favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Xuân 2026
Next

Maurice Blanchot viết về Rilke

25/05/2026 22:04

Trong L’Espace littéraire, sau Franz Kafka và Stéphane Mallarmé, Blanchot viết một tiểu luận dài về Rainer Maria Rilke. Đây là phần thứ nhất, tập trung vào cuốn tiểu thuyết duy nhất của Rilke, Malte Laurids Brigge.

 

Rilke và đòi hỏi của chết

Khi Rilke, để sống trọng vẹn với định mệnh nhà thơ, cố gắng hết sức mở ra với chiều lớn hơn của mình, cái chiều bao gồm cả những gì ông sẽ trở thành khi chết đi, người ta không thể nói rằng ông rụt lại trước những mặt khó khăn của kinh nghiệm ấy. Ông đối diện với cái ông gọi là nỗi kinh hoàng. Nó vô cùng khủng khiếp. Đó là một sức mạnh quá lớn đối với chúng ta: chính sức mạnh của chúng ta vượt quá chúng ta [nous dépasse] và chúng ta không nhận ra được. Nhưng, cũng bởi vậy, ta phải kéo nó về phía mình, khiến nó trở nên gần gũi với ta, khiến trong nó ta trở nên gần gũi với cái vốn gần gũi với nó.

Đôi khi ông nói về việc chế ngự cái chết. Vượt qua là một trong những từ mà thơ cần. Vượt qua không có nghĩa là đi xa hơn, mà là chịu đựng điều vượt quá chúng ta, không quay lưng khỏi nó, cũng không nhắm tới bất cứ cái gì ở bên kia nó. Có lẽ chính theo nghĩa này mà Nietzsche nói về cách thức của Zarathustra: “Con người là thứ gì đó phải bị vượt qua.” Không phải là con người phải đạt được điều gì đó ở ngoài con người; nó chẳng có gì để đạt tới cả, và nếu có điều gì vượt quá nó, thì sự vượt quá ấy không phải là cái gì nó có thể sở hữu hay trở thành. Vượt qua, vậy thì, cũng rất khác với làm chủ. Một trong những sai lầm của cái chết tự nguyện nằm ở mong muốn làm chủ cái chết của mình và áp đặt giới hạn và hình thức của bản thân lên ngay cả chuyển động cuối cùng ấy. Đó là thách thức của Igitur [tác phẩm của Mallarmé mà Blanchot nói đến ở chương trước]: đặt ra giới hạn cho sự ngẫu nhiên, chết trong sự toàn vẹn của mình, trong sự trong suốt của một biến cố mà người ta đã làm cho ngang bằng với chính mình, ở đó người ấy bị tiêu hủy, và nhờ vậy, bị tiêu hủy mà không cần bạo lực. Tự sát vẫn gắn với ước muốn chết mà không phải trải qua cái chết.

Khi Rilke suy ngẫm về vụ tự sát của bá tước Wokf Kalckreuth trẻ tuổi – và suy ngẫm của ông được thể hiện dưới hình thức một bài thơ – điều ông không thể chấp nhận là sự thiếu kiên nhẫn và chú tâm mà hình thức của cái chết ấy thể hiện. Thiếu chú tâm là sự xúc phạm đối với một độ chín nhất định, vốn trái ngược với sự xáo động đầy thú tính của thế giới hiện đại – sự can thiệp kẻ cả, vội vã hành động và hối hả nhộn nhạo trong vẻ khẩn cấp rỗng tuếch của những thứ cần làm. Thiếu kiên nhẫn cũng là một sự xúc phạm đối với đau khổ: bởi từ chối chịu đựng cái khủng khiếp, bởi né tránh điều không thể chịu đựng nổi, người ta lảng tránh khoảnh khắc khi mọi thứ đảo ngược, khi nguy cơ lớn nhất trở thành sự an toàn cốt yếu. Sự thiếu kiên nhẫn trong cái chết tự nguyện nằm ở chỗ từ chối chờ đợi để đạt đến trung tâm thuần khiết nơi chúng ta tìm lại được phương hướng của mình trong cái vượt quá chúng ta.

