favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Thomas Wolfe: Giải phẫu học nỗi cô đơn

26/06/2026 00:05

Đánh giá sự vĩ đại của một nhà văn bằng sự vĩ đại trong thất bại của họ, William Faulkner đã gọi Thomas Wolfe là nhà văn Mỹ vĩ đại nhất, thất bại lớn nhất của thời đại. Viết bằng sự năng sản và tham vọng vĩ cuồng, Wolfe cho đến cuối đời vẫn để lại một di sản dang dở: bộ trường thiên tiểu thuyết dự kiến dài sáu tập, ôm tham vọng bao quát lịch sử nước Mỹ suốt hơn một thế kỷ với hàng trăm gương mặt. Faulkner hay Wolfe đều phải rời nước Mỹ một thời gian để nhìn ngắm quê hương qua lăng kính của khoảng cách và sự hoài niệm, mới nhận ra tâm tưởng họ vĩnh viễn bị giam cầm trong một nước Mỹ lớn lao và điên rồ, chỉ có ở nơi đó họ mới được trao cho sự thất bại xứng tầm. Cả hai đều muốn ca tụng nước Mỹ vĩ đại của riêng mình, nhưng nước Mỹ ấy không tồn tại. Chính sự bế tắc trong việc xây dựng một huyền thoại cho nước Mỹ đã làm nên bản tính thất bại của Faulkner, và cuồng dại hơn, vĩ mô hơn, thất bại của Wolfe.

Để dẫn vào Wolfe, Văn Bản giới thiệu tác phẩm “Giải phẫu học nỗi cô đơn” (hay “Con người cô đơn của Chúa”). Dù ở một quy mô tinh gọn, tác phẩm là lời tuyên ngôn sáng rõ và lay động nhất về chủ đề tối thượng xuyên suốt văn nghiệp của ông: nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn ấy vốn đã kết tinh ngay từ lời đề từ mang tính tiên tri của Look Homeward, Angel (“Trần trụi và đơn độc, chúng ta bước vào cuộc lưu đày”), tới nỗi lạc lõng giữa đô thị xa lạ trong Of Time and the River, cho đến nỗi cô đơn giữa quê nhà, đặc tính Mỹ, trong You Can’t Go Home Again.

 

Giải phẫu học nỗi cô đơn

- Thomas Wolfe

I.

Đời tôi, hơn bất kỳ ai tôi từng biết, đã trôi qua trong đơn độc và quẩn quanh. Vì sao lại thế, hay điều đó xảy ra như thế nào, tôi không thể nói rõ; nhưng sự thật vốn là vậy. Từ năm mười ba tuổi - trừ một khoảng ngắt duy nhất - tôi đã sống cuộc đời cô độc nhất mà một người hiện đại có thể sống. Tôi muốn nói đến số giờ, số ngày, số tháng và số năm mà tôi ở một mình là vô kể và phi thường.

Vì lẽ đó, tôi có ý định mô tả trải nghiệm về sự cô đơn của con người chính xác như những gì tôi biết. Tôi làm điều này không phải vì tôi nghĩ nhận thức về sự cô đơn của mình có bản chất khác với những người khác. Hoàn toàn ngược lại. Toàn bộ niềm tin trong cuộc sống tôi giờ đây dựa trên một xác tín rằng: cô đơn, hoàn toàn không phải một hiện tượng hiếm hoi hay kỳ lạ, chỉ đặc trưng ở bản thân tôi hay ở một vài kẻ lập dị thích sống một mình khác, mà nó là sự thật cốt lõi và bất biến của đời sống. Khi chúng ta quan sát những khoảnh khắc, hành vi và lời nói của đủ mọi hạng người - không chỉ là nỗi đau thương và niềm hoan lạc của những thi sĩ vĩ đại nhất, mà còn là nỗi bất hạnh to lớn của một linh hồn bình thường, được minh chứng bằng vô số những lời lăng mạ, thù hận, khinh miệt, ngờ vực và dè bỉu chói tai mãi mãi gieo vào tai chúng ta khi dòng người cuồn cuộn lướt qua trên phố - tôi nghĩ, chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả họ đều đang chịu đựng chung một nỗi niềm. Nguyên nhân sau cùng cho mọi lời oán thán của họ, chính là sự cô đơn.

