favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Một cảnh chèo thuyền

29/12/2025 22:19

Với Robert Walser, giống Joseph Roth, chúng ta sẽ có ba quyển. Sau Người phụ tá sẽ là Jakob von Gunten và Geschwister Tanner. Giống trong Người phụ tá, Tanner cũng có một cảnh chèo thuyền trên hồ với một phụ nữ - bà chủ nhà. Dưới đây là hai chương mở ra từ đó: những ngày hạnh phúc của mấy anh chị em. 

Chương 4

Sáng hôm ấy, Kaspar và Klara chèo một chiếc thuyền nhỏ sơn màu trên hồ. Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương sáng yên tĩnh. Thỉnh thoảng họ cắt ngang một tàu hơi nước nhỏ; trong chốc lát, những gợn sóng rộng và dịu lan ra, và họ rẽ qua những làn sóng đó. Klara vận chiếc váy tuyết trắng những ống tay rộng lười biếng buông dọc đôi tay và bàn tay đẹp. Bà đã tháo mũ; mái tóc xõa ra, thật vô tình, nhờ một cử chỉ đẹp của bàn tay. Miệng bà mỉm cười hướng sang đôi môi chàng trai. Bà chẳng biết phải nói gì, cũng chẳng muốn nói gì. "Nước đẹp quá, như một bầu trời," bà thốt lên. Vầng trán bà sáng như cảnh hồ và bầu trời quanh họ. Sắc xanh của trời điểm sắc trắng thơm tho lấp lánh. Trắng làm thoáng mờ xanh, khiến nó tinh tế hơn, da diết hơn, rung động dịu dàng hơn. Ánh mặt trời xuyên xuống lơ lửng, như ánh nắng trong mơ. Trong mọi thứ chừng có một nỗi rụt rè; gió phất phơ tóc và khuôn mặt họ. Mặt Kaspar nghiêm nghị, nhưng không lo lắng. Anh chèo mạnh một lúc rồi thả mái chèo; con thuyền tự do lắc lư trôi đi. Anh quay nhìn thành phố đang lùi xa, thấy tháp và mái nhà lấp lánh trong ánh nắng lửng lơ, thấy bóng người tất bật qua cầu. Xe đẩy và xe ngựa nối nhau, xe điện lao qua - tiếng không lẫn vào đâu được. Dây điện rung lên, roi quất, tiếng còi vọng và cả những âm thanh lớn dội lại từ đâu đó. Bỗng chuông mười một giờ vang lên, chen vào sự tĩnh lặng và những tiếng động xa run rẩy. Cả hai cảm thấy một niềm vui không sao tả nổi - với ngày, với buổi sáng, với âm thanh và màu sắc. Mọi thứ dường hòa vào nhau thành một rung động! Đã yêu nhau, họ nghe tất cả dồn vào một âm duy nhất. Một bó hoa đồng nội nằm trên đùi Klara. Kaspar đã cởi áo khoác và lại bắt đầu chèo. Rồi chuông trưa ngân lên, đám người lao động kia tản ra tứ phía như một đàn kiến. Cây cầu trắng chi chít những chấm đen chuyển động. Và khi nghĩ rằng mỗi chấm đen ấy có một cái miệng, cái miệng ấy giờ đang đòi ăn trưa, người ta không thể không bật cười. Họ cảm thấy bức tranh sống ấy lạ lùng làm sao, và họ cùng cười. Họ cũng quay vào bờ, vì rốt cuộc họ cũng là con người và cũng đói; càng đến gần bờ, đàn kiến càng lớn lên; rồi họ bước lên bờ và cũng trở thành chấm kiến. Nhưng họ vẫn hân hoan dạo dưới những tán cây xanh nhạt. Nhiều kẻ tò mò ngoái nhìn cặp đôi kỳ lạ: quý bà váy trắng dài quét đất và gã trai có vẻ lưu manh chẳng buồn mang một cái quần cho ra hồn, trông thật trâng tráo bên cạnh người phụ nữ kia. Con người vẫn quen phẫn nộ và lầm lẫn như thế về đồng loại. Bỗng có người tiến nhanh về phía Kaspar. Người ấy có lý do để chào đón anh hồ hởi. Đó là Klaus, đã nhiều năm không gặp em trai. Phía sau ông là người chị và một ông khách nữa; mọi người chào hỏi lẫn nhau. Người khách lạ tên là Sebastian.

Simon đang ngồi cách đó chưa đầy nghìn bước, trong một gian phòng nhỏ chật ních người đang ăn nhồm nhoàm. Nơi này thường lui tới đủ hạng người phải ăn rẻ và nhanh. Simon thì lại thích cái chỗ hoàn toàn thiếu tiện nghi và thanh nhã ấy. Vả lại anh còn phải căn tiền. Quán ăn do một nhóm phụ nữ lập ra, bọn họ tự xưng là Hội Tiết Độ Và Công Ích. Quả thật ai bước vào đây cũng sẽ phải bằng lòng với một bữa ăn đạm bạc. Thường thì mọi người đều hài lòng, nếu bỏ qua những bực dọc nhỏ nhen thường thấy. Ai cũng có vẻ khoái bữa ăn gồm một đĩa súp, một mẩu bánh mì, một phần thịt, phần rau kèm, và một món tráng miệng nhỏ xinh xinh. Khâu phục vụ chẳng có gì để phàn nàn, chỉ cần nhanh nhẹn hơn một chút; nhưng xét lượng thực khách cồn cào đông đảo, như thế cũng đủ nhanh rồi. Ai cũng nhận được phần mình kịp lúc, dù ai cũng sốt ruột muốn sớm hơn. Đó là một sự luân phiên bất tận: phát đồ ăn, nhận đồ ăn, nuốt chửng đồ ăn. Có kẻ, sau khi nuốt xong, lại ao ước mình chưa đến bước ấy và ghen tị nhìn sang những người còn đang chờ - vì cái cảnh chờ được ăn cũng thật thú vị. Sao người ta ăn nhanh quá vậy? Một thói quen vô lý, ăn nhanh như thế. Phục vụ là mấy cô nàng xinh xắn ở ngoại ô. Thời gian đầu các cô còn vụng về nhưng rồi quen dần - biết né tránh, biết trì hoãn để có thêm thời gian, mà vẫn thỏa mãn những đòi hỏi gấp gáp cháy bỏng. Ở đâu sự đòi căng như thế, người ta sẽ buộc phải phân biệt và cân nhắc thật tinh. Thỉnh thoảng một trong mấy người sáng lập - một quý bà nhân đức - bước vào để xem mọi người ăn uống ra sao. Một bà như thế giơ chiếc lorgnette lên mắt, quan sát món ăn cùng những người đang nhai nuốt nó.

Simon có một cảm tình đặc biệt với những phụ nữ ấy và lúc nào họ xuất hiện anh cũng vui vui, bởi anh luôn có cảm giác các bà hiền hậu đang ghé thăm một gian phòng đầy những đứa trẻ bé nhỏ, nghèo túng, xem chúng có thích bữa tiệc nhỏ này không. "Chẳng phải dân chúng cũng là một đứa trẻ nghèo, bé bỏng, cần phải được trông chừng hay sao?" tiếng ấy dấy lên trong anh - "và chẳng phải tốt hơn sao, nếu việc trông chừng do các bà, những quý bà có tấm lòng nhân hậu, đảm nhận, thay vì những bạo chúa theo nghĩa cổ xưa - dẫu nghĩa ấy có anh hùng hơn?" Biết bao người cùng ăn uống trong căn phòng, hợp lại thành một gia đình yên ổn! Trước hết là các nữ sinh viên. Họ có thời giờ và tiền bạc để ăn ở khách sạn Continental ư? Rồi đến những người phục dịch khoác áo xanh nhẹ, mang ủng, ria mép cứng rậm, với những cái miệng vuông vức ngự trên mặt. Nào phải lỗi họ đâu khi cái miệng họ vuông như thế? Ở khách sạn Royal hẳn cũng có kẻ mang cái vẻ vuông vức quanh ria mép. Chỉ là ở đó sự vuông được trát phủ bằng những nét tròn, nhưng điều đó thì nghĩa lý gì? Rồi cả những cô hầu không còn chỗ làm, những thư lại nghèo, nói chung là những kẻ bị xua đuổi, thất nghiệp, vô gia cư, thậm chí có người chẳng có nổi một địa chỉ. Lại có cả những đàn bà sống bê bối, những mụ tóc chải dáng đâu mà kỳ quái, mặt xanh xao, tay thô kệch, ánh nhìn vừa táo tợn vừa thẹn thò. Tất cả những người ấy - đứng đầu dĩ nhiên là những "anh em sùng đạo" cũng có mặt ở đó - nhìn chung đều cư xử rụt rè và nhã nhặn. Mọi người nhìn nhau trong khi ăn; không một lời, chỉ thỉnh thoảng một câu nhỏ nhẹ lịch sự. Đó là phúc lành thấy được của Công Ích và Tiết Độ. Có cái gì mủm mỉm, đơn sơ, có chút đè nén và lại có chút giải thoát, phủ lên những con người khốn khổ ấy, trong những cung cách của họ - sặc sỡ như một con bướm mùa hè. Ở đây có những người cư xử tinh tế hơn cả kẻ tinh tế nhất trong các nhà quyền quý. Ai biết được họ là ai, hay đã từng là gì, trước khi bước chân vào quán bình dân này? Chẳng phải cuộc đời đã quen gieo số phận loạn xạ như một cái cốc lắc xúc xắc ư? Simon ngồi trong một góc nhỏ, giống như một ô cửa xây lồi, và ăn bơ với mật ong, trét lên một lát bánh mì rồi nhấp một tách cà phê: "Ta còn cần gì hơn vào một ngày đẹp thế này? Chẳng phải bầu trời xanh đầu hạ đang trìu mến ngắm bữa ăn vàng rực của ta qua khung cửa đấy sao? Quả thế, bữa của ta là một bữa vàng. Nhìn mật ong mà xem: sao mà lấp lánh ngọt ngào thế! Vàng chảy mê tơi trên cái đĩa nhỏ trắng tinh này, và khi dùng mũi dao nhọn xén vào, cảm giác như một kẻ đào vàng tìm ra kho báu. Màu trắng của bơ ngay kia nữa - thật tuyệt! Cả màu nâu của miếng bánh mì ngon lành, và đẹp hơn hết là màu sẫm cà phê trong cái tách sạch sẽ, duyên dáng này. Có món nào trên đời đẹp và ngon hơn? Chừng đó cũng đủ làm ta no bụng; và ta cần gì hơn ngoài no bụng để có thể nói ta đã ăn rồi? Nghe đâu có những kẻ xem ăn uống là một văn hóa, một nghệ thuật. Ta chẳng thể nói điều đó về chính mình sao? Tất nhiên là được chứ! Chỉ có điều nghệ thuật của ta khiêm tốn, văn hóa của ta tinh tế hơn, bởi ta thưởng thức cái ít dữ dội và phong phú hơn họ thưởng thức cái nhiều và cái vô cùng của họ. Ta cũng không thích kéo dài bữa; lâu quá có thể đánh mất cơn thèm. Điều quan trọng là phải luôn luôn thấy thích ăn, phải ăn ít và tinh. Đã thế còn có cái này: những cuộc chuyện cay cay với những người lúc nào cũng mới."