Tại sao lại không chờ cho đến khi gánh nặng trở nên không thể chịu được: khi ấy nó sẽ đảo ngược, và chỉ có vẻ quá nặng nề bởi nó quá thuần khiết.

 

 

Như vậy chúng ta thấy rằng cái chết quá vội vã thì giống như sự thất thường của trẻ con, một sự thiếu chú tâm, một cử chỉ vô ý làm cho ta lạ lẫm với kết cục của mình – và ta chết, dẫu cho có vô cùng chắc chắn, trong một sự xao lãng không thích đáng. Kẻ quá sẵn sàng chết – sinh thể hữu hạn quá nhiệt thành, con người, kẻ muốn chấm dứt sự sống bằng toàn bộ sức lực mình – cứ như thể bị kéo ra khỏi cái chết bởi bạo lực của cơn hăm hở vốn rứt anh ta khỏi cái sống. Người ta không nên khao khát cái chết quá nhiều; người ta không nên làm mờ đi cái chết bằng cách phủ lên đó cái bóng của một khát khao quá đáng. Có lẽ có hai cái chết xao lãng: một cái chết khi chúng ta chưa chín, vốn không thuộc về chúng ta, cái chết còn lại thì chưa chín bên trong chúng ta và là cái chúng ta giành được bằng bạo lực. Trong cả hai trường hợp – một đằng là cái chết không thuộc về chúng ta, đằng khác thì bởi đó là khao khát của chúng ta hơn là cái chết của chúng ta – chúng ta đều có thể sợ mình sẽ diệt vong bởi thiếu cái chết khi ngã quỵ trong trạng thái xao lãng tột cùng.

1. Tìm cái chết đúng

Dường như, ở ngoài mọi hệ thống tôn giáo hay đạo đức, người ta đi đến chỗ tự hỏi liệu có tồn tại một cái chết tốt và một cái chết tệ: một khả năng chết cách chân thực, hòa thuận với sự chết, và ngoài ra còn có nguy cơ chết tệ hại, như thể tình cờ, một cái chết không cần thiết và sai – một nguy cơ quá lớn đến nỗi tất tật cuộc sống có thể phụ thuộc vào mối liên hệ chính đáng này với sự chết, cái nhìn sáng suốt này hướng về chiều sâu của một cái chết đúng. Khi nghĩ về nỗi lo chu toàn cái chết, và về sự cần thiết phải gắn từ chết với từ xác thực – một sự cần thiết mà Rilke đã sống mãnh liệt ở nhiều hình thức – người ta thấy rằng đối với ông, mối quan tâm ấy có nguồn gốc kép.

A. Chết trung thành với chính mình

Lạy Chúa, xin ban cho mỗi người cái chết của riêng mình, cái chết thực bắt nguồn từ cuộc sống này, nơi người ấy tìm thấy tình yêu, ý nghĩa và sự khốn cùng.

Ước mong này bắt nguồn từ một hình thức của cá nhân chủ nghĩa vốn thuộc về cuối thế kỷ mười chín và có được một sự kiêu hãnh cao quý bởi diễn giải tỉ mỉ của Nietzsche. Nietzsche cũng muốn chết cái chết của chính mình. Bởi vậy sự cao quý được nhìn thấy nơi cái chết tự nguyện. “Kẻ chết cái chết của mình, chiến thắng, là kẻ tự mình hoàn thành nó.” “Nhưng thật đáng ghê tởm… cái chết nhăn nhó, trườn lên bằng bụng như một tên trộm.” “Nếu không, cái chết của ngươi sẽ chẳng hề vừa với ngươi.” Chết cái chết của mình, vẫn là mình đến tận cùng, là một cá nhân tính đến cùng, độc nhất và không bị phân chia: hạt cứng trong lõi không muốn bị phá vỡ. Người ta muốn chết, nhưng chết đúng thời điểm và đúng cách của mình. Người ta không muốn chết cái chết chung chạ với bất kỳ ai. Sự khinh miệt cái chết vô danh, trong cụm “Họ chết,” là nỗi thống khổ bị chôn giấu mà tính chất vô danh của cái chết gây ra. Vả lại, người ta vui mừng mà chết: chết thì cao quý, nhưng xong đời thì không.