Nhưng nếu trải nghiệm của tôi về nỗi cô đơn không khác biệt về bản chất so với những người khác, có lẽ nó sắc hơn về cường độ. Điều này trao cho tôi thẩm quyền lớn nhất trên đời để viết về căn bệnh chung này của chúng ta, bởi tôi tin mình hiểu về nó nhiều hơn bất kỳ ai thuộc thế hệ của mình. Khi nói ra điều này, tôi chỉ đơn thuần phát biểu một sự thật theo cách tôi nhìn nhận, dù tôi ý thức được rằng nó có vẻ giống như một sự ngạo mạn hay phù phiếm. Nhưng trước khi có ai đó vội vã đi đến kết luận ấy, xin hãy nghĩ xem sẽ kỳ lạ đến nhường nào nếu bắt gặp sự ngạo mạn ở một kẻ đã sống cô độc nhiều như tôi. Liều thuốc đặc trị hiệu quả nhất cho sự phù phiếm chính là nỗi cô đơn. Bởi lẽ, hơn hẳn những người khác, chúng ta - những kẻ cư ngụ nơi tâm bão của sự quạnh quẽ - luôn là nạn nhân của sự hoài nghi chính mình. Mãi mãi và mãi mãi, trong sự đơn độc của chúng ta, những cảm giác tự ti nhục nhã sẽ đột ngột trỗi dậy, nhấn chìm ta trong một dòng lũ độc hại của nỗi kinh hoàng, sự hoang mang và hoang phế, làm kiệt quệ và hủy hoại sức khỏe lẫn lòng tự tin, gieo rắc sự ô uế ngay tại cội nguồn của niềm vui sướng hân hoan, cường tráng. Và điều này chứa đựng một nghịch lý vĩnh cửu: nếu một người muốn chạm tới thành quả khải hoàn của lao động sáng tạo, anh ta phải cam chịu đầu hàng nỗi cô đơn trong những khoảng thời gian dài đằng đẵng, và chấp nhận để nỗi cô đơn cướp đi của mình sức khỏe, sự tự tin, niềm tin và niềm vui - những thứ vốn là cốt lõi cho mọi công việc sáng tạo.

Để sống cô độc như tôi đã từng sống, người ta cần phải có được sự tự tin của Chúa trời, đức tin bình lặng của một vị thánh tu viện, hay sự bất khả xâm phạm kiên cường của một pháo đài Gibraltar. Thiếu đi những điều đó, sẽ có những lúc mà bất cứ điều gì, mọi thứ, tất cả hoặc không có gì cả, những sự cố vụn vặt nhất, những lời nói vô tình nhất, cũng có thể ngay lập tức lột bỏ lớp áo giáp tôi, làm tê liệt bàn tay tôi, thắt chặt tim tôi trong nỗi kinh hoàng băng giá và lấp đầy tâm can tôi bằng chất gì xám xịt của sự bất lực rùng mình. Đôi khi, điều đó chẳng qua chỉ là một bóng râm thoáng qua trên mặt trời; đôi khi lại chẳng là gì ngoài thứ ánh sáng trắng đục oi ả của tháng Tám, hay sự xấu xí trần trụi, ngổn ngang và những nếp sống thanh bạch nhếch nhác của các con phố ở Brooklyn, đang mờ dần trong tầm nhìn mỏi mệt của thứ ánh sáng màu sữa ấy và gợi lên nỗi thống khổ khôn nguôi của vô số cuộc đời xám xịt vô danh. Đôi khi nó chỉ là nỗi kinh hoàng trơ trọi của lớp bê tông thô, hay cái nóng rực thiêu đốt trên cả triệu cỗ máy như những con bọ đang lao vun vút qua các dãy phố hầm hập, hay sự mệt mỏi đầy tro bụi của những bãi đậu xe, hay tiếng sầm sập đập mạnh và ồn ào của đoàn tàu điện trên cao, hoặc dòng người nhung nhúc bị xua đuổi của Trái Đất, mãi gồng mình lao về phía trước trong một cơn giận dữ tột độ, vội vã lao đi mà chẳng đến một nơi nào.

Lại có lúc, đó có thể chỉ là một cụm từ, một ánh nhìn, một cử chỉ. Đó có thể là cái nghiêng đầu lạnh lùng, đầy khinh miệt mà một hoàng tử bé quý phái, được bao bọc và tinh tế của đại lộ Park Avenue dùng để đáp lại một lời giới thiệu, như thể muốn nói: “Anh chẳng là gì cả.” Hoặc đó có thể là một lời chế giễu và gạt phăng từ một nhà phê bình trên một tờ tuần báo thượng lưu. Hay một lá thư từ một người phụ nữ bảo rằng tôi đã lạc lối và vô dụng rồi, tài năng của tôi đã biến mất, mọi nỗ lực của tôi đều giả tạo và vô giá trị - kể từ khi tôi từ bỏ sự thật, tầm nhìn và thực tại vốn đang thuộc về cô ta một cách vô cùng đẹp đẽ.