Simon vừa thì thầm hoặc vừa nghĩ đến đó thì một ông già tóc bạc đến ngồi xuống chỗ trống cạnh anh. Gương mặt ông lão là một màu xám nhợt nhạt, vêu vao; mũi ông chảy nước, đúng hơn là có một giọt nước lớn treo ở đó, mãi không rơi dù chừng đã nặng lắm. Người ta cảm giác nó sắp rơi đến nơi. Thế mà nó cứ lúc lắc mãi. Ông lão gọi một đĩa khoai tây luộc, chỉ thế, và cẩn thận rắc muối lên từng miếng bằng mũi dao, với một vẻ khoan khoái rườm rà. Nhưng trước đó, ông đã chắp hai tay cầu nguyện với Thượng Đế của ông. Simon cho phép mình một trò nghịch nhỏ: anh lén gọi một phần thịt quay cho ông với cô phục vụ. Và anh phải bật cười trước vẻ kinh ngạc của ông khi món đó được đặt ngay trước mặt ông - chứ không phải ai.

"Vì sao ông cầu nguyện trước khi ăn?" Simon hỏi giản dị.

"Tôi cầu nguyện vì tôi cần như thế," ông lão đáp.

"Vậy tôi rất vui khi được thấy ông cầu nguyện. Tôi chỉ tò mò, không biết cảm xúc nào khiến ông làm thế."

"Có nhiều cảm xúc lắm, chàng trai trẻ ạ! Ví như cậu - chắc cậu không cầu nguyện. Thanh niên thời nay chẳng còn thời gian, cũng chẳng còn muốn làm chuyện đó. Tôi hiểu chứ. Còn tôi, cầu nguyện chỉ là tiếp tục theo thói quen, vì tôi đã tập như thế - và nó đem lại cho tôi an ủi."

"Lúc nào ông cũng nghèo sao?"

"Lúc nào cũng vậy."

Vừa khi ông lão nói xong thì trong phòng ăn sạch sẽ nhưng ẩm thấp nghèo nàn bỗng hiện ra dáng hình tươi đẹp của Frau Klara. Mọi bàn tay đang cầm nĩa, thìa, dao hay quai tách đều thoáng khựng lại. Mọi cái miệng há ra, mọi đôi mắt dán chặt vào hiện diện dường chẳng liên quan gì đến chốn này. Nàng là một quý bà hoàn mỹ - và ngay lúc ấy lại còn hoàn mỹ hơn. Cả đôi mắt và các giác quan của Simon cũng thấy như thể từ bầu trời rộng phất phơ vừa có một thiên thần tách ra, đáp xuống trần gian và đi tìm một cái hố tối nào đó để ban phúc cho những con người ngụ ở đó bằng chính vẻ rạng ngời hạnh phúc của mình. Simon vẫn hình dung một quý bà nhân đức như thế: một dáng hình tiến về phía những kẻ khốn cùng - chẳng có gì ngoài cái đặc ân mơ hồ được roi vọt của lo âu quất không ngừng nghỉ. Trong ngôi nhà nghèo khó ấy, hiện diện của Klara dường hoàn toàn tự nhiên, như thể nàng là một sinh thể cao hơn vừa đáp xuống từ một cõi khác, một tầng lớp và thế giới khác. Điều kỳ diệu sáng lòa ấy khiến những con người rụt rè mở choàng mắt, hơi thở như nghẹn lại, phải giữ tay này bằng tay kia để dao không rơi xuống vì run. Vẻ đẹp của Klara đột ngột gieo vào người ta một ý nghĩ đau đớn. Tất cả bỗng nhớ ra - có lẽ không phải ai cũng rõ ràng - rằng trên đời còn có những điều khác nữa ngoài lao động hành xác và nỗi lo cơm áo qua ngày. Một sức sống, một vẻ tươi đầy, phồn thực, mỉm cười như thế - họ gần như đã không còn có thể hình dung, bởi đời họ từ lâu đã tan loãng trong tầm thường đen tối, bị nghiền nát bởi lo âu, phải bám chặt vào thấp kém chui nhủi. Tất cả bỗng lại ùa vào họ, không thật sáng rõ nhưng đau đớn. Bởi thấy một vẻ đẹp mà ta tưởng như chỉ hít lấy hương thôi đã đủ say là một nỗi đau; nụ cười ấy giết chết người ta nếu lỡ nghĩ đến chuyện mỉm cười đáp lại. Vì thế mà họ đều vô thức đều nhăn nhó làm điệu bộ, hướng gương mặt méo xệch về dáng hình lồng lộng - họ ngồi chen chúc trên những cái ghế thấp còn nàng cao ráo đứng thẳng lưng. Nàng chừng đang tìm ai. Simon vẫn ngồi yên trong góc, mỉm cười nhìn nàng đang đưa mắt tìm. Hồi lâu nàng vẫn không để ý đến anh dù căn phòng tương đối nhỏ; có lẽ mắt nàng phải cố làm quen với khung cảnh tối tăm nhộn nhàng và định hình những gương mặt trước đây vốn chẳng quen để ý. Nàng đã bắt đầu có vẻ bực bội định quay đi thì mắt lướt qua Simon và nhận ra anh. "Ra là anh ngồi đây, lại còn bị ép vào một góc thế này?" nàng thốt lên, vui mừng cực độ ngồi xuống cạnh anh, chen giữa người bạn trẻ tuổi của nàng và ông lão có cái mũi vẫn còn lúc lắc giọt nước lấp lánh to tướng. Ông lão đang ngủ. Ở những nơi như thế này không được phép ngủ, nhưng người già ngủ gật sau khi ăn là chuyện thường - nhọc quá làm sao mà cưỡng được. Có lẽ ông vừa cuốc bộ một quãng dài vô ích khắp các phố. Có lẽ ông đã hỏi xin việc khắp những chỗ mà suy nghĩ còn gắng chỉ cho ông. Mệt lắm rồi, ông vẫn cố gắng đạt được điều gì đó trong ngày hôm nay, dốc cạn sức mình để leo lên một con dốc - vì thành phố nằm trên triền đồi - và bị từ chối ngay trên đó - cũng như dưới này. Rồi ông lại xuống dốc, mang cái chết trong tim, kiệt sức, lảo đảo đến tận đây. Việc ông già ấy, như người ta có thể đoán, vẫn còn đi tìm việc, vẫn còn muốn làm việc - ông, già đến thế - chỉ ý nghĩ ấy thôi đã đủ thảm sầu rùng rợn. Nhưng ý nghĩ ấy rất dễ đến với ai ngồi cạnh ông và nhìn ông ngủ như vậy - đầu bất động kỳ quái, hai tay chống lấy đầu. Klara nói: "Anh trai anh đến rồi, Simon, mặc quân phục sĩ quan; cả chị anh nữa, và một ông nữa tên Sebastian." Nghe thế, Simon liền trả tiền phần mình, và họ cùng rời khỏi quán. Khi họ đã đi, một cô hầu phát hiện ông lão đang ngủ, cô lay và lắc ông rồi, với vẻ nghiêm khắc trêu đùa: "Không được ngủ ở đây! Này, ông có nghe không? Ở đây không được ngủ!" Ông lão choàng tỉnh dậy.

Sau ngày ấy là một buổi tối tuyệt đẹp. Cả thế giới dường đang dạo bước bên bờ hồ xinh tươi, dưới những tán cây bao la, lá rộng. Khi tản bộ ở đây, giữa bao nhiêu người vui vẻ, khe khẽ chuyện trò, người ta cảm giác như mình đang bước vào truyện cổ tích. Thành phố bừng lên trong lửa hoàng hôn, và về sau, nó rực đen, thẫm lại trong than hồng và dư quang của mặt trời đã lặn. Mặt trời mùa hạ có điều gì đó thật kỳ diệu. Mặt hồ lấp lánh trong bóng tối, vô số đèn ánh lên sâu trong làn nước yên. Những cây cầu lung linh; và khi đi qua cầu, người ta có thể thấy lướt qua phía dưới những con thuyền nhỏ sẫm. Những cô gái mặc váy sáng màu ngồi trong thuyền nhẹ; đôi khi, từ một thuyền lớn hơn, phẳng, trôi chậm và nghiêm trang, ngân lên tiếng đàn hạc tay ấm áp gọi mời. Âm thanh tan vào đêm rồi trồi lên, trong và ấm, tối thấu tim. Âm thanh đơn sơ ấy - một người chèo thuyền nào đó đang chơi - lan xa quá! Đêm dường nhờ thế mà lớn hơn, sâu hơn. Từ bờ hồ xa, ánh đèn những xóm thôn hắt sang, như những viên đá đỏ lấp lánh trên bộ áo dày sẫm màu của nữ hoàng. Cả mặt đất dường tỏa hương, nằm yên như cô gái đang ngủ. Vòm trời đêm rộng lớn tối đen trải mọi tầm mắt, trên núi và trên những ánh đèn. Mặt hồ mang trong nó một điều gì như không còn biên giới, còn bầu trời thì lại như đang quấn lấy, ôm lấy, che phủ mặt hồ. Từng nhóm người tụ lại. Những người trẻ tuổi như đang mê; và trên tất cả các băng ghế, người ta ngồi sát vào nhau, nghỉ ngơi lặng lẽ. Những đàn bà phù phiếm, kiêu kỳ, thích làm dáng không thiếu, và cả những đàn ông chỉ chăm chăm nhìn họ, bước theo sau họ, lúc ngập ngừng, lúc láo liên, cho đến khi cuối cùng cũng gom đủ dũng khí cất lời. Nhiều người trong tối hôm ấy đã được thông não một trận ra trò, như người ta thường nói.

