Adorno: Các kỷ niệm (về Benjamin)
Adorno viết không ít về Walter Benjamin. "Các kỷ niệm" dưới đây, viết năm 1965, là một trong những miêu tả Benjamin khả tín hơn cả mà ta từng có.
Dẫu cho ấn tượng của tôi có sâu sắc đến mức nào khi làm quen với Benjamin, tôi cũng không thể nói được chính xác khi nào tôi đã gặp ông. Tôi biết đấy là vào năm 1923. Nhưng tôi đã gặp ông ở hai dịp khá gần nhau và không còn có thể chỉ ra thật chắc chắn lần nào trong số đấy là lần đầu tiên nữa. Cho dù có là thế nào đi chăng nữa: một lần, vào một cuộc hẹn tại một quán cà phê hồi đó, Café Westend trên Opernplatz, ở Frankfurt, cùng bạn tôi, Kracauer, người đã tổ chức cuộc gặp. Một lần khác - và tôi thực sự không còn biết có phải là nó trước cuộc kia hay không - tại một seminar về xã hội học do Gottfried Salomon-Delatour điều hành, sau đó không lâu thì ông chết, rất sớm. Ở đó ông bàn về Historismus của Ernst Troeltsch, mới xuất bản. Tại seminar ấy có một loạt người về sau sẽ giành được sự nổi tiếng nhất định như Kurt Hirschfeld, hồi đó đang làm quản đốc ở Zürich. Lúc này Benjamin đang ở Frankfurt và ông còn sống lâu tại đó với dự định lấy bằng habilitation, một dự định được Salomon khuyến khích. Tôi còn nhớ rất chính xác, nhằm tái tạo một trong những ấn tượng cụ thể đầu tiên của mình, rằng tại seminar ấy Salomon sẵn lòng nhảy vào các trữ tình ngoại đề chứ không tự ép mình đi theo một dàn ý thật chặt chẽ. Benjamin, theo cách thức của mình, im ắng và tươi cười, lúc nào cũng đưa ông về lại chủ đề những khi ông đi quá xa khỏi đó, giữa hai trữ tình ngoại đề thì nhét vào, như một lời nhắc nhở, mấy từ: "Ad vocem Troeltsch, ad vocem Troeltsch!" Tôi đã chưa bao giờ quên âm điệu nghiêm ngắn đến kỳ lạ mà ông dùng để thốt ra mấy từ đó.
Tôi gặp Benjamin khá thường xuyên. Tôi sẽ nói ít nhất một lần mỗi tuần, có vẻ như là còn hơn vậy, trong suốt giai đoạn ông sống tại Frankfurt. Sau đó, tôi vẫn gặp ông thường xuyên và đều đặn, không chỉ vào các dịp ông đến thăm mà nhất là ở Berlin. Tôi nghĩ chúng tôi cũng có lần cùng nhau đi Ý vào năm 1925, chắc hẳn là tới Naples, nhưng điều này thì tôi không còn có thể thề được nữa. Chắc hẳn rất khó chỉ định một "mục đích" cho mối quan hệ ấy. Chúng tôi giao du với nhau giống các trí thức còn chưa đến tuổi tứ tuần vẫn hay làm. Họ thích gặp nhau để trò chuyện và chơi đùa một chút với cục xương thuộc hiểu biết thuần túy mà họ đang gặm vào lúc đó. Chuyện cũng giống thế với Benjamin và tôi. Hồi đó tôi còn rất trẻ, ông thì hơn tôi ít nhất mười một tuổi và ngay tức thì tôi đã hoàn toàn tự coi mình là người nhận về. Tôi biết rằng thoạt tiên tôi đã lắng nghe ông với một sự cuốn hút tuyệt đối, vừa nghe vừa thỉnh thoảng hỏi ông nhằm có được những sự chính xác rộng hơn. Khá mau chóng, ông đưa cho tôi đọc những thứ của ông trước khi chúng được in. Chính bằng cách này mà tôi đã đọc một bản đánh máy nghiên cứu về Hút lấy nhau [của Goethe]. Tiếp sau đó là phần nhập đề cho "Tableaux parisiens" của Baudelaire rồi bài báo về người dịch. Sau đó, tôi đã đọc bản in thử những cuốn sách in vào thời điểm ấy tại một nhà xuất bản tên là, tôi nghĩ vậy, Weißbach, ở Heidelberg. Sau đó, tôi cũng đã bị ấn tượng mạnh bởi một bài báo khá dài mà ông đã đăng dưới tên thật trên Frankfurter Zeitung, một bài báo mà bà Asja Lacis có thể, dẫu chuyện có thể trông đáng ngạc nhiên đến mức nào, nghi ngờ nó không hoàn toàn là tác phẩm của Benjamin, và thậm chí còn nghĩ không hề là của ông [bài báo về Naples].