Và đôi khi nó còn ít hơn cả những điều ấy - thứ gì đó tôi không thể chạm vào, nhìn thấy, nghe thấy hay nhớ lại một cách rõ ràng. Nó có thể mơ hồ đến mức như một thứ thời tiết gớm ghiếc của linh hồn, được pha trộn một cách tinh vi từ tất cả những khao khát, giận dữ và ham muốn bất khả mà cuộc đời tôi từng biết đến. Hoặc, một lần nữa, nó có thể là ký ức nửa quên nửa nhớ về sắc đỏ đông giá lạnh lẽo của những buổi chiều Chủ nhật đang tàn ở Cambridge, và về một khuôn mặt nhợt nhạt, nhạy cảm, duy mỹ từng cuốn tôi vào cuộc đàm luận nghiêm túc trong một buổi chiều Chủ nhật như thế ở Cambridge, bảo với tôi rằng tất cả những hy vọng tuổi trẻ của tôi đều là những ảo tưởng đáng thương và rằng cả cuộc đời tôi sẽ chẳng đi đến đâu, và thứ ánh sáng đỏ đang tàn của tháng Ba phản chiếu trên khuôn mặt nhợt nhạt ấy với một sự bất lực hoang phế, ngay lập tức dập tắt mọi bầu máu nóng rực của tuổi trẻ trong tôi.

Bên dưới sự gợi nhắc của những ánh sáng và thời tiết này, cùng những lời lẽ lạnh lùng khinh miệt của những kẻ quý phái, nhạo báng và ngạo mạn, tất cả niềm vui và tiếng hát của ngày mới tắt lịm như một ngọn nến bị thổi phụt, hy vọng đối với tôi dường như mất đi mãi mãi, và mọi sự thật tôi từng tìm thấy và biết đến đều có vẻ như giả trá. Vào một thời điểm như thế, một kẻ cô độc sẽ cảm thấy rằng tất cả minh chứng từ các giác quan của chính mình đã phản bội mình, và không có gì thực sự sống hay chuyển động trên Trái Đất ngoại trừ những sinh vật sống-như-chết - những kẻ có trái tim lạnh lẽo, ứ nghẹn và những tử cung vô sinh, những kẻ tồn tại mãi mãi trong thứ ánh sáng đỏ đang tàn của tháng Ba và của buổi chiều Chủ nhật.

Tất cả nỗi hoài nghi gớm ghiếc, sự tuyệt vọng và hỗn loạn tối tăm của linh hồn này là điều mà một kẻ cô đơn phải biết tới, bởi anh ta không gắn kết với bất kỳ hình bóng nào ngoại trừ hình bóng do chính mình tạo ra, anh ta không được chống đỡ bởi bất kỳ tri thức nào ngoại trừ tri thức anh ta tự thu lượm bằng nhãn quan của chính đôi mắt và bộ não mình. Anh ta không được nâng đỡ, khích lệ hay trợ giúp bởi phe phái nào, anh ta không được ban phát sự an ủi bởi tín ngưỡng nào, anh ta không có niềm tin nào bên trong mình ngoại trừ niềm tin của chính bản thân. Và thông thường, chính niềm tin ấy lại rời bỏ anh ta, để mặc anh ta bị lung lay và tràn ngập sự bất lực. Và rồi đối với anh ta, dường như cuộc đời mình đã chẳng đi đến đâu, rằng anh ta đã bị hủy hoại, lạc lối và tan vỡ đến mức không thể cứu rỗi, và rằng buổi sáng - buổi sáng tươi mới, rạng ngời với lời hứa hẹn về những khởi đầu mới - sẽ không bao giờ trở lại trên Trái Đất này như nó đã từng.

