng thực phẩm từng được quảng cáo khá rầm rộ trên các nhật báo, nhưng không hiểu sao chẳng bao giờ được công chúng ưa chuộng. Công ty ấy trụ được không bao lâu rồi dẹp tiệm, như cách các ông vẫn nói. Những lô hàng tồn kho của họ có thể mua được tại các cuộc đấu giá với giá chưa đầy một xu một pound. Nhóm của chúng tôi đã mua một ít, và mở một đại lý Súp Khô Stone ở tầng trên cùng. Một việc kinh doanh hoàn toàn hợp pháp. Thứ bột màu vàng trông rất khó ăn ấy được đóng lại vào các hộp thiếc vuông lớn, sáu hộp một thùng. Nếu có ai đến đặt hàng, dĩ nhiên là chúng tôi giao. Nhưng cái lợi của thứ bột này là ở chỗ có thể giấu đồ trong đó rất tiện. Thỉnh thoảng, một thùng hàng đặc biệt được chất lên xe và gửi ra nước ngoài ngay dưới mũi viên cảnh sát đang làm nhiệm vụ ở góc phố. Ông hiểu chứ?”
“Tôi nghĩ là hiểu,” tôi đáp, nhìn phần bombe glacée còn sót lại đang từ từ tan chảy trong đĩa mà gật đầu đầy ý nhị.
“Là thế đấy. Nhưng những thùng hàng ấy còn hữu ích theo một cách khác nữa. Dưới tầng hầm, hay đúng hơn là một phòng ngầm ở sau lưng, chúng tôi cho lắp đặt hai máy in. Rất nhiều tài liệu cách mạng có nội dung cực kỳ kích động đã được chuyển khỏi ngôi nhà trong những thùng Súp Khô Stone. Người em trai của cô tiểu thư vô trị của chúng ta cũng có một chân ở đó. Cậu ta viết bài, giúp sắp chữ và in ấn, nói chung là giúp việc cho người phụ trách, một thanh niên rất tài năng tên là Sevrin.
“Người dẫn dắt nhóm ấy là một mê làm cách mạng xã hội đến cuồng tín. Giờ ông ta đã chết rồi. Ông là một nghệ nhân chạm trổ và khắc axit tài ba. Hẳn ông đã từng thấy tác phẩm của ông ta. Giờ đây chúng rất được giới nhà nghề săn lùng. Ông ta bắt đầu bằng việc cách tân nghệ thuật và kết thúc bằng việc trở thành một nhà cách mạng, sau khi vợ con ông chết trong cảnh túng quẫn khốn cùng. Ông thường nói rằng tầng lớp tư sản, lũ no ấm đạo đức giả, đã giết họ. Ông đã sống với niềm tin đó, tin mãnh liệt. Ông sống hai vai, một mặt vẫn làm nghệ thuật, một mặt là nhà cách mạng. Ông cao, gầy gò, và rám nắng, với bộ râu nâu dài và đôi mắt sâu thẳm. Hẳn ông đã từng gặp ông ta. Tên ông ta là Horne.”
Nghe đến đó, tôi thực sự giật mình. Đương nhiên, nhiều năm trước tôi từng gặp Horne khá thường xuyên. Ông ta trông như một gã gíp-xi khoẻ khoắn và thô thiển, đội mũ chóp cao cũ kỹ, quàng khăn choàng đỏ quanh cổ, và gém thân trong một chiếc áo khoác dài, sờn cũ. Ông ta nói về nghệ thuật của mình với sự phấn khích cao độ, và tạo ấn tượng với mọi người rằng sự cực điểm của ông đang dần trôi đến bờ điên loạn. Một nhóm nhỏ các tay chuyên đánh giá cao tác phẩm của ông. Ai có thể ngờ rằng con người này mà lại là... Thật ngỡ ngàng! Nhưng rồi, xét cho cùng, cũng không quá khó để tin.
“Như ông thấy đấy,” X tiếp tục, “nhóm này đã có thể theo đuổi công việc tuyên truyền của mình, và cả loại công việc khác nữa, trong những điều kiện rất thuận lợi. Tất cả họ đều là có tinh thần quyết liệt, giàu kinh nghiệm, thuộc loại ưu tú. Thế mà, chúng tôi dần dà cũng nhận ra một sự thật đau lòng: tất tật các kế hoạch được chuẩn bị ở phố Hermione gần như luôn thất bại.”