Nhiều điều trong số các công trình mà tôi đã đọc sau đó tôi không còn nhớ được và trên thực tế tiếp xúc đã không bao giờ bị cắt đứt nữa. Chúng tôi từng lúc nào cũng gặp nhau, mặc cho khoảng cách, lẽ dĩ nhiên về sau thì rất nhiều, tại Paris, vào hồi di cư, trước đó thì ở Königstein, năm 1929, vào thời điểm ông đọc cho chúng tôi những text đầu tiên của ông về các "passages". Chúng tôi đã gặp nhau gần như ở mọi nơi nhưng lại không hề nghĩ gì liên quan tới kế hoạch hay mục đích, thậm chí là trong các toan tính triết lý cùng nhau của mình, nếu tôi có thể nói điều này mà không có vẻ tự phụ.
Benjamin có một sức sản xuất đơn giản là không giới hạn, một sức sản xuất tự tái tạo từ chính nó, khởi đi từ chính nó. Người ta gần như không thể nói chuyện với ông, kể cả là về những thứ vẻ bề ngoài tầm thường nhất và ít đáng quan tâm nhất, mà sức sản xuất ấy không chuyển hóa và tác động vào toàn bộ những gì nó chạm đến. Khi tôi nói, ngay ở trên, rằng chúng tôi đã cùng nhau triết lý, thì đấy không được hiểu như những lúc các thanh niên, vốn dĩ đã chọn sẽ cống hiến mình cho việc nghiên cứu cái môn đó, nói chuyện triết học với nhau. Ở Benjamin, điều cũng hết sức đặc trưng về mặt lý thuyết là lực triết học được mở rộng ra đến các đối tượng không triết học, các địa hạt vẻ bề ngoài kín chặt, không ý hướng. Hẳn thậm chí gần như có thể nói rằng các đối tượng mà ông nhắc tới càng ít là những đối tượng được coi là chính thức thuộc triết học, thì ông càng tỏ ra xuất chúng hơn về mặt triết học. Chính vì thế thật khó đặc trưng hóa đối thoại của chúng tôi bằng các chủ đề của chúng. Tôi cũng còn nhớ rằng những khi chúng tôi bàn luận về nghĩa thiết thân hơn cả của những điều thuộc triết học, một câu súc tích, có chút giống bản án, thường xuyên tạo cho tôi một ấn tượng phi thường. Chẳng han, một hôm, tôi tìm cách giải thích cho ông, nhân một điểm xác định của lý thuyết hiểu biết, khác biệt giữa các ý hướng nền tảng [Fundierungsintentionen] và các ý hướng làm đầy [Erfüllungsintentionen]. Ông gạt phăng cái đó đi bằng một cách thức thân tình nhưng cùng lúc hết sức phê phán, bảo: đấy là các ý hướng nền tảng và các ý hướng làm đầy, có thế thôi. Chính bằng cách này mà tôi đã hiểu được mà thậm chí còn không phải chiến đấu hay phản bác bất kỳ lập luận nào cho dù nhỏ đến đâu rằng toàn bộ tầng cầu ấy, vốn dĩ phái sinh ít nhiều từ hiện tượng luận của Husserl, theo cách thức suy nghĩ cụ thể của nó, thứ dẫu thế nào thì cũng rốt cuộc thanh lý các đối tượng cụ thể, hết sức đơn giản là nằm bên ngoài hành động do bản tính cứng nhắc và ít cốt yếu của nó, có chút hàn lâm.
Gần như không phải là một ảo tưởng hồi cố khi tôi nói rằng mình đã có, ngay vào giây phút đầu tiên, ấn tượng theo đó Benjamin là một trong những con người quan trọng hơn cả mà tôi từng bao giờ có ở trước mặt mình. Hồi đó tôi hai mươi tuổi, dẫu sao thì tinh thần cũng có chút nồng cháy, nhưng tôi thấy khó mà tìm ra được các từ chuẩn nhằm miêu tả sức mạnh nơi ấn tượng của mình mà không rơi vào sự quá lời kitsch nhất. Cứ như thể xuyên qua triết học ấy đã được hé lộ cho tôi triết học thì phải là gì, nó có thể hoàn thành những gì mà nó hứa hay không, nhưng lại không thể giữ lời được chừng nào còn tôn trọng sự phân tách theo kiểu Kant giữa những gì vẫn ở trong những giới hạn của kinh nghiệm và những gì vượt mất các biên giới của kinh nghiệm. Từng có lần tôi nói [trong lời tựa cho một tuyển tập Walter Benjamin in năm 1955] rằng lời lẽ của Benjamin vang lên như thể chúng khởi xuất từ bí mật nhưng ông không hề có gì của một người nghĩ theo lối huyền bí theo nghĩa đáng bực nhất của cái từ đó, rằng một số đánh giá của ông quật thẳng roi vào các ý thông thường được chấp nhận, bày ra ở chính chúng một sự hiển nhiên tuyệt đối có tính cách đặc trưng, thứ hoàn toàn rửa chúng khỏi mối nghi về bí mật hay thậm chí về ngón bịp ngay cả khi mặt khác nhiều nét dị thường của người chơi poker không hoàn toàn xa lạ với cách nói và nghĩ của Benjamin. Việc ông đã cho thấy một sức mạnh vô song cả trong trực giác thuộc tinh thần lẫn trong lối lập luận của mình, cái đó thì không thể ngờ vực gì đối với một con người biết đánh giá chất lượng và không bị mù mắt bởi rancune [thù hận].