Anh ta biết rằng thời gian tăm tối đang trôi qua bên mình như một dòng sông. Bức tường cô đơn khổng lồ, đen tối lúc này đang bọc lấy anh ta. Nó bao vây và ép chặt vào anh ta, và anh ta không thể trốn thoát. Và loài cây ung thư của ký ức đang gặm nhấm tâm can anh ta, gợi lại hàng trăm khuôn mặt đã quên và mười ngàn ngày đã biến mất, cho đến khi toàn bộ cuộc sống có vẻ xa lạ và không thực tựa hồ mộng mị. Thời gian trôi qua bên anh ta như một dòng sông, và anh ta chờ đợi trong căn phòng nhỏ của mình như một sinh vật bị giam cầm bởi câu thần chú độc ác nào. Và anh ta sẽ nghe thấy, từ tận xa xăm, tiếng rì rầm trầm đục của Trái Đất vĩ đại, và cảm thấy rằng mình đã bị lãng quên, rằng năng lực của mình đang hao mòn dần trong khi dòng sông vẫn chảy, và rằng tất cả cuộc đời anh ta đã trở thành hư không. Anh ta cảm thấy sức mạnh của mình đã mất, năng lực của mình héo úa, khi anh ta ngồi đó, bị đánh thuốc mê và bị xiềng xích trong ngục tù sự cô đơn của chính mình.

Thế rồi đột nhiên, vào một ngày, không vì một lý do rõ ràng nào, niềm tin và đức tin của anh ta vào cuộc sống sẽ quay trở lại như lũ triều. Nó trỗi dậy trong anh ta với một sức mạnh hân hoan và vô địch, phá tung một ô cửa sổ trên bức tường vĩ đại của thế giới và khôi phục mọi thứ trở về những hình dáng của sự rạng ngời bất tử. Được chữa lành một cách thần kỳ và trở nên vững chãi trong chính mình, anh ta sẽ lại lao mình vào cuộc lao động sáng tạo khải hoàn. Tất cả sức mạnh xưa cũ lại là của anh ta: anh ta biết những gì anh ta biết, anh ta là chính con người anh ta, anh ta đã tìm thấy những gì anh ta đã tìm thấy. Và anh ta sẽ nói ra sự thật ở bên trong mình, cất lời ngay cả khi cả thế giới phủ nhận nó, khẳng định nó ngay cả khi một triệu con người gào lên rằng đó là giả trá.

Vào một khoảnh khắc của sự tự tin khải hoàn như thế, với cảm xúc này bên trong mình, giờ đây tôi dám khẳng định rằng tôi đã biết đến Nỗi Cô Đơn tường tận như bất kỳ ai, và lúc này đây tôi sẽ viết về Người như thể Người chính là anh em ruột thịt của tôi, mà thực sự là như vậy. Tôi sẽ khắc họa Người cho bạn với một sự trung thực bám sát hình hài thực sự của Người, đến mức không một ai khi đọc lại có thể hoài nghi dung mạo của Người, khi Nỗi Cô Đơn đến với họ mai sau.

II.

Biểu hiện bi kịch, cao cả và đẹp đẽ nhất về nỗi cô đơn của con người mà tôi từng được đọc nằm trong Sách Gióp; còn biểu hiện vĩ đại và mang tính triết học nhất là trong Sách Giảng Viên. Tại đây, tôi phải chỉ ra một sự thật - một sự thật hoàn toàn trái ngược với tất cả những gì tôi được dạy từ thuở nhỏ về nỗi cô đơn và tầng nền bi kịch của cuộc sống - đến mức khi mới phát hiện ra, tôi đã vô cùng sững sờ và hoài nghi, thậm chí nghi ngờ chính sức nặng của những bằng chứng hiển nhiên đang phơi bày trước mắt. Nhưng sự thật đó vẫn nằm trơ trơ đấy, vững chãi như một bàn thạch, không thể bị lung lay hay phủ nhận; và năm tháng trôi qua, khám phá này đã trở thành một phần cấu trúc trong cuộc đời tôi.

Sự thật ấy là thế này: người cô đơn, cũng chính là người bi kịch, luôn luôn là người yêu cuộc sống này tha thiết - nghĩa là một con người tràn ngập niềm vui. Những khẳng định này hoàn toàn không hàm chứa bất cứ nghịch lý nào cả. Điều kiện này hàm chứa điều kiện kia, và làm cho điều kiện kia trở nên tất yếu. Cốt tủy của bi kịch nhân loại nằm ở sự cô đơn, chứ không phải ở sự xung đột, bất kể các lập luận trên sân khấu kịch nghệ có quả quyết điều gì đi chăng nữa. Và cũng giống như nhà văn mang phẩm chất bi kịch vĩ đại (tôi nói “nhà văn mang phẩm chất bi kịch” để phân biệt với “nhà viết các vở bi kịch”, bởi một số quốc gia, trong đó có người La Mã và người Pháp, chưa từng có nhà văn mang phẩm chất bi kịch vĩ đại nào, vì cả Virgil và Racine đều không phải, mà họ chỉ là những nhà viết các vở bi kịch vĩ đại): cũng giống như nhà văn mang phẩm chất bi kịch vĩ đại - Job, Sophocles, Dante, Milton, Swift, Dostoevski - luôn luôn là kẻ cô đơn, thì họ cũng đồng thời là những người yêu cuộc sống nhất và có cảm quan sâu sắc nhất về niềm vui. Chất lượng và bản chất thực sự của niềm vui nhân loại có thể được tìm thấy trong tác phẩm của những nhà văn mang phẩm chất bi kịch vĩ đại này, một cách rõ nét mà không một ghi chép nào khác về cuộc đời con người trên Trái Đất có thể sánh bằng. Để chứng minh cho điều này, tôi đưa ra đây một minh chứng hùng hồn:

Thuở nhỏ, bất cứ khi nào Sách Gióp được nhắc đến, tâm trí tôi lập tức gợi lên một chuỗi dài những liên tưởng u ám, xám xịt và buồn bã khôn nguôi. Tôi ngờ rằng điều này cũng đúng với hầu hết chúng ta. Những cụm từ như “kẻ an ủi kiểu Gióp”, “sự kiên nhẫn của Gióp” và “những tai ương của Gióp” đã trở thành một phần trong thành ngữ thông dụng, được dùng để chỉ những người có nỗi bất hạnh dường như không thể đong đếm và không bao giờ chấm dứt - những người đã chịu đựng lâu dài và lặng lẽ, và nỗi u sầu của họ chưa từng được rọi chiếu bởi một tia hy vọng hay niềm vui nào. Tất cả những liên tưởng ấy đã hòa quyện lại để tạo nên trong tôi một bức tranh về Sách Gióp đầy nghiệt ngã, ảm đạm và triền miên đau khổ. Thế nhưng, bất kỳ độc giả có trí tuệ và trải nghiệm, khi đọc tác phẩm vĩ đại đó ở những năm tháng trưởng thành, đều sẽ nhận ra bức tranh ấy sai lệch đến nhường nào.

Bởi lẽ, Sách Gióp không hề ảm đạm, xám xịt và buồn thảm; trái lại, nó được dệt nên toàn vẹn - hơn bất kỳ tác phẩm riêng lẻ nào khác mà tôi có thể nhớ được - từ chất liệu giàu cảm xúc, rực rỡ, đa dạng vô ngần và hiện hữu một cách huy hoàng của nền thơ ca vĩ đại. Và ngay tại tâm điểm của khúc ca vang vọng về nỗi sầu muộn vĩnh cửu ấy, tác phẩm mang chứa bài ca hoan ca của niềm vui bất diệt.

Điều này chẳng có gì kỳ lạ hay lập dị, chỉ toàn điều tất yếu và đúng đắn. Chính cảm quan về cái chết và sự cô đơn, nhận thức về sự ngắn ngủi của những ngày mình được sống, và gánh nặng khổng lồ đang chực chờ của nỗi sầu muộn - thứ gánh nặng luôn tăng lên chứ chẳng bao giờ giảm đi - mới là điều làm cho niềm vui trở nên huy hoàng, mang phẩm chất bi kịch và quý giá đến mức không lời nào tả xiết đối với một con người như Gióp. Cái đẹp đến rồi đi, tan biến ngay khoảnh khắc ta vừa chạm vào, chẳng thể nào níu giữ hay nắm chặt, cũng như ta chẳng thể nào ngăn một con sông thôi chảy. Chính từ nỗi đau của sự mất mát này, từ niềm ngất ngây đắng cay của sự sở hữu thoáng chốc này, từ vinh quang định mệnh của một khoảnh khắc duy nhất này, nhà văn mang phẩm chất bi kịch sẽ tạo nên một bài ca cho niềm vui. Tiếng ca đó, ít nhất, là thứ ông có thể giữ lại và trân trọng mãi mãi. Và bài ca của ông tràn ngập nỗi đau buồn bởi ông biết rằng niềm vui là phù du, sẽ biến mất ngay tích tắc có được, và đó là lý do vì sao nó quá đỗi quý giá, đạt đến vinh quang trọn vẹn từ chính những thứ giới hạn và hủy diệt nó.

Ông biết rằng niềm vui có được vinh quang là nhờ nỗi u sầu, nỗi u sầu cay đắng và sự cô đơn của con người, và rằng nó luôn bị ám ảnh bởi sự định đoạt của cái chết, cái chết tối tăm, thứ sẽ chặn đứng lời nói, đôi mắt, hơi thở sống của chúng ta, bằng hai sự lãng quên song hành của cát bụi và hư vô. Vì vậy, một con người như Gióp cũng sẽ tạo nên một khúc tế ca cho nỗi sầu muộn, nhưng đó đồng thời vẫn là một bài ca dành cho niềm vui, và là một bài ca kỳ lạ, đẹp đẽ hơn bất kỳ bài ca nào khác mà con người từng hát lên:

“Ngươi có ban sức mạnh cho ngựa chăng? Ngươi có mặc cho cổ nó tiếng sấm vang?