“Ông nói ‘chúng tôi’ là nói về những người nào?” tôi hỏi, rành rẽ.
“Một số người chúng tôi ở Brussels - giữa trung tâm,” ông nói, dồn dập. “Bất kỳ hành động quyết liệt nào bắt đầu từ phố Hermione dường như đều bị định đoạt thất bại. Luôn có chuyện xảy ra khiến những vụ khủng bố đã được lên kế hoạch kỹ lưỡng trên khắp châu Âu phá sản. Đó là thời kỳ họ hoạt động rất sôi nổi. Ông đừng tưởng rằng tất cả những thất bại của chúng tôi đều ầm ĩ, với những vụ bắt giữ và xét xử. Không phải vậy. Thường thì cảnh sát hoạt động một cách lặng lẽ, gần như bí mật, đánh bại các liên minh của chúng tôi bằng những âm mưu phản kích thông minh. Không bắt bớ, không ồn ào, không làm công chúng hoang mang và khơi dậy sự chú ý của họ. Đó là một nghiệp vụ cực kỳ khôn ngoan. Nhưng vào thời điểm đó, cảnh sát đã thành công một cách quá vang dội và quá đều đặn, từ Địa Trung Hải đến Baltic. Điều đó thật phiền toái và bắt đầu có vẻ gây nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi đi đến kết luận rằng phải có một số phần tử không đáng tin cậy trong các nhóm ở London. Thế nên tôi sang đây để điều tra xem chuyện gì đang âm thầm xảy ra.
“Động thái đầu tiên của tôi là đến thăm Quý cô Xoàng trẻ tuổi của chủ nghĩa vô trị tại nhà riêng của cô ấy. Cô tiếp đón tôi một cách thơn thớt. Tôi cho rằng cô không biết gì về các cuộc điều chế thuốc nổ và những thứ khác đang diễn ra trên tầng cao nhất của ngôi nhà ở phố Hermione. Việc in ấn tài liệu vô trị là ‘hoạt động’ duy nhất mà cô lờ mờ biết được ở nơi đó. Cô thể hiện rất nổi bật những dấu hiệu thông thường của lòng nhiệt thành mãnh liệt, và đã viết nhiều bài báo lâm li với những kết luận dữ dội. Tôi có thể thấy cô ta đang sung sướng với những thứ mình đang làm hơi thái quá, với tất cả những cử chỉ và vẻ mặt nghiêm túc chết người. Chúng rất hợp với khuôn mặt mắt to, trán rộng của cô và dáng đứng thẳng của cái đầu cân đối, được tôn lên bởi một mái tóc nâu tuyệt đẹp tạo kiểu khác thường và hợp thời. Em trai cô cũng có mặt trong phòng, một thanh niên nghiêm túc, với lông mày hình vòm và đeo một chiếc cà vạt đỏ, người tôi đánh giá là hoàn toàn mù tịt về tất cả mọi thứ, kể cả bản thân mình. Lát sau, một chàng trai trẻ cao lớn bước vào. Anh ta cạo râu nhẵn nhụi với chiếc cằm nam tính hơi ngả xanh và có vẻ mặt giông giống một diễn viên trầm lặng hay của một linh mục cuồng tín: kiểu người có lông mày đen dày - ông biết đấy. Nhưng thực sự anh ta rất đáng chú ý. Anh ta lập tức bắt tay với từng người chúng tôi một cách rất hùng hồn. Cô gái trẻ bước đến bên tôi và thì thầm rất êm, 'Đồng chí Sevrin.'
“Tôi chưa từng gặp anh ta trước đây. Anh ta có ít điều để nói với chúng tôi, nhưng ngồi xuống bên cạnh cô gái, và họ lập tức cuốn vào một cuộc trò chuyện rất hăng. Cô nghiêng người về phía trước trên chiếc ghế bành lớn, cái cằm tròn trịa đẹp đẽ của cô tựa vào bàn tay trắng muốt. Anh ta chăm chú nhìn vào mắt cô. Đó là tư thế của tình yêu, nghiêm túc, mãnh liệt, như có chuyện gì sắp sửa diễn ra. Tôi cho rằng cô cảm thấy cần hoàn thiện giả định của mình về những tư tưởng tiến bộ, về sự phi pháp mang tính cách mạng, bằng cách giả vờ yêu một kẻ vô trị. Và người này, tôi nhắc lại, cực kỳ đáng chú ý