Nỗi thống khổ của cái chết vô danh

Chẳng hề có khinh miệt trong thế giới nội tâm kín đáo và lặng lẽ của Rilke. Nhưng nỗi đau của cái chết vô danh đã củng cố thêm mối quan tâm mà cái nhìn của Simmel, Jacobsen, và Kierkegaard đã khơi lên trong ông. Malte đã mang lại cho nỗi đau ấy một hình thức hẳn sẽ không thể tách rời khỏi cuốn sách ấy nếu thời đại chúng ta đã không nhìn sát hơn vào cái chết phi-ngã và gương mặt mà nó khoác lên con người. Nỗi đau của Malte liên quan không ít đến sự tồn tại vô danh trong các thành phố lớn – nỗi thống khổ biến một số người thành kẻ lang thang, những người rơi ra khỏi chính mình và khỏi thế giới, hầu như đều chết một cái chết không chủ ý, chẳng bao giờ tự mình giành lấy. Đó là chân trời đặc thù của cuốn sách: sự học lấy lưu đày, sự run rẩy của lầm lạc khi nó mang hình thức cụ thể của đời sống phiêu bạt mà người thanh niên xa lạ kia dần trượt vào - bị lưu đày khỏi những điều kiện của đời sống mình, bị ném vào sự bất an của một không gian nơi anh ta không còn có thể sống hay chết “như chính mình”.

Nỗi sợ thức dậy trong Malte, dẫn anh đến chỗ khám phá ra “tồn tại của kinh hoàng” trong từng hạt rất nhỏ không khí – nỗi đau sinh ra từ sự xa lạ nghẹt thở, khi mọi an toàn biến mất và đột nhiên ý về một bản tính người, về một thế giới con người vốn có thể nương náu, sụp đổ: Rilke đối mặt với nó cách sáng suốt và chịu đựng đầy dũng cảm. Ông ở lại Paris, trong thành phố quá lớn và “đầy ắp nỗi buồn” ấy, ở lại đó “chính là bởi như vậy rất khó.” Ông thấy ở đó thử thách quyết định, thứ biến đổi và dạy nhìn, một điểm khởi đầu cho “một người bắt đầu học các hoàn cảnh cuộc đời mình.” “Nếu xoay xở được ở đây, người ta sẽ tiến xa trong tư tưởng.” Tuy nhiên, khi ông cố gắng thể hiện điều này trong phần thứ ba của Sách Giờ Kinh, tại sao ông dường như ngoảnh đi khỏi cái chết như ông thấy nó, sự tiếp cận đầy khiếp hãi của một cái mặt nạ rỗng, và thay thế nó bằng hy vọng về một cái chết khác, chẳng xa lạ cũng không nặng nề? Phải chăng niềm tin mà ông bày tỏ - rằng người ta có thể hân hoan chết cái chết của mình, quen thuộc và thân thiết – đánh dấu thời điểm ông né tránh kinh nghiệm bằng cách tự bao bọc mình trong hy vọng nhằm an ủi trái tim ông? Không thể không nhận ra bước lùi lại này. Nhưng còn một điều khác nữa. Malte không chỉ gặp nỗi lo âu dưới hình thức thuần túy của cái khủng khiếp; ông còn khám phá cái khủng khiếp dưới hình thức của sự vắng mặt lo âu, của tính vô nghĩa thường nhật. Nietzsche cũng đã nhìn thấy điều đó, nhưng ông đón nhận nó như một thách thức: “Không có gì tầm phào hơn cái chết.” Cái chết như một thứ tầm phào, cái chết tự hạ thấp mình và trở thành một thứ ất ơ thô tục: đó là cái khiến Rilke lùi lại. Ông né tránh khoảnh khắc khi cái chết tự bộc lộ bản tính của nó, khi chết và giết chẳng quan trọng hơn “uống một ngụm nước hay cắt đầu cây bắp cải.” Cái chết được sản xuất hàng loạt, làm sẵn cho tất cả, ai nấy đều vội vã biến mất; cái chết giống như một sản phẩm vô danh, một vật không giá trị, giống như những thứ trong thế giới hiện đại mà Rilke luôn khước từ: nhìn vào những so sánh này người ta thấy ông đã trượt từ sự trung tính cốt yếu của cái chết sang ý cho rằng trung tính ấy chỉ là một hình thức có tính lịch sử và tạm thời của cái chết, cái chết vô danh của các thành phố lớn. Đôi khi, bị nỗi sợ túm lấy, ông không thể tránh khỏi việc nghe thấy tiếng vo ve vô danh của cái chết, vốn chẳng phải lỗi của các thời đại hay sự bất cẩn của con người. Thời nào chúng ta cũng chết như những con ruồi bị mùa thu nhốt trong nhà, trong những căn phòng nơi chúng bay lẩn quẩn mù dở với cơn chóng mặt đờ đẫn, đột ngột điểm nốt lên tường bằng cái chết bất cẩn của chúng. Nhưng, nỗi sợ đã qua, Rilke tự trấn an bằng cách gợi lên thế giới hạnh phúc hơn của một thời đại khác, và cái chết vô nghĩa từng khiến ông rùng mình kia dường chỉ cho thấy sự bần cùng của một thời đại hiến trọn cho vội vã và tiêu khiển nhàn rỗi.