Ngươi há có thể làm nó kinh sợ như cào cào sao? Sự oai nghiêm của lỗ mũi nó thật đáng khiếp hãi.

Nó nện móng nơi thung lũng, và mừng rỡ trong sức mạnh mình; nó xông pha tới đón quân binh vũ trang.

Nó nhạo báng nỗi sợ, và chẳng hề kinh hãi; cũng không hề lùi bước trước lưỡi gươm.

Mũi tên khua rộn ràng bên hông nó, cùng giáo mác chói lòa và khiên che.

Nó nuốt trọn mặt đất bằng sự dữ dội và cuồng nộ; chẳng màng tin rằng đó là tiếng kèn lệnh đang vang.

Giữa tiếng kèn reo, nó cất tiếng: Ha, ha! Và nó đánh hơi thấy trận chiến từ thuở xa xăm, tiếng sấm truyền của các vị tướng và tiếng hò reo trận mạc.”

Đó chính là niềm vui - một niềm vui trang nghiêm và khải hoàn; một niềm vui nghiêm khắc, cô độc, và bất diệt, mang trong mình trọn vẹn chiều sâu cùng sự khiêm nhường trước sự kinh ngạc của con người, cảm quan của anh ta về vinh quang và nỗi kính sợ của anh ta trước sự huyền bí của vũ trụ. Một tiếng thét hoan ca bị xé toạc khỏi môi chúng ta khi đọc những dòng thơ về con ngựa vinh quang ấy và niềm vui ta cảm nhận được thật hoang dại và kỳ lạ, cô độc và tăm tối như cái chết, vĩ đại hơn nhiều niềm vui thanh nhã, dễ thương mà những người như Herrick và Theocritus từng miêu tả, dù cho họ có là những nhà thơ lớn đi chăng nữa.

III.

Giống như Sách Gióp và bài giảng trong Sách Giảng Viên, mỗi tác phẩm theo cách riêng của mình là những pho sử tối cao về nỗi cô đơn của con người, thì toàn bộ các sách thuộc Cựu Ước, trong tính toàn vẹn của chúng, đã cung cấp thứ văn chương tối hậu và sâu sắc nhất về nỗi cô đơn nhân loại mà thế giới từng biết đến. Thật kinh ngạc khi thấy cuộc đời cô độc được ghi lại trong ngần ấy cuốn sách với một sự thống nhất chặt chẽ đến thế về tinh thần và tín ngưỡng - cách mà nó tìm thấy biểu hiện trọn vẹn của mình trong các khúc tế ca, những bài ca, lời tiên tri và biên niên sử của biết bao con người, tất cả đều vô cùng đa dạng, mỗi người lại quá đỗi cá tính, mỗi người đều hiển lộ một hình ảnh mới về trái tim thầm kín và cô quạnh nhất của con người, và tất cả cùng kết hợp lại để tạo nên một hình tượng duy nhất về nỗi cô đơn của anh ta - một hình tượng vô song trong sự uy nghiêm và lộng lẫy của nó.

Sự nhất quán tổng hòa, đầy tính đóng góp của quan niệm về nỗi cô đơn của con người trong các sách thuộc Cựu Ước lại càng trở nên kinh ngạc hơn nữa khi chúng ta bắt đầu đọc sang Tân Ước. Bởi vì, giống như Cựu Ước trở thành cuốn biên niên sử về cuộc đời cô độc, thì các sách Phúc Âm của Tân Ước, với một sự thống nhất diệu kỳ và không hề lay chuyển tương tự, lại trở thành cuốn biên niên sử về cuộc đời của tình yêu. Điều mà Chúa Ki-tô luôn luôn nói, điều mà Ngài chưa từng lệch lối khi nói, điều mà Ngài nói hàng ngàn lần theo hàng ngàn cách khác nhau, nhưng luôn mang một niềm tin cốt lõi đồng nhất, chính là thế này: :Ta là con của Cha Ta, và các ngươi là anh em của Ta.” Và sợi dây thống nhất ràng buộc tất cả chúng ta lại với nhau, biến Trái Đất này thành một gia đình, và mọi người thành anh em cũng như thành con cái của Thiên Chúa, chính là tình yêu.