Simon đi cạnh Klaus, rất sung sướng vì có thể, bằng những câu trả lời đúng đắn và giản dị, khiến người anh trai - cứ hỏi hết chuyện này sang chuyện khác - tin rằng mình không phải là một kẻ đã lạc lối vô phương cứu nữa. Anh nói - hơi tự hào nhưng cũng khiêm tốn trước người anh lớn, người đôi khi hỏi lẩn thẩn như một đứa trẻ chưa được uốn nắn, nhưng lúc nào cũng đầy lo lắng thương yêu. Họ nói cùng nhau những câu dài, đẹp, uốn lượn, như thể tự bật ra, và Klaus lấy làm vui khi thấy em trai hiểu biết nhiều điều mà thoạt đầu ông tưởng Simon -  ở hoàn cảnh ấy - hẳn sẽ đem ra giễu cợt. "Lâu nay anh không nghĩ em nghiêm túc như thế!" "Em không quen tỏ ra rằng mình có sự kính trọng đối với nhiều điều," Simon đáp. "Những chuyện như thế, em thường giữ cho riêng mình, vì em nghĩ: phô ra cái vẻ nghiêm trọng thì ích gì, một khi số phận đã định - hay nói đúng hơn, có lẽ đã chọn cho mình vai kẻ ngốc? Có vô số số phận và em muốn cúi đầu trước tất cả. Có cách nào khác đâu? Ngoài đó ra, em muốn xem ai buộc tội em cúi đầu rầu rĩ hay tuyệt vọng. Em đã nói thẳng với không ít người rồi - chuyện bên trong em thực chất là như thế nào." Simon trình bày bằng những câu trôi chảy, nhấn nhá đúng chỗ, bình tĩnh và hòa nhã vô cùng, đến mức Klaus chẳng thể coi đó là lời lẽ chán đời mà là sự kiếm tìm của tâm hồn đứa em trai - một cố gắng làm sáng tỏ vị trí của mình đối với thế giới. Ông nhận ra Simon có những phẩm tính tốt, nhưng chừng sợ rằng những phẩm tính ấy chỉ bao quanh cậu hời hợt, như những thứ chơi đùa, mời gọi, nhảy múa, thay vì cắm rễ sâu bên trong. Trong ngọn lửa của cuộc chuyện trò, một tâm hồn như thế dễ dàng tự đưa mình vào thế giới của sự đẹp và đúng, say mê với hình ảnh mình tạo ra - nhất là trong những khoảnh khắc gặp nhau sau quãng dài cách biệt. Dẫu vậy, Klaus rất vui vì cậu em, thốt lên với em những lời tốt đẹp và xoa dịu với một nỗi hân hoan không giấu giếm. Đằng sau họ, cách một đoạn, Klara và Kaspar đi sát bên nhau. Họa sĩ đang say vẻ đẹp và âm nhạc của đêm. Anh mơ những con ngựa phi qua vườn đêm, mang trên lưng những nữ kỵ sĩ duyên dáng, mảnh mai, váy áo phất phơ chạm vào vó ngựa. Rồi anh phá lên cười, một tiếng cười ngỗ ngược, không kiềm chế, cười tất cả: cười người ta, cười phong cảnh, cười bất cứ gì lọt vào mắt mình. Klara không hề tìm cách làm anh dịu lại, trái lại, bà thích thú những phóng túng của một tâm hồn đẹp. Bà yêu vô cùng cái nét thanh tân, táo bạo, thậm chí hơi hợm hĩnh của bản tính thiếu niên đang xoay sở để thành đàn ông. Dẫu anh có buông những câu thậm tệ nhất, những câu nếu phát ra từ miệng người khác hẳn bà sẽ thấy ngu xuẩn nực cười, bà lại yêu chúng ở anh. Con người này có gì mà lại đẹp vô điều kiện đến thế trong mắt bà - trong mọi tình thế, mọi cử chỉ, cách khởi sự và ngừng, cách nói và im lặng? Đối với bà, anh dường vượt trội mọi đàn ông khác - vậy mà anh còn chưa hẳn là đàn ông. Bước chân anh - bà phải tả sao đây - vừa vụng dại vừa đầy uy lực. Cả con người tươi trẻ ấy không có chút gì kích động, nhưng lại có gì đó nhút nhát, ngốc nghếch, sâu kín trẻ thơ. Bình thản đến thế mà lại bùng cháy đến thế! Bà thấy mái tóc anh sáng lên trong bóng tối, trẻ trung gợn sóng. Rồi cả dáng đi cùng dáng đầu - kiêu hãnh kín đáo, băn khoăn, trầm tư. Nếu nghĩ đến ai đó, anh sẽ mơ đẹp biết bao. Kaspar đã lặng dần. Bà cứ nhìn, nhìn mãi. Ở đây, trong đêm những người dạo bước, thật đẹp biết bao - đẹp đến muốn tan ra - khi ngắm anh. Ngắm anh, với bà, còn đẹp hơn cả hôn anh. Miệng anh hé ra một vẻ đau đớn; có lẽ anh chẳng nghĩ gì, không, tuyệt nhiên không - chỉ là hình dáng đôi môi khiến bà cảm thấy một nỗi đau mơ hồ. Đôi mắt anh lạnh và tĩnh lặng, nhìn xa xăm, như thể ở đó có cái gì tốt đẹp hơn để trông vào. Chúng dường như nói: "Chúng ta, chúng ta nhìn thấy cái đẹp; các người đừng tự làm khổ mình nữa, những đôi mắt khác, các người sẽ không bao giờ thấy được điều chúng ta đang thấy!" Đôi mày anh cong lên thật đáng yêu, thật lo lắng, như thể hai thiên thần che chở cho đứa trẻ mắt kia - đôi mắt trông ra thế giới như thể có thể bị thương bất cứ lúc nào. "Mắt của ai cũng dễ bị thương, nhưng nhìn mắt chàng đột nhiên mình đau nhói - như thể mình đã thấy chúng bị mảnh vụn đâm vào vậy. Chúng quá to, quá lộ, dường như chẳng quan tâm điều gì, hững hờ và lúc nào cũng mở lớn; chúng quá dễ bị thương!" bà thầm thì kêu lên. Bà thậm chí còn chẳng biết anh có yêu bà hay không, nhưng điều ấy có nghĩa gì đâu - bà yêu anh, và thế là đủ, ừ, phải thế, bà gần như muốn bật khóc. Đúng lúc ấy, Simon và Klaus quay lại để tìm hai người. Klara cố gắng tự trấn tĩnh hết mức có thể rồi khoác tay Simon và tiến lên trước. "Hãy để tôi nhìn vào mắt anh - anh có đôi mắt đẹp biết bao, Simon, người ta có thể nằm trong cái nhìn ấy như nằm trên giường, mọi thứ đều yên ổn và người ta cầu nguyện."

Klaus và Kaspar đi cạnh nhau không nói gì. Họ không còn muốn hiểu nhau nữa, kể từ vài năm trước, khi giữa họ nảy ra một chuyện cãi vã và từ đó không gặp lại, cũng chẳng viết cho nhau. Klaus mang chuyện ấy trong lòng, Kaspar thì để nó trôi qua như một điều tất yếu. Anh tự nhủ: bị chính anh ruột mình không hiểu cũng nằm trong trật tự của mọi sự. Anh không thích quay đầu nhìn những chuyện đã qua - những chuyện, chính vì đã qua rồi, không đáng nghĩ tiếp nữa. Bản tính anh là đi thẳng phía trước; anh cho rằng nhìn lại những quan hệ cũ chỉ có hại. Khi sự im lặng bên cạnh Kaspar trở nên không sao chịu nổi, Klaus bắt đầu nói đến nghệ thuật của em và khuyến khích em hãy một lần sang Ý để đạt được sự chín muồi cần thiết của một nghệ sĩ.