Nếu cũng phải gợi lên vẻ bề ngoài của ông, thì tôi phải nói rằng Benjamin có một điều gì đó của một ảo thuật gia, nhưng là trong một nghĩa nhất quyết không ẩn dụ, hết sức trực nghĩa. Hẳn người ta hoàn toàn có thể hình dung ra ông với một cái mũ thành rất cao cùng một một dạng đũa thần. Cặp mắt tụt vào khá sâu của ông, cận thị và dường phóng ra những cái nhìn vừa êm dịu vừa có cường độ cao hết sức đáng để ý. Mái tóc ông, có một cái gì đó đặc biệt cháy, cả chúng nữa, cũng rất đặc biệt. Khuôn mặt ông được tạo thực sự theo một cách thức rất đối xứng. Nhưng cùng lúc ông có một cái gì đó - lại thật khó mà tìm được từ chuẩn để diễn tả điều này - của một con thú cứ trữ đồ ăn của nó ở nọng. Khuôn mặt của nhà buôn đồ cổ [bố của Benjamin là chủ hiệu đồ cổ] và của nhà sưu tầm vốn dĩ trong suy nghĩ của ông đóng một vai trò hết sức nổi bật đã, cả nó nữa, in dấu ấn lên diện mạo ông. Một nét đặc trưng quan trọng khác mà người ta để ý thấy khi ở cùng ông, ấy là ông không hề toát ra gì hết từ cái mà người ta thông thường vẫn gọi là sự tức thì và sự nồng ấm con người. Ở đây không phải chuyện của trình hiện thường thấy của cái được cho là trí năng tính lạnh lùng. Nói đúng hơn, cứ như thể ông từng trả một cái giá khủng khiếp cho bạo lực siêu hình học về những gì ông từng thấy và tìm cách diễn tả bằng các từ không thể sai, như thể, có thể nói thế, ông nói giống một người chết, như thể ông đã trả cái giá cần phải trả cho việc biết, với sự bình thản và đơn giản, những thứ mà thường thì người sống không thể biết. Tuy ông không phải là người khổ hạnh cho dù là theo bất kỳ cung cách nào, gầy tong teo hay như thế nào đó thuộc cùng thể loại, nhưng ở ông có một hình thức của phi cơ thể. Tôi chưa từng bao giờ gặp người nào nơi tồn tại đầy đủ, thậm chí tồn tại thuộc kinh nghiệm, được tạo thành hình theo lối tinh thần như vậy. Thế nhưng, một dạng hạnh phúc cảm thấy rõ đi kèm tinh thần mỗi lời mà ông thốt ra, một niềm hạnh phúc có vẻ như là đã bị từ chối đối với ông vì chỉ là thuộc cảm giác, tức thì, sống động.