Do đó, mục đích cốt lõi trong cuộc đời của Chúa Kitô là phá tan cuộc đời cô độc và thiết lập ngay trên thế gian này một cuộc đời tình yêu. Lẽ ra ai cũng phải thấy rõ rằng khi Chúa Kitô phán: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ,” “Phúc cho những ai than khóc, vì họ sẽ được ủi an,” “Phúc cho những ai thương xót người, vì họ sẽ được thương xót,” - Chúa Kitô ở đây không hề ca ngợi các phẩm hạnh khiêm nhường, sầu muộn hay lòng thương xót như những đức tính tự thân là đủ, mà Ngài đang hứa hẹn với những người có các phẩm hạnh ấy phần thưởng phong phú nhất mà con người từng được ban tặng - một phần thưởng không chỉ hứa hẹn quyền thừa kế Trái Đất này, mà còn cả vương quốc thiên đàng nữa.

Đó chính là ý nguyện tối hậu trong cuộc đời Chúa Kitô, là mục đích trong những lời giáo huấn của Ngài. Và toàn bộ ý nghĩa cốt lõi của nó là rằng cuộc đời cô độc có thể bị tiêu hủy mãi mãi bởi cuộc đời tình yêu. Hoặc ít nhất, đó là ý nghĩa mà tôi tự chiêm nghiệm được từ cuộc đời Ngài. Bởi vì trong những năm gần đây, khi tôi phải sống cô độc quá nhiều và đã thấu hiểu nỗi cô đơn quá rõ, tôi đã quay lại nhiều lần để đọc câu chuyện về những lời nói và cuộc đời của con người này, nhằm xem liệu tôi có thể tìm thấy trong đó một ý nghĩa cho chính mình, một cách sống tốt hơn cách sống tôi đang có chăng. Tôi đọc những gì Ngài nói không phải trong tâm trạng sùng kính hay thánh thiện, không phải vì ý niệm về tội lỗi, vì cảm giác hối lỗi hay vì lời hứa về một phần thưởng trên thiên đàng có ý nghĩa lớn lao với tôi. Mà tôi đã cố gắng đọc những câu chữ trần trụi của Ngài một cách thuần khiết và giản đơn, theo đúng cách mà tôi nghĩ Ngài hẳn đã thốt ra, và cũng như cách tôi từng đọc lời lẽ của những người khác - của Homer, Donne, Whitman, hay nhà văn đã viết Sách Giảng Viên. Và nếu ý nghĩa tôi gán cho những lời của Ngài có vẻ ngớ ngẩn hay thái quá, đơn giản đến trẻ con hay tầm thường, thì điều tôi nghĩ một mình cũng chẳng khác gì điều mười triệu người khác từng nghĩ; tôi chỉ ghi lại ở đây đúng như cách tôi đã thấy, đã cảm, đã tự tìm ra cho bản thân, và cố gắng không thêm thắt, bớt xén hay sửa đổi điều gì.

Và giờ đây tôi biết rằng, dù con đường và ý nghĩa cuộc đời Chúa Kitô là một con đường và ý nghĩa tốt đẹp hơn nhiều, vượt xa con đường chính tôi, nhưng tôi chẳng bao giờ có thể biến nó thành của mình; và tôi nghĩ điều này cũng đúng với tất cả những con người cô đơn khác mà tôi từng thấy hay biết đến - những nguyên tử vô danh, vô thanh, vô diện của Trái Đất này, cũng như Gióp, Everyman và Swift. Và chính Chúa Kitô, người đã rao giảng về cuộc đời tình yêu, thì bản thân Ngài cũng cô đơn như bất kỳ con người nào từng sống trên đời. Thế nhưng, tôi không thể nói rằng Ngài đã sai lầm chỉ vì Ngài rao giảng về cuộc đời tình yêu và sự thông công, để rồi lại sống và chết trong cô độc; tôi cũng chẳng dám quả quyết con người của Ngài là sai trái bởi vì có cả tỷ người kể từ đó đã tuyên xưng con đường của Ngài nhưng chưa từng thực sự dõi theo nó.