Kaspar kêu lên: "Thà để quỷ bắt tôi đi ngay còn hơn! Sang Ý! Tại sao phải sang Ý? Tôi bị bệnh chắc? Và sang cái xứ cam thông ấy thì sẽ khỏe lên à? Cần gì sang Ý trong khi tôi có thể ở đây và tôi thích ở đây? Ở Ý tôi có thể làm gì ngoài vẽ, và chẳng phải ở đây tôi cũng vẽ được sao? Anh nghĩ vì Ý đẹp nên tôi phải đến đó. Chẳng lẽ ở đây không đủ đẹp? Ở Ý có thể đẹp hơn nơi tôi đang đứng - nơi tôi sáng tạo - nơi tôi thấy biết bao cái đẹp sẽ còn sống lâu khi tôi đã thành cát bụi ư? Có ai sáng tạo mà lại đi Ý được? Cái đẹp ở Ý mà lại hơn ở đây à? Có chăng là cầu kỳ hơn - và chính vì thế mà tôi chẳng thèm nhìn nó. Nếu sáu mươi năm nữa tôi đủ giỏi để vẽ được một con sóng hay một đám mây, một cái cây hay một cánh đồng thì chúng ta sẽ thấy không sang Ý có phải là một quyết định khôn ngoan hay không. Tôi có thể mất mát gì vì chưa thấy những cột đền đó, những tòa thị chính tầm thường đó, những đài phun nước và vòm cong đó, những cây thông và nguyệt quế đó, những trang phục và công trình lộng lẫy đó? Chẳng lẽ con mắt nhất định phải ngốn hết mọi thứ hay sao? Tôi muốn phát điên mỗi khi có ai bảo tôi sang Ý để trở thành một nghệ sĩ giỏi hơn. Ý - đó là cái bẫy người ta rơi tòm vào khi sự dốt nát của họ đụn cao như tháp. Người Ý có sang đây khi họ muốn vẽ hay làm thơ không? Tôi được gì khi mê say những nền văn hóa đã qua rồi? Những thứ đó, nếu thật trung thực với mình, có thể thực sự làm phong phú tinh thần không? Không! Tôi sẽ chỉ làm nó rối tung lên và hèn đi. Một nền văn hóa cũ, dẫu huy hoàng bao nhiêu, dẫu vượt trội chúng ta về sức mạnh và vẻ đẹp, thì cũng đâu cần đào bới như chuột chũi; tôi ngắm nó - nếu có dịp và thấy thích - trong sách, vốn lúc nào cũng sẵn bên tôi. Cái đã mất đi, cái đã qua đời đâu quý giá đến thế, khi quanh tôi, trong hiện tại thường bị chê là xấu xí và khắc nghiệt, tôi thấy vô vàn hình ảnh làm tôi say mê và những vẻ đẹp khiến hai mắt tôi đầy tràn. Tôi giận muốn xé thịt da khi nghe đến cái sự cuồng Ý ấy - nó khiến chúng ta cứ mang một nỗi ngượng ngùng kỳ quặc. Có thể tôi sai, nhưng không một tên quỷ râu xồm nào, dẫu hắn làm ô uế cả khoảng không ngay cạnh tôi và vung vẩy cái đinh ba ghê tởm, có thể lôi tôi sang Ý được."

Klaus buồn bã và đau lòng bởi sự nóng nảy của Kaspar - cái cách anh đo mọi sự. Anh vẫn luôn như thế; không biết phải làm thế nào mới đến được một sự hòa hợp với anh. Klaus im lặng đưa tay ra - vì hai người đã đến trước cửa nhà Klaus. Trong căn phòng đơn điệu của mình, Klaus tự nhủ: "Thế là ta lại mất nó lần nữa, chỉ vì một lời nói vô can, thiện ý, nhưng quả thực hơi thiếu thận trọng. Ta hiểu nó quá ít, thế thôi, và có lẽ ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được nó. Đời sống của chúng ta quá khác nhau. Nhưng biết đâu một lần khác, tương lai - cái không ai dò được - sẽ đưa anh em ta lại gần nhau. Người ta phải đợi, phải chịu đựng, để dần dần trở nên chín chắn, tốt đẹp hơn." Klaus thấy cô đơn vô cùng và quyết định sớm lên đường quay lại nơi mình đang làm việc.

 

Chương 5

Sebastian là một nhà thơ trẻ vẫn thường đứng trên một sân khấu nhỏ để đọc thơ cho công chúng nghe. Những lúc ấy, vì cái tính nôn nóng của mình, anh ta lúc nào cũng thành ra có phần lố bịch. Thuở niên thiếu, anh đã bỏ nhà, sống ở Paris từ năm mười sáu tuổi và trở về khi vừa tròn hai mươi. Cha anh là giám đốc âm nhạc của thị trấn nhỏ nơi Hedwig, chị của ba anh em, cũng đang sống. Ở đó, Sebastian sống một cuộc đời lơ ngơ kỳ quặc: ngày này qua ngày khác, anh nằm hoặc ngồi bất động trong một căn gác bụi bặm, cao và hẹp, duỗi người trên chiếc giường nhỏ nơi anh ngủ mỗi đêm, chẳng buồn thu xếp cho gọn gàng. Cha mẹ xem anh như một thứ hỏng hóc và để mặc anh muốn làm gì thì làm. Họ không đưa tiền cho anh vì cho rằng chẳng nên tiếp tay cho những cơn phóng đãng. Không gì có thể khiến Sebastian quay lại với học hành nghiêm túc; anh lang thang khắp núi rừng, cuốn sách kẹp dưới tay hay nhét trong túi, có khi mấy ngày không về nhà, ngủ qua đêm - khi thời tiết còn cho phép - trong những căn lều mục nát không người qua lại, đến cả lũ mục đồng thô ráp cũng chẳng buồn bước vào, hoặc trên những đồng cỏ gần trời hơn bất cứ nền văn minh nào của loài người. Anh lúc nào cũng mặc cùng một bộ đồ vàng nhạt sờn rách, để râu, nhưng lại rất chú ý để trông dễ coi và sạch sẽ. Anh chăm chút móng tay hơn là đầu óc, mà anh để hoang như cỏ dại. Anh đẹp trai, và vì ai cũng biết anh làm thơ nên quanh anh luôn có thứ hào quang nửa buồn nửa buồn cười, và nhiều người nghiêm túc trong thị trấn chân thành thương anh, săn sóc cho anh bất cứ lúc nào có thể. Vì anh là một bạn đồng hành tuyệt vời, người ta thường mời anh đến các buổi tụ họp buổi tối như một cách bù đắp việc cuộc đời chẳng đặt lên vai anh bất cứ nhiệm vụ nào có thể thỏa mãn khát khao hành động. Sebastian thực ra sở hữu khát khao ấy ở mức cao, nhưng anh đã đi quá xa khỏi lối mòn của những mục tiêu được xã hội đề ra. Có lẽ anh đã khao khát quá dữ dội, và khi nhận ra nó không giúp gì được mình, anh chẳng còn muốn cố gắng nữa. Anh đàn những khúc tự mình sáng tác bằng đàn luýt và hát, giọng ấm và mềm. Bất công duy nhất - và quả thật là bất công lớn - mà người ta gây ra cho anh là chuyện họ nuông chiều anh từ nhỏ, khiến anh tin chắc rằng mình là một thiếu niên thiên tài ba. Một ảo tưởng kiêu hãnh như thế khoan sâu vào trái tim nhạy cảm của một đứa trẻ. Những đàn bà trưởng thành ưu ái bầu bạn với cậu bé sớm hiểu rộng và khiến họ rung động theo cách chẳng thể nào so sánh - với cái giá là sự phát triển lành mạnh của cậu. Sebastian thường nói: "Thời huy hoàng của tôi đã nằm sau lưng từ lâu rồi." Thật đáng sợ khi nghe một chàng trai trẻ nói những lời như vậy. Thực tế, bất cứ việc gì anh làm, muốn làm, anh đều làm bằng một trái tim mệt mỏi, lạnh lẽo, chỉ dùng một nửa, và kết quả là anh chẳng làm gì, chỉ còn nghịch với chính mình. Hedwig từng bảo anh: "Sebastian, tôi tin là anh thường khóc vì mình." Anh gật đầu xác nhận. Hedwig thương xót đôi khi dúi cho anh chút tiền hay đồ gì đó, để làm cho cuộc sống của anh dịu dàng đôi chút. Lần này, nàng cũng đưa anh theo trên chuyến thăm các anh trai. Vào buổi tối mà Klara ngất ngây mơ mẩn, Klaus buồn bã cô đơn, Simon hân hoan, Kaspar bực bội, Hedwig và nhà thơ của nàng cũng đi dọc bờ hồ, chậm rãi. Còn nói được gì nữa, thế nên họ lặng im. Kaspar đi ngược chiều bắt gặp họ: "Tôi nghe nói anh đang làm một bài thơ phản chiếu cuộc đời mình. Làm sao anh có thể tái hiện được một cuộc đời, khi mà anh hầu như chưa sống? Nhìn lại mình xem: mạnh mẽ và trẻ trung như thế mà lại muốn rúc sau bàn viết để ca tụng đời mình trong thơ. Hãy làm điều đó khi anh đến tuổi ngũ tuần. Còn bây giờ, thú thật, tôi thấy một thanh niên làm thơ là điều đáng xấu hổ. Đó không phải là việc làm mà là trốn chạy. Tôi sẽ không nói gì nếu đời anh đã trọn vẹn và khép lại bởi một kinh nghiệm lớn, dịu êm nào - điều cho phép con người nhìn lại những đức hạnh và lầm lạc của mình. Nhưng anh thì dường như chưa từng phạm lỗi, cũng chưa từng làm được điều gì tốt đẹp... Hãy làm thơ khi anh đã đứng đó như một tội nhân hoặc một thiên thần. Nếu không, tốt hơn hết là đừng làm thơ."