Hễ nghĩ về ngôi nhà, nơi đã chẳng còn ai, tôi lại có cảm giác rằng trước đây mọi chuyện hẳn đã phải rất khác. Thời xưa, người ta biết (hoặc có lẽ trực giác) rằng họ mang cái chết bên trong mình như hạt ở trong quả. Trẻ con mang bên trong một cái chết nhỏ, còn người lớn, một cái chết to. Phụ nữ mang cái chết của họ trong bụng và đàn ông mang nó trong lồng ngực. Người ta chỉ đơn giản là có nó, và sự sở hữu ấy đem lại một phẩm hạnh đặc biệt, một niềm kiêu hãnh câm lặng. [Blanchot trích từ Malte Laurids Brigge]

Và rồi một hình ảnh về cái chết cao quý hơn xuất hiện, cái chết của ông Chamberlain, ở đó quyền năng tối cao của chết, trong khi vượt xa những quan niệm con người đã thành thói quen của chúng ta bởi sức mạnh lạ thường của nó, vẫn giữ được những đặc điểm của một sự ưu việt quý tộc, điều mà người ta sợ hãi, nhưng cũng có thể ngưỡng mộ.

Phận sự của Chết và phận sự của Nghệ Thuật

Trong nỗi kinh hoàng trước cái chết sản xuất hàng loạt có nỗi buồn của người nghệ sĩ tôn vinh những món đồ chế tác tinh xảo, người muốn tạo ra một tác phẩm và biến chết thành công việc của mình. Cái chết bởi vậy ngay từ đầu đã gắn liền với chuyển động, vốn rất khó làm sáng tỏ, của kinh nghiệm nghệ thuật. Điều này không có nghĩa, giống như các nhân vật Renaissance được ngưỡng mộ, rằng chúng ta phải là nghệ sĩ của chính mình, biến cuộc sống và cái chết của mình thành nghệ thuật, và biến nghệ thuật thành sự khẳng định xa hoa về bản thân mình. Rilke không có sự hồn nhiên yên ổn của niềm kiêu hãnh ấy, ông cũng không có luôn cả sự ngây thơ của nó: ông không chắc chắn về chính mình cũng như về tác phẩm, bởi ông là người đương thời của một thời đại phê phán buộc nghệ thuật phải cảm thấy mình không được biện minh. Nghệ thuật có lẽ là con đường dẫn đến chính bản thân chúng ta – Rilke là người đầu tiên nghĩ như vậy – và có lẽ cũng dẫn đến một cái chết hẳn là của riêng ta. Nhưng nghệ thuật ở đâu? Đường dẫn đến đó vẫn chưa được biết đến. Đúng là công việc đòi hỏi nỗ lực, chăm chỉ, hiểu biết; nhưng những năng lực ấy đều chìm trong sự vô tri tột cùng. Công việc ấy luôn có nghĩa là: không biết rằng đã có một nghệ thuật, không biết rằng đã có một thế giới.