Chắc hẳn Benjamin không có, vào thời kỳ tôi bắt đầu quen với ông, cái mà người ta vẫn có thói quen chỉ định bằng từ danh tiếng. Nhưng ngược lại ông có một dạng aura - điều này hết sức ăn nhập với tự vị riêng của ông [Benjamin có cả một lý thuyết về "hào quang"]. Một aura ngoạn mục đi trước ông. Tôi còn nhớ là hồi ấy, khi ông làm quen với Kracauer và tôi - chuyện đã diễn ra dưới dấu hiệu của Ernst Bloch mà vả lại tôi hẵng còn chưa quen biết cá nhân, mà mãi năm năm sau đó tôi mới gặp lần đầu tiên tại Berlin - điều được nêu lên là một trong hai, hoặc cả hai cùng nhau, đang dựng dự đồ về một hệ thống cứu thế luận [liên quan đến Messiah] lý thuyết. Lúc người ta biết triết học về sau của Benjamin, điều đó, theo lối hồi cố, dường thật khó có khả năng. Nhưng khi người ta biết ở ông các phác thảo tư biện và có tính cách siêu hình học cực điểm được trộn lẫn như thế nào, hồi ông còn trẻ, vào với những chủ đề phát xuất từ Kant luận, thì rất có thể dự đồ đó không xa lạ với ông như những gì ông cho in về sau và, nhìn chung, Benjamin ở quãng trường thành, có thể khiến người ta nghĩ. Nhưng, lúc, không lâu sau đó, tôi đã biết triết học của Bloch sâu hơn, một cách khá chóng vánh, mới chỉ làm quen với suy nghĩ của ông thôi, tôi đã hiểu là không thể nào có chuyện, nếu nhìn vào chính kết cấu suy nghĩ của từng người, mặc cho tình bạn tinh thần mà hai con người ấy từng thể hiện với nhau, có bất kỳ điều gì giống với một sự tùy thuộc hay thậm chí một tương giao tinh thần. Tôi đã khám phá được rằng cái nhìn triết học của Benjamin có một điều gì đó tuyệt đối không thể so sánh, như thể ông là cơ phận đặc biệt cho những thứ chỉ được buộc vào một mình ông, và nhất là tôi đã khám phá được lực đặc trưng ấy, thứ cho phép ông tự nhấn mình vào cái cụ thể nhằm diễn giải nó. Ngược lại với tất tật các triết gia khác, và có lẽ cả với chính Bloch, suy nghĩ của ông không phải là một suy nghĩ, dẫu điều này có thể có vẻ nghịch lý đến đâu, diễn ra trong địa hạt của khái niệm. Nó trực tiếp giật lấy nội dung thuộc trí năng, nội dung tinh thần của các chi tiết, từ những hình tượng cụ thể mà không đi qua khái niệm. Benjamin đã mở những gì không thể được mở như bằng một cái chìa khóa ma thuật và bằng cách đó tự ở vào, dẫu không biết điều này và không có sự khăng khăng đặc biệt nào, theo lối không thể hòa giải, đối lập với các suy nghĩ kỳ vĩ nhằm phân loại, trừu tượng và quá rộng của tật tật những triết học chính thức. Một cái gì đó thuộc sức mạnh không thể so sánh ấy tỏa ra xa khỏi ông tới nỗi ngay cả nếu chỉ biết tên ông thì người ta cũng đã gần như tri nhận được từ ông một điều gì đó từ lâu trước khi biết chính ông.
Ngay ở khởi đầu tôi đã trông đợi từ Benjamin những điều cao nhất và lớn nhất. Khi, đến cuối cùng, ông hình dung tác phẩm về passages - mà ông đã không hoàn thành - tôi đã nghĩ ý đó thực sự là một ý hoàn toàn được làm việc ngay với sự tập hợp tài liệu, một triết học được tiếp cận một cách vô chừng mực, vừa cụ thể lại vừa có tính cách siêu vượt. Tôi đã không bao giờ ngờ về việc Benjamin có sức mạnh để hoàn tất cái đó, ngay cả vào lúc công trình về passages kéo dài đến mức hẳn người ta đã có thể bắt đầu nghi ngờ về việc một ngày nào đó ông đi tới cùng được dự án gớm ghiếc ấy. Chuyện ở đây có những thứ trung tâm hơn cả và quyết định hơn cả trong tất tật và chuyện ông có khả năng thực hiện nó, đối với tôi điều đó hoàn toàn là hiển nhiên. Khi tôi nhận, tại New York, mùa thu năm 1940, tin về cái chết của ông, tôi đã thực sự, rất theo nghĩa đen, có cảm giác rằng, do cái chết đó, thứ đã ngắt ngang sự hoàn tất của một tác phẩm lớn, triết học đã bị giết chết nơi những gì tốt đẹp hơn cả mà nó có thể hy vọng. Từ quãng ấy, tôi đã coi như là một công việc rất quan trọng, sử dụng hết sức quyền lực yếu ớt của mình nhằm làm cho công trình đó trở nên sẵn có ngay cả khi đấy chỉ là một mảnh thuộc những gì lẽ ra nó phải trở thành, và dẫu thế nào thì cũng nhằm đánh thức ham muốn lại chiếm lĩnh một tiềm năng như vậy.
Lukács, Benjamin, Adorno
Adorno: Tiểu luận như một hình thức
Adorno: Walter Benjamin người viết thư
Walter Benjamin: Về ý niệm lịch sử
Walter Benjamin: Eduard Fuchs, nhà sưu tầm và sử gia
Walter Benjamin: Người kể. Nhìn nhận tác phẩm của Nikolai Leskov