Kaspar không có ấn tượng hay về Sebastian, vì thế anh chế nhạo. Về những con người bi kịch, anh vốn chẳng có chút hiểu biết nào, hay đúng hơn, vì hiểu họ quá dễ dàng, quá rõ, anh chẳng xem trọng họ. Thêm nữa, tối nay tâm trạng anh gần như quỷ quái. Hedwig liền đứng ra bênh vực kẻ tội nghiệp đang bị xúc phạm và chẳng thể tự bảo vệ mình. "Những gì anh vừa nói, Kaspar, chẳng đẹp chút nào," nàng cất tiếng trách với sức nóng mà niềm vui tranh đấu đem lại cho nàng, "và cũng chẳng khôn ngoan. Anh thích thú khi làm tổn thương một người mà lẽ ra ai cũng nên nể trọng khoan dung vì bất hạnh của anh ta. Cứ cười đi, tha hồ mà cười. Anh rồi cũng sẽ hối tiếc những lời vừa nói. Nếu không quen anh đến thế, hẳn em đã phải coi anh là một gã thô bạo thích hành hạ người khác. Người ta có thể hành hạ một con vật nhỏ bé bất lực, cũng có thể hành hạ một con người khốn khổ. Những kẻ không tự vệ quá dễ đánh thức nơi kẻ mạnh cái khoái cảm làm đau. Hãy vui vì mình mạnh, nhưng hãy để những kẻ yếu yên thân. Sức mạnh của anh trở nên tồi tệ khi anh dùng nó để giày vò kẻ yếu. Tại sao đứng vững trên đôi chân mình chưa đủ, anh còn phải kê chân lên gáy những kẻ đang loạng choạng kiếm tìm, để họ càng mất phương hướng và ngã nhào xuống đáy những cơn sóng tuyệt vọng? Chẳng lẽ tự tin, dũng khí, sức mạnh và ý chí mục đích lúc nào cũng phải phạm tội - tội thô lỗ, vô tâm, thiếu tế nhị với những người khác, những người không hề cản trở chúng, những người chỉ đứng đó lắng nghe tha thiết âm điệu của danh dự, của kính trọng, của thành công - dành cho kẻ khác ư? Có cao đẹp và tốt lành gì khi xúc phạm một tâm hồn đang khao khát? Nhà thơ quá dễ bị tổn thương - ôi, đừng bao giờ làm tổn thương nhà thơ. Mà thật ra em cũng chẳng nói riêng anh đâu, Kaspar bé nhỏ của em, bởi anh đã là gì ghê gớm ở đời này? Anh cũng chưa là gì cả, và chẳng có lý do gì để chế giễu những người cũng chưa là gì như anh. Nếu anh phải vật lộn với số phận, vậy thì hãy để người khác, theo cách họ có thể, cũng được vật lộn. Hai người đều đang vật lộn, thế mà lại còn chống đối nhau? Thật dại dột và vô lý. Đã đủ những đau đớn chờ sẵn cả hai trong lao nhọc nghệ thuật - với những mưu mẹo, lầm lạc, hứa hẹn rồi thất bại - vậy mà các anh còn muốn gây thêm đau đớn cho nhau à? Nếu em là họa sĩ, em sẽ là anh em tốt của thi sĩ. Người ta chẳng nên quá sớm khinh thường một kẻ lầm lạc, một kẻ có vẻ chậm chạp hay bất động. Chỉ trong khoảnh khắc, từ những giấc mơ dài u tối nhất, mặt trời của hắn, thơ của hắn, có thể trỗi dậy! Và lúc ấy, hãy xem những kẻ vội vàng khinh rẻ có đứng đơ ra không? Sebastian đang vật lộn trung thực với cuộc đời - chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để người ta trân trọng và yêu quý anh ấy. Làm sao có thể chế nhạo một trái tim mềm như thế? Hãy xấu hổ đi, Kaspar, và đừng bao giờ để em, nếu anh còn thương em một chút nào, phải nổi giận với anh như thế nữa. Em không thích chuyện này chút nào. Em quý Sebastian, bởi em biết anh ấy có can đảm thừa nhận sai lầm của mình. Dẫu sao tất cả những điều này cũng chỉ là lời nói gió bay. Nếu không muốn đi cùng bọn em, anh cứ việc đi. Sao trông mặt anh lại thế kia, Kaspar! Chỉ vì một cô gái có diễm phúc là làm em gái anh thuyết cho anh một bài mà anh định giận ư? Đừng, đừng thế. Làm ơn. Tất nhiên anh có thể chế nhạo một nhà thơ - sao lại không. Em quá nghiêm túc rồi. Tha lỗi cho em nhé."

Một nụ cười mỏng mảnh, rụt rè, dịu dàng đùa nơi khóe môi Sebastian trong bóng tối. Hedwig vỗ về anh trai mình thật lâu, cho đến khi anh vui. Kaspar diễn lại, theo lối hài hước, bài diễn thuyết khí thế của nàng và cả ba cùng cười vang. Riêng Sebastian cười đến oằn người. Dần dần, dưới những tán cây, mọi thứ trở nên yên tĩnh và trống vắng; người ta đã về nhà, những ánh đèn mộng mị; nhiều đèn đã tắt và phía xa không còn lấp lánh. Ở vùng quê, hình như đèn đóm bao giờ cũng tắt sớm hơn; những ngọn núi xa nằm đó như những thân thể đen thẫm chết lặng. Thế nhưng vẫn còn lác đác đôi ba người chưa chịu về, trông như thể định thức suốt đêm dưới bầu trời này để trò chuyện cùng nhau.

Simon và Klara ngồi trên một chiếc ghế dài, chìm trong những cuộc chuyện dài lặng lẽ. Họ có biết bao điều để nói với nhau - có thể nói mãi không bao giờ ngừng. Klara lúc nào cũng muốn nói về Kaspar, còn Simon thì chỉ muốn nói về người đang ngồi cạnh. Anh có một lối lạ lùng, tự do và nồng nàn cởi mở khi nói về những người đang ở gần anh, đang ngồi hay đứng cạnh lắng nghe anh. Cứ tự nhiên thế thôi - anh luôn luôn cảm thấy sâu sắc nhất những người khiến anh cất tiếng, và vì thế anh nói về họ, chứ không phải về những người vắng mặt. Klara thì chỉ nghĩ đến người vắng mặt. "Anh không khó chịu sao," bà hỏi, "khi ta chỉ nói về anh ấy?" "Không," Simon đáp, "tình yêu của Kaspar cũng là của tôi. Tôi vẫn luôn tự hỏi liệu có bao giờ một trong hai chúng tôi sẽ yêu? Tôi luôn xem tình yêu là điều kỳ diệu - điều mà tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều không xứng. Tôi đọc nhiều trong sách về tình yêu; lúc nào tôi cũng yêu những kẻ đang yêu. Khi còn là học trò, tôi có thể cúi xuống những cuốn sách ấy hàng giờ, run rẩy bồi hồi và hốt hoảng cùng họ. Ở đó gần như bao giờ cũng có một người phụ nữ kiêu hãnh và một người đàn ông còn kiêu hãnh hơn - một người thợ hoặc một anh lính quần áo sơ sài. Người phụ nữ thì luôn luôn là một quý bà. Ngày ấy, những chuyện tình của người bình dân chẳng bao giờ khiến tôi động lòng được. Cảm quan của tôi lớn lên cùng những cuốn sách ấy và lại chìm vào đó mỗi khi tôi gấp sách. Rồi tôi bước vào đời và quên hết. Tôi gắn chặt mình vào ý nghĩ tự do nhưng vẫn mơ được kinh nghiệm tình yêu. Ích gì đâu nếu tôi bực bội vì tình yêu xuất hiện mà không dành cho tôi? Thật trẻ con quá thể. Thậm chí tôi gần như vui vì nó không chọn tôi mà chọn một người khác. Tôi muốn thấy nó trước, rồi mới sống nó. Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ sống nó. Tôi nghĩ cuộc đời dành cho mình điều khác, nó có kế hoạch khác cho tôi. Nó để tôi yêu mọi thứ nó ném đến trước mắt tôi. Tôi vẫn có thể yêu bà, Klara, theo một cách khác - có lẽ ngớ ngẩn hơn. Chẳng ngớ ngẩn sao bởi tôi biết rõ rằng nếu bà muốn, tôi có thể chết vì bà? Muốn chết vì bà? Chết vì bà, đối với tôi, chẳng có gì là kỳ lạ. Tôi không coi trọng mạng sống của mình, chỉ coi trọng mạng sống của người khác. Thế mà tôi yêu đời lắm - tôi hy vọng nó sẽ cho tôi cơ hội được vứt bỏ nó một cách đàng hoàng. Tôi đang nói những điều thật dại dột, phải không? Để tôi hôn đôi tay bà, để bà cảm thấy tôi thuộc về bà. Dĩ nhiên tôi không phải của bà, và bà sẽ chẳng bao giờ muốn đòi hỏi gì ở tôi - vì bà còn có thể đòi hỏi gì ở tôi kia chứ. Nhưng tôi yêu những phụ nữ như bà, và khi người ta yêu một phụ nữ, người ta thích tặng nàng một món quà - thế nên tôi tặng bà con người tôi, vì tôi chẳng biết tặng gì hơn. Có lẽ tôi có thể có ích cho bà: tôi có thể vì bà mà chạy bằng đôi chân này; tôi có thể im lặng khi bà muốn ai đó im lặng vì bà; tôi có thể nói dối, nếu bà rơi vào cảnh phải nhờ đến một kẻ nói dối trơ trẽn. Có những hoàn cảnh cao quý như thế đấy. Tôi có thể bế bà trên tay nếu bà ngã quỵ, và tôi có thể bế bà qua những vũng nước để chân bà khỏi bẩn. Nhìn tay tôi xem. Chẳng phải trông chúng như thể đã sẵn sàng nâng bà, mang bà đi sao? Bà sẽ mỉm cười nếu tôi bế bà, và tôi cũng sẽ mỉm cười, vì một nụ cười - miễn nó đừng thô tục - bao giờ cũng gọi một nụ cười khác. Món quà này - mà tôi dâng lên bà - là món quà sống và vĩnh cửu; bởi con người, kể cả kẻ bình thường nhất, cũng là vĩnh cửu. Tôi vẫn sẽ thuộc về bà, ngay cả khi bà đã chẳng còn là gì nữa, thậm chí chẳng còn là một hạt bụi; bởi món quà bao giờ cũng sống lâu hơn người nhận, để nó có thể than khóc khi mất chủ nhân của mình. Tôi sinh ra để làm món quà; tôi luôn thuộc về một ai đó; tôi khó chịu vô cùng nếu một ngày lang thang mà không tìm được ai để dâng mình cho. Giờ tôi thuộc về bà - dù tôi biết bà chẳng xem tôi ra gì. Bà buộc phải xem tôi chẳng đáng gì. Người ta vẫn thường khinh rẻ những món quà như thế. Tôi chẳng hạn - nghĩ đến chuyện quà cáp là lòng tôi đầy khinh miệt. Tôi gần như ghét bị tặng quà. Bởi thế số phận muốn rằng chẳng ai yêu tôi; vì số phận vốn sáng suốt và biết nhìn xa. Tôi sẽ không chịu nổi tình yêu, nhưng tôi không chịu đựng được sự không yêu. Người ta không được yêu kẻ muốn yêu - vì yêu hắn sẽ chỉ quấy rầy sự thành kính với tình yêu của hắn. Đừng yêu tôi. Bà yêu người khác - điều ấy làm tôi hạnh phúc, bởi như vậy, xin hiểu cho tôi, bà đã mở con đường để tôi được yêu bà. Tôi yêu những gương mặt quay khỏi tôi, hướng đến một đối tượng khác. Tâm hồn - chính nó là họa sĩ - yêu ma lực ấy. Một nụ cười đẹp biết bao khi nó đi qua một đôi môi mà ta chỉ đoán, chứ không nhìn tận mắt. Bà sẽ khiến tôi say mê bằng cách ấy. Bà nghĩ rằng bà không cần phải khiến tôi say mê sao? Nhưng giờ tôi nhớ ra rồi: đúng là chẳng cần, vì đối với bà tôi không còn đủ sức để phán xét - cùng lắm chỉ còn đủ sức để cầu xin. Nhưng tôi chẳng còn biết mình đang nói gì nữa."