Việc tìm kiếm một cái chết của riêng mình đã rọi ánh sáng, nhờ vào sự tối thẳm các lối đi dẫn đến đó, lên chính xác những gì là khó khăn trong “thực hành” nghệ thuật. Khi xem xét những hình ảnh dùng để duy trì suy nghĩ của Rilke (cái chết “chín muồi” trong chính trái tim chúng ta; nó là “quả”, thứ quả ngọt, tối thẳm, hoặc giả một thứ quả vẫn còn “xanh,” không ngọt, mà chúng ta, “lá và vỏ cây,” phải mang theo và nuôi dưỡng), người ta thấy rõ là ông tìm cách biến kết thúc của chúng ta thành thứ gì đó khác với một tai nạn đến từ bên ngoài để vội vã hoàn tất. Cái chết của một người hẳn phải tồn tại không chỉ vào khoảnh khắc cuối cùng, mà ngay từ khi người ta bắt đầu sống, trong độ sâu và sự thiết  thân của sống. Cái chết bởi vậy sẽ là một phần của tồn tại, nó sẽ hút lấy sự sống con người, từ sâu bên trong. Nó hẳn được tạo ra bởi ta và, có lẽ, dành cho ta, như một đứa trẻ là con của bà mẹ. Những hình ảnh này Rilke thường xuyên sử dụng: chúng ta tạo ra cái chết của mình, hoặc giả chúng ta đem cái chết của mình vào thế giới chết, một đứa trẻ sinh non. Và ông cầu nguyện:

Giờ xin ban cho chúng con (sau tất tật mọi đau đớn của phụ nữ) thân phận làm mẹ của con người.

Đây là những hình tượng nghiêm trọng và đáng lo ngại, chúng, dẫu sao, vẫn giữ kín bí mật của chúng. Rilke gợi lên hình ảnh sự trưởng thành của thực vật hay hữu cơ chỉ để hướng chúng ta đến điều chúng ta muốn tránh – để cho chúng ta thấy cái chết có một dạng tồn tại, và tập trung chú ý vào loại tồn tại này, khơi dậy sự quan tâm của chúng ta. Cái chết tồn tại, nhưng dưới hình thức nào? Hình ảnh này thiết lập mối quan hệ nào giữa người sống và thực tại của sự chết? Người ta có thể tin vào một mối liên kết tự nhiên; người ta có thể nghĩ, chẳng hạn, rằng tôi tạo ra cái chết của mình giống như cơ thể tạo ra khối ung thư. Nhưng đó không phải vấn đề ở đây: mặc cho sự thực sinh học, người ta luôn phải suy nghĩ, vượt ra ngoài các hiện tượng hữu cơ, về bản thể của cái chết. Người ta không bao giờ chỉ chết bởi một căn bệnh, mà bởi cái chết của chính mình, và đó là lý do tại sao Rilke ngoan cố tránh việc tìm ra ông chết vì cái gì: ông không muốn đặt giữa bản thân ông và kết thúc của ông sự điều đình của bất kỳ hiểu biết chung chung nào.

Vì thế, sự thân mật của tôi với cái chết của mình dường như là điều không thể tiếp cận. Nó không ở trong tôi như sự cảnh giác của giống loài hay như một đòi hỏi sinh tồn, thứ mà vượt khỏi cá nhân sẽ khẳng định những mục đích rộng lớn hơn của tự nhiên. Mọi quan niệm tự nhiên chủ nghĩa như thế đều xa lạ với Rilke. Đối với sự thân mật mà tôi không thể tiến gần ấy, tôi vẫn phải chịu trách nhiệm. Tôi có thể, theo một lựa chọn tối tăm tôi buộc phải chấp nhận, chết vì cái chết lớn mà tôi mang trong mình, nhưng cũng có thể chết vì cái chết nhỏ bé, còn xanh và