Tôi chỉ có thể nói rằng tôi đã không thể biến con đường của Ngài thành con đường của riêng tôi. Bởi lẽ, tôi đã tìm thấy một trạng thái bất biến, vĩnh cửu của cuộc đời con người, không phải là tình yêu, mà là sự cô đơn. Bản thân tình yêu không phải là trạng thái trong đời sống chúng ta. Nó là một đóa hoa hiếm hoi, một đóa hoa quý giá. Đôi khi, nó là đóa hoa ban cho chúng ta sự sống, thứ đập tan những bức tường kiên cố tăm tối của mọi nỗi cô đơn trong ta và đưa ta trở lại với sự thông công của cuộc đời, với gia đình của Trái Đất, với tình anh em của nhân loại. Nhưng đôi khi, tình yêu lại là đóa hoa dẫn lối ta đến cái chết; và từ nó, ta nhận lấy đớn đau cùng bóng tối; và sự tàn phế của tâm hồn, sự điên cuồng của trí não, thảy đều có thể ẩn giấu ở trong đó.

Đóa hoa của tình yêu sẽ đến với chúng ta như thế nào, vì sao hay bằng cách nào - dù mang lại sự sống hay cái chết, chiến thắng hay bại vong, niềm vui hay sự điên cuồng - không một ai trên Trái Đất này có thể nói trước. Nhưng tôi biết rằng ở tận cùng, mãi mãi ở điểm tận cùng đối với chúng ta - những kẻ lang thang không nhà không cửa, không một lối vào, bị xua đuổi của cuộc đời, những con người cô đơn - luôn luôn có một gương mặt u tối đang chờ đợi, đó là người bạn đường mang tên Cô Đơn.

Nhưng dẫu lời khước xưa đã rụng rơi, những ước nguyện xưa vẫn đứng vững - và chúng ta, những kẻ từng chết nay đã hồi sinh, chúng ta, những kẻ từng lạc lối nay lại được tìm thấy, và chúng ta, những kẻ từng bán đi tài năng, nhiệt huyết cùng niềm tin tuổi trẻ để giao phó cho những thây ma vô hồn, cho đến khi trái tim ta mục rỗng, tài năng ta hao mòn và hy vọng ta tiêu tan, nay đã giành lại được cuộc đời mình một cách đẫm máu, trong cô tịch và bóng tối; và chúng ta biết rằng mọi thứ đối với ta rồi sẽ lại vẹn nguyên như chúng đã từng, và ta lại nhìn thấy, như đã từng nhìn thấy một lần trước đây, hình ảnh của kinh thành rực rỡ. Trải rộng mênh mông, và rực cháy thành những tầng ánh sáng như những dải ngọc, thành phố ấy bùng cháy vĩnh cửu trong tầm nhìn của chúng ta khi ta bước đi trên Cầu, bao quanh nó là những dòng triều cuồn cuộn, và những con tàu vĩ đại đang cất tiếng gọi. Và chúng ta bước đi trên Cầu, luôn luôn bước đi trên Cầu một mình cùng với Người, người bạn nghiêm khắc, người duy nhất mà chúng ta trò chuyện, người chưa bao giờ bỏ mặc chúng ta. Hãy lắng nghe:

“Nỗi cô đơn vĩnh hằng và mặt đất lại hiện về! Người anh em tăm tối và người bạn nghiêm khắc, gương mặt bất tử của bóng đêm và dạ tước, người đã cùng ta đi qua nửa cuộc đời, người ta sẽ ở cùng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay mãi mãi - ta còn điều gì phải sợ hãi một khi ngươi ở bên ta? Người bạn anh hùng, người anh em cốt nhục của đời ta, gương mặt tăm tối - há chẳng phải chúng ta đã cùng nhau đi qua hàng triệu con đường, há chẳng phải chúng ta đã cùng nhau lao qua những đại lộ vĩ đại và cuồng nộ của màn đêm, há chẳng phải chúng ta đã cô độc băng qua những đại dương bão tố, biết đến những vùng đất lạ, rồi lại trở về để bước đi trên lục địa của bóng đêm và lắng nghe sự im lìm của mặt đất? Chúng ta há chẳng đã từng dũng cảm và vinh quang khi ở bên nhau sao, hỡi người bạn? Chúng ta há chẳng đã từng biết đến khải hoàn, niềm vui và vinh quang trên cõi đời này - và liệu mọi thứ sẽ lại vẹn nguyên với ta như thuở ấy, nếu ngươi trở lại bên ta? Hãy đến với ta, người anh em, trong những canh dài của đêm đen.

Hãy đến với ta trong tâm bão thầm kín và lặng lẽ nhất của bóng tối. Hãy đến với ta như ngươi vẫn luôn đến, mang lại cho ta một lần nữa sức mạnh kiên cường thuở trước, niềm hy vọng bất tử, niềm vui khải hoàn và sự tự tin sẽ một lần nữa chiếm cứ cả địa cầu.”

Bùi Gia Bin dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công