Klara khóc vì lời tỏ bày của anh. Bà đã kéo anh sát lại từ lâu và với đôi tay đẹp, lạnh đi vì khí đêm, bà chạm vào đôi má nóng bừng của anh. "Những gì anh vừa nói với tôi, anh đâu cần thốt ra… tôi biết mà, tôi biết chứ, tôi biết..." Giọng bà có một sự dịu dàng mà người ta dùng để trấn an những con vật nhỏ khi vô tình làm chúng đau và muốn khiến chúng tin tưởng lại. Bà vui, và giọng bà réo rắt những âm cao, ngân dài của niềm vui. Cả cơ thể bà như cùng cất tiếng khi bà nói: "Anh thật đúng khi yêu tôi - đúng vào lúc tôi buộc phải yêu. Giờ tôi sẽ yêu thêm lần nữa, đầy hân hoan. Có thể rồi tôi sẽ bất hạnh, nhưng ôi, tôi sẽ bất hạnh với biết bao khoái lạc. Với chúng tôi - với đàn bà - chỉ có một lần trong đời người ta vui vì bất hạnh; chúng tôi biết cách nếm bất hạnh ấy đến tận cùng. Nhưng làm sao tôi có thể nói với anh về nỗi đau. Nhìn xem, chỉ mới nhắc đến nó thôi tôi đã thấy bực với mình. Làm sao tôi dám có anh bên mình mà lại không tin vào hạnh phúc? Anh khiến người ta tin, anh khiến người ta được quyền tin. Anh hãy mãi là bạn của tôi. Anh là cậu chàng bé bỏng êm dịu của tôi. Tóc anh sượt qua tay tôi, và cái đầu đầy những ý nghĩ sâu thẳm về tình bạn ấy đang nằm trong lòng tôi đây. Anh khiến tôi thấy mình đẹp - anh khiến tôi cảm nhận được điều đó. Anh phải hôn tôi nhé. Hôn lên môi. Tôi muốn so sánh nụ hôn của hai người. Tôi muốn nghĩ rằng chính chàng đang hôn tôi khi anh hôn tôi. Nụ hôn là một điều tuyệt diệu. Nếu giờ anh hôn tôi thì sẽ là nụ hôn của tâm hồn, chứ không phải cái miệng. Kaspar có kể anh nghe tôi đã hôn chàng thế nào, và tôi đã nài chàng hôn tôi thế nào không? Chàng phải hôn khác đi; chàng phải học hôn như anh. Nhưng không, sao chàng lại phải hôn như anh? Chàng hôn theo cái cách khiến tôi phải lập tức hôn chàng lại; còn anh hôn khiến người ta muốn để anh hôn thêm lần nữa - như anh vừa làm đấy. Hãy giữ tôi trong thương mến; hãy luôn dịu dàng như thế, và hôn tôi thêm lần nữa, để tôi - như anh nói đấy - có cảm giác rằng anh thuộc về tôi. Một nụ hôn khiến điều đó rõ ràng biết bao. Đàn bà chúng tôi muốn được dạy như thế. Anh hiểu đàn bà lắm, Simon ạ. Người ta không nên để lộ điều đó - nhưng anh hiểu lắm. Giờ thì đi thôi, chúng ta đi nào!"

Họ đứng dậy, và khi đã đi một quãng, họ gặp ba người còn lại. Hedwig chào tạm biệt các anh trai và Frau Klara. Sebastian đi cùng cô gái. Khi hai người đã đi xa, Frau khẽ hỏi Kaspar: "Anh có thể phó em gái anh cho sự tháp tùng của anh ta được sao?" "Nếu tôi không yên tâm, lẽ nào tôi để chuyện đó xảy ra?" Kaspar đáp.

Khi về đến nhà, họ nghe một tiếng súng trong rừng. "Ông ấy lại bắn nữa," Frau Klara khẽ nói. "Cái trò bắn súng ấy rút cuộc là gì?" Kaspar hỏi, và Simon bật cười, nhanh nhảu đáp: "Ông ấy bắn vì với ông ấy, chuyện đó vẫn còn kỳ lạ. Vẫn còn một điều gì ẩn đằng sau chuyện đó. Khi nào nó hết thú vị, ông ấy sẽ tự bỏ thôi." Lại nghe thêm một tiếng súng. Frau Klara nhíu mày, thở dài, rồi cố nén những linh cảm lẩn khuất bằng một tràng cười. Nhưng đó là một tiếng cười sắc, chói, khiến hai anh em rùng mình thoáng chốc.

"Bà cư xử lạ thật đấy," Agappaia nói - ông đột ngột xuất hiện ngay dưới khung cửa đúng lúc họ sắp bước vào nhà. Bà lặng thinh, như thể chẳng nghe thấy gì. Rồi tất cả đi ngủ.

Trong chính đêm ấy, Klara - không sao chợp mắt nổi - đã viết thư cho Hedwig:

"Cô gái yêu quý, em gái Kaspar, tôi phải viết cho cô. Tôi không sao ngủ được, không tìm thấy chút yên ổn nào. Tôi ngồi đây trước bàn viết, mình mặc hờ hững, bị những mơ mẩn vô tình xô qua đẩy lại. Tôi cảm giác mình có thể viết thư cho hết thảy mọi người, cho bất kỳ ai xa lạ, cho bất kỳ trái tim nào; vì mọi trái tim đều run rẩy vì tôi, run rẩy ấm áp. Hôm nay, khi cô đưa tay cho tôi, cô nhìn tôi thật lâu, dò hỏi, dường có một vẻ nghiêm khắc nào đó, như thể cô đã biết rõ tôi - như thể cô thấy rằng tình cảnh của tôi là tệ hại. Tệ hại - trong mắt cô ư? Không, tôi không tin rằng cô lên án tôi đâu, chừng nào cô biết hết mọi chuyện. Cô là kiểu phụ nữ mà mà người ta không muốn giữ bí mật, muốn nói hết, và tôi muốn nói hết với cô, để cô biết mọi sự, để cô có thể thương tôi, vì khi cô hiểu tôi, cô sẽ thương tôi - tôi ao ước được cô thương xót. Tôi mơ tưởng được bao quanh bởi những cô gái đẹp và thông minh như cô - những người bạn, những người cố vấn, những học trò của tôi. Cô muốn - Kaspar nói với tôi - trở thành cô giáo, muốn hiến mình cho việc uốn nắn trẻ nhỏ. Tôi cũng muốn trở thành cô giáo vậy; đàn bà được sinh ra để uốn nắn. Cô muốn trở thành một ai đó, muốn làm một điều gì đó: cái ấy hợp với cô, đúng với hình dung của tôi về cô. Như thế cũng hợp với thời đại chúng ta đang sống và với thế giới - đứa con của thời đại ấy. Đó là điều đẹp đẽ nơi cô. Nếu tôi có một đứa con, tôi sẽ gửi nó đến trường cô dạy, giao trọn nó cho cô, để nó phải tập quen với việc tôn kính và yêu mến cô như một người mẹ. Bọn trẻ sẽ ngước nhìn cô, nhận ra trong mắt cô, sẽ thấy ở đó sự ân cần hay nghiêm khắc. Những trái tim nhỏ bé đang bừng nở sẽ thổn thức biết bao nếu thấy cô bước vào lớp với gương mặt âu sầu, vì trẻ con hiểu linh hồn của cô. Cô sẽ chẳng phải vất vả lâu với những đứa bé hư, vì ngay cả những đứa hư nhất cũng sẽ biết hổ thẹn trước cô, sẽ sớm ăn năn vì đã khiến cô phải đau lòng. Được vâng lời cô, Hedwig, sẽ là một điều tuyệt diệu. Tôi cũng muốn vâng lời cô, muốn trở thành một đứa trẻ để hưởng cái khoái cảm được vâng lời. Cô muốn dọn đến một ngôi làng nhỏ yên tĩnh! Càng đẹp chứ. Khi ấy cô sẽ dạy bọn trẻ làng - dễ dạy hơn trẻ thành phố. Nhưng dẫu ở thành phố cô cũng sẽ thành công. Cô tha thiết với thôn quê - những căn nhà thấp, mảnh vườn con trước cửa, những mặt người quen thuộc, dòng sông chảy ngang, bờ hồ vắng lặng, những loài cây im ắng rừng sâu, những con vật và cả thế giới đồng quê. Cô sẽ tìm thấy tất cả, vì người ta hợp với nơi nào người ta tha thiết. Chắc chắn một ngày nào đó cô sẽ tìm được câu trả lời cho câu hỏi: làm thế nào để được hạnh phúc. Cô đang hạnh phúc rồi, và tôi cảm rõ mình muốn có sự tươi tắn của cô biết bao. Nhìn cô, người ta có cảm tưởng mình đã biết cô từ lâu và cũng biết được khuôn mặt mẹ cô trông thế nào. Những cô gái khác, người ta thấy họ xinh, thậm chí đẹp, còn với cô - người ta muốn được cô biết, được cô thương, chỉ cần vừa trông thấy cô thôi. Ở cô có một điều gì mời gọi, điều gì gần như cổ xưa trong khuôn mặt trẻ trung tươi sáng. Mẹ cô là người nhà quê hẳn? Chắc bà phải là một người đàn bà nông thôn đẹp đẽ, dễ thương. Bà đã chịu nhiều đau khổ nơi thành phố, Kaspar từng kể và tôi tin là vậy - tôi tưởng như thấy được bà trước mắt đây. Bà đã mang lòng kiêu hãnh nơi mình và phải chịu đựng vì điều đó. Phải vậy, vì ở thành phố người ta không được như ở quê, nơi đàn bà dễ cảm thấy mình là một bà chủ tự do. Tôi muốn làm cô vui đôi chút khi nhắc đến mẹ cô - người cô đã chăm sóc khi gãy tay và ốm yếu. Tôi đã được xem chân dung mẹ cô và tôi kính yêu bà, nếu cô cho phép. Nếu cô cho phép, tôi sẽ còn yêu bà sâu đậm hơn. Nếu được gặp bà, quỳ dưới chân bà, được nắm lấy tay bà và đặt môi lên đó… tôi hẳn sung sướng biết chừng nào - như thể phần nào, dù nhỏ nhoi, tôi trả được món nợ. Bởi tôi mang ơn bà, và mang ơn cô, Hedwig. Anh trai cô, Kaspar, hẳn đã nhiều lần lạnh lùng thô bạo với cô; đàn ông trẻ thường cứng rắn với chính những người yêu họ nhất để phá mở cho mình con đường bước vào cuộc đời rộng lớn. Tôi hiểu rằng một nghệ sĩ, đôi khi, phải gạt bỏ tình thương vì cảm thấy nó cản trở mình. Cô đã thấy anh ấy khi anh ấy còn nhỏ xíu - một cậu bé cắp sách đến trường; cô đã trách anh, đã tranh cãi với anh, đã thương, đã ghen, đã bảo vệ, đã cảnh báo, đã mắng và đã ngợi khen; cô đã chia với anh những cảm xúc khởi đầu của cuộc đời, đã nói với anh rằng có cảm xúc là một điều thật đẹp; rồi khi cô nhận ra anh mang trong mình những ý định khác với cô, cô rút lui và để anh đi, để anh sống theo ý anh, và cô mong anh lớn lên, đừng gục ngã. Khi anh đi xa, cô nhớ; khi anh trở về, cô ôm lấy anh và lại bắt đầu chăm nom anh, vì anh là kiểu người hình như luôn cần, mãi mãi cần được chăm nom. Tôi cảm ơn cô. Tôi không có đủ hơi thở, đủ trái tim, không đủ lời để cảm ơn. Và tôi cũng không biết liệu mình có được phép cảm ơn không. Có lẽ cô chẳng muốn biết gì về tôi. Tôi là một kẻ tội lỗi, nhưng có lẽ ngay cả kẻ tội lỗi cũng xứng đáng được cho phép học cách làm sao để trở nên khiêm nhường. Tôi khiêm nhường - không phải gãy đổ, không phải vỡ vụn - chỉ là một sự khiêm nhường rực cháy, van xin, khẩn khoản. Tôi muốn lấy sự khiêm nhường mà bù lại những gì tôi đã gây ra bằng tình yêu. Nếu cô xem trọng việc có một người chị em, một người vui vì được làm chị em cô, thì có tôi đây. Cô có biết Simon, anh trai cô, đã cho tôi điều gì không? Anh ấy đã tặng tôi cả con người anh ấy. Anh ấy đã ném mình vào tôi, và tôi muốn ném mình vào cô. Nhưng, Hedwig, người ta không thể ném mình vào cô - như thế là cho quá ít. Nhưng tôi đã sung sướng biết bao kể từ khi Kaspar ôm tôi. Tôi bắt đầu tự hào, bắt đầu cao giọng, mà điều đó tôi không muốn. Giờ tôi sẽ thử xem mình có ngủ được không. Rừng cũng ngủ đấy thôi - sao con người lại không thể ngủ? Nhưng tôi biết rồi, bây giờ tôi sẽ ngủ được!" Trong khi Klara viết thư, Simon và Kaspar ngồi bên ngọn đèn vừa thắp. Cả hai chưa muốn lên giường và vẫn đang chuyện trò. Kaspar nói: "Mấy ngày nay tôi chẳng vẽ gì cả, và nếu cứ thế này, tôi sẽ vứt hết nghệ thuật mà đi làm nông dân. Sao lại không? Cần gì cứ phải là nghệ thuật? Người ta chẳng thể sống cách khác sao? Có lẽ chỉ là thói quen khiến người ta tưởng rằng phải sáng tạo bằng mọi giá. Biết đâu mười năm nữa tôi sẽ lại bắt đầu! Khi ấy mình sẽ nhìn mọi thứ khác hẳn, đơn giản hơn, bớt mơ mộng hơn, và điều ấy chẳng hại gì. Người ta phải có can đảm và lòng tin. Đời ngắn nếu người ta ngờ vực, dài nếu người ta tin tưởng. Có thể mất mát gì? Tôi thấy mình ngày càng uể oải. Thế nghĩa là tôi phải tự bật dậy và ép mình thực thi bổn phận như một cậu học trò ư? Tôi có bổn phận gì trước nghệ thuật không? Điều đó muốn xoay thế nào cũng được. Vẽ tranh à! Giờ với tôi sao mà ngu ngốc, sao mà vô vị thế. Người ta phải buông thả. Dù tôi vẽ một trăm phong cảnh hay chỉ hai - chẳng phải cũng thế thôi sao? Người ta có thể vẽ cả đời mà vẫn là một kẻ vụng về, không biết đem vào tranh hơi thở của kinh nghiệm - vì cả đời chưa từng có kinh nghiệm gì đáng kể. Đợi khi nào từng trải, tôi sẽ cầm cọ ý vị hơn, nhiều tư tưởng hơn - chẳng thể xem nhẹ điều đó. Số lượng có nghĩa lý gì. Thế nhưng có điều gì đó nói với tôi rằng bỏ tập luyện chỉ một ngày thôi cũng là không tốt. Đó chính là lười biếng - sự lười biếng đáng nguyền rủa!"

Anh không nói thêm; vì đúng lúc ấy, xuyên qua những bức tường, vang lên một tiếng thét dài khủng khiếp. Simon chộp lấy cây đèn và cả hai lao xuống cầu thang, vào căn phòng mà họ biết Klara đang ngủ. Tiếng thét ấy là của bà. Agappaia cũng chạy đến, và họ thấy bà nằm duỗi trên sàn. Có vẻ như bà đang định cởi quần áo để lên giường thì bị một cơn phát tác dữ dội đánh gục. Tóc bà xổ tung, và đôi cánh tay tuyệt đẹp giật lên từng hồi trên đất. Ngực bà phập phồng dữ dội và cái miệng đang há rộng thoáng một nụ cười rối loạn. Cả ba người đàn ông cúi xuống, giữ chặt hai tay bà cho đến khi những cơn co giật dần tan. Bà không bị thương khi ngã - điều rất dễ xảy ra. Họ nâng người bất tỉnh lên và đặt bà - vẫn mặc nửa chừng như thế - lên giường, phủ chăn gọn ghẽ. Khi họ nới corset cho bà, hơi thở bà dần nhẹ nhõm, bà có vẻ ngủ rồi. Và mỗi lúc, nụ cười của bà càng đẹp hơn; bà bắt đầu mê sảng bằng giọng líu ríu như tiếng chuông từ đâu vọng lại - sắc nhưng khó nghe trọn. Họ ngồi đó, bàn bạc xem có nên chạy xuống thành phố gọi bác sĩ hay không. "Anh ở lại đi," Agappaia bình thản nói với Simon, người đã định lập tức lên đường. "Rồi sẽ qua. Không phải lần đầu." Họ tiếp tục ngồi, lắng nghe, trao đổi những cái nhìn đầy ngụ ý. Từ miệng Klara chẳng hiểu được bao nhiêu, chỉ những câu rời rạc, nửa hát nửa nói: "Dưới nước… không, nhìn xem, sâu… sâu lắm. Phải lâu lắm, lâu… lâu lắm. Và anh không khóc. Nếu mà anh biết… tối quá… bùn lầy khắp quanh tôi. Nhưng nhìn này. Một bông violet mọc từ miệng tôi. Nó hát. Anh nghe không? Nghe không? Người ta hẳn nghĩ tôi chết đuối rồi. Đẹp quá… đẹp quá. Không có khúc ca nào cho điều này sao? Klara đấy! Đâu mất rồi? Tìm đi, tìm đi. Nhưng anh phải xuống nước. Rùng mình phải không? Tôi thì chẳng rùng mình nữa. Một bông violet. Tôi thấy cá bơi. Tôi im lặng. Tôi chẳng làm gì nữa. Ngoan nào, tốt nhé. Trông anh dữ quá. Klara kia kìa… nằm ngay kia. Thấy không? Thấy không? Tôi còn muốn nói với anh điều gì đó… nhưng tôi vui rồi. Tôi muốn nói gì nhỉ? Không nhớ nữa. Anh nghe tôi ngân không? Violet của tôi ngân đấy. Một cái chuông nhỏ. Lúc nào tôi cũng biết. Nhưng đừng nói gì. Tôi chẳng nghe gì nữa. Làm ơn… làm ơn…"

"Anh đi ngủ đi. Nếu bà ấy trở nặng, tôi sẽ gọi anh," Agappaia nói.

Nhưng không nặng thêm. Sáng hôm sau, Klara lại tỉnh táo và chẳng nhớ gì chuyện đêm qua. Bà chỉ hơi đau đầu, chỉ thế.

Klara cảm thấy như trên trời. Bà choàng một cái áo khoác buổi sáng màu xanh thẫm, những nếp gấp sang trọng buông lơ lửng dọc mình bà, ngồi trên ban công nhìn ra rặng tùng - những ngọn cây ngả nghiêng dưới làn gió nhẹ. "Rừng thật tuyệt diệu," bà nghĩ, rồi rướn người khỏi lan can chạm trổ để tựa gần nó hơn, để hương rừng lan đến gần hơn. "Kìa, rừng, như thể đã bắt đầu lim dim về đêm. Ban ngày, ngay giữa nắng chan hòa, người ta có thể bước vào rừng như bước vào bóng tối - âm thanh sắc hơn mà cũng lặng hơn, mùi ẩm và nhạy hơn, người ta có thể nghỉ ngơi và cầu nguyện. Trong rừng người ta cầu nguyện như vô thức; rừng là nơi duy nhất trên đời mà Chúa ở gần. Dường như Ngài tạo ra rừng để ta cầu nguyện như trong đền thờ. Mỗi người theo cách của mình - nhưng chẳng ai là không cầu nguyện. Nằm dưới một cây thông đọc sách cũng là cầu nguyện, nếu cầu nguyện có nghĩa là lạc vào suy tưởng. Chúa có thể ở bất cứ đâu, nhưng trong rừng ta đoán ra Ngài và dâng cho Ngài lòng tin ít ỏi của ta bằng lặng thầm hân hoan. Chúa chẳng muốn ta tin Ngài quá nhiều đâu; Ngài còn vui khi ta quên Ngài; ngay cả khi ta trách cứ Ngài, Ngài cũng vui - vì Ngài hiền từ cao cả vượt quá mọi ý niệm. Chúa mỏng mềm nhất vũ trụ - Ngài không đòi hỏi gì, không muốn gì, không cần gì. Muốn - đó là việc của con người, không phải của Ngài. Với Ngài, mọi thứ đều là không. Ngài vui khi ta tôn thờ Ngài. Ôi, Chúa sung sướng và chẳng biết làm gì với nỗi sung sướng ấy khi ta đi tới và cảm tạ Ngài, dù hời hợt. Chúa biết ơn như thế đấy. Ta tự hỏi có ai trên đời biết ơn hơn. Ngài cho chúng ta tất cả - Chúa bất cẩn, tốt lành ấy - và giờ Ngài lại phải vui mừng khi tạo vật nhớ đến Ngài. Điều lạ lùng nơi Chúa của chúng ta là, Ngài chỉ muốn làm Chúa khi ta muốn tôn Ngài như vậy. Ai dạy ta khiêm nhường hơn Ngài? Ai mơ hồ và lặng lẽ hơn Ngài? Có lẽ Chúa chỉ có những linh cảm về chúng ta, như ta có về Ngài; và những điều ta đang nói ra đây chỉ là những linh cảm của ta về Ngài. Liệu Ngài có linh cảm rằng ta đang ngồi đây, trên ban công, ngắm rừng của Ngài và thấy nó đẹp lắm không? Giá Ngài biết rừng của Ngài đẹp nhường nào. Nhưng ta nghĩ Chúa quên mất công trình của Ngài rồi; không phải vì buồn - Ngài nào có thể buồn - chỉ đơn giản bởi Ngài quên, hoặc ít nhất trông như thể đã quên chúng ta. Ta có thể cảm được mọi điều về Chúa, vì Ngài cho phép mọi suy nghĩ. Nhưng người ta dễ đánh mất Ngài nếu suy nghĩ quá nhiều; thế nên ta cầu nguyện với Ngài. 'Lạy Chúa, xin đừng đưa chúng con vào cám dỗ.' Hồi nhỏ ta vẫn cầu như thế, nằm trên cái giường bé xíu, ta đã vui làm sao mỗi khi cầu nguyện. Hôm nay ta hạnh phúc, ta sung sướng; toàn thân ta là một nụ cười, một nụ cười phúc lạc. Cả trái tim mỉm cười. Không khí tươi trong quá. Chắc hôm nay là Chủ nhật; người thành phố sẽ lên rừng đi dạo, và ta sẽ chọn một đứa bé nào đó, xin bế nó từ tay cha mẹ trong chốc lát, chơi với nó. Bao nhiêu niềm vui chỉ từ việc có thể ngồi đây, ngồi tựa lên lan can! Ta thấy mình đẹp quá đỗi. Ta gần như có thể quên Kaspar, quên hết mọi thứ. Giờ ta chẳng hiểu vì sao mình lại khóc, vì sao lại có gì có thể làm mình rung động. Rừng bất động mà lại biết uốn mình, ấm áp, đầy sự sống và dịu dàng quá đỗi. Hơi thở từ cây thông, tiếng xào xạc - chỉ tiếng cây thôi đã khiến mọi âm nhạc chẳng còn cần. Ta chỉ muốn nghe nhạc vào ban đêm; buổi sáng thì không, buổi sáng quá thánh thiêng cho âm nhạc. Lạ thật, ta thấy mình tươi mới quá. Sao giấc ngủ lại huyền nhiệm thế: mệt mỏi rồi đi ngủ, rồi tỉnh dậy như tái sinh. Mỗi ngày là một sinh nhật. Như bước vào bồn tắm, ta bước ra khỏi màn đêm để ùa vào những sóng ban mai xanh. Chẳng mấy nữa cái nóng ban trưa sẽ đến, rồi mặt trời lại buông mình, khát khao được lặn đi. Bao nhiêu khao khát, bao nhiêu kỳ diệu: từ tối đến sáng, từ trưa sang tối, từ đêm sang ngày. Mọi thứ sẽ tuyệt mỹ nếu ta thật sự cảm thấy, vì không thể có cái gì tuyệt mỹ mà cái khác lại không. Chắc hôm qua ta bệnh, và người ta không nói cho ta biết. Bàn tay - chúng vẫn đẹp, vẫn trong sạch. Nếu tay có mắt, ta sẽ đưa gương cho chúng nhìn xem chúng đẹp đến thế nào. Ai được nâng niu bằng đôi tay này thật may mắn. Thật kỳ lạ, những ý nghĩ. Nếu Kaspar đến lúc này, ta sẽ òa khóc vì bị thấy trong trạng thái này. Ta đã chẳng hề nghĩ đến chàng, và chàng sẽ cảm được điều ấy. Sao ý nghĩ rằng ta đã lơ là chàng khiến ta khổ sở thế? Ta là nô lệ của chàng sao? Chàng liên can gì đến ta cơ chứ?"

Bà khóc òa. Đúng lúc đó Kaspar bước vào: "Klara, sao thế?"

"Không! Tôi có thể làm sao được? Anh ở đây rồi. Tôi nhớ anh. Tôi hạnh phúc, nhưng tôi không chịu được cái hạnh phúc chỉ có một mình, không có anh. Thế nên tôi khóc. Lại đây… lại đây," và bà kéo anh sát vào, ghì thật chặt.

Anh Hoa dịch

viết tiếng Đức
Gotthold Ephraim Lessing (1729–1781)
Georg Christoph Lichtenberg (1742–1799)
Johann Gottfried Herder (1744–1803)
Johann Wolfgang von Goethe (1749–1832)
Friedrich Schiller (1759–1805)
Jean Paul (1763–1825)
Novalis (1772–1801)
E. T. A. Hoffmann (1776–1822)
Heinrich von Kleist (1777–1811)
Arthur Schopenhauer (1788–1860)
Heinrich Heine (1797–1856)
Eduard Mörike (1804–1875)
Adalbert Stifter (1805–1868)
Georg Büchner (1813–1837)
Theodor Mommsen (1817–1903)
Jacob Burckhardt (1818–1897)
Gottfried Keller (1819–1890)
Paul Celan (1920–1970)
Friedrich Nietzsche (1844–1900)
Georg Simmel (1858–1918)
Peter Altenberg (1859–1919)
Gustav Meyrink (1868–1932)
Heinrich Mann (1871–1950)
Hugo von Hofmannsthal (1874–1929)
Karl Kraus (1874–1936)
Arnold Schönberg (1874–1951)
Max Scheler (1874–1928)
Rainer Maria Rilke (1875–1926)
Thomas Mann (1875–1955)
Alfred Kubin (1877–1959)
Robert Walser (1878–1956)
Martin Buber (1878–1965)
Robert Musil (1880–1942)
Franz Kafka (1883–1924)
Walter Benjamin (1892–1940)
Joseph Roth (1894–1939)
Ernst Bloch (1885–1977)
György Lukács (1885–1971)
Hermann Broch (1886–1951)
Paul Tillich (1886–1965)
Johannes Itten (1888–1967)
Martin Heidegger (1889–1976)
Ludwig Wittgenstein (1889–1951)
Franz Werfel (1890–1945)
Norbert Elias (1897–1990)
Theodor W. Adorno (1903–1969)
Ludwig Hohl (1904–1980)
Hugo Friedrich (1904–1978)
Elias Canetti (1905–1994)
Klaus Mann (1906–1949)
Fritz Hochwälder (1911–1986)
Hans Robert Jauss (1921–1997)
Friedrich Dürrenmatt (1921–1990)
David Bronsen (1926–1975)
Ingeborg Bachmann (1926–1973)
Günter Grass (1927–2015)
Carl Dahlhaus (1928–1989)
Thomas Bernhard (1931–1989)
W. G. Sebald (1944–2001)
Peter Handke (1942– )
Michael Haneke (1942– )
Yoko Tawada (1960– )

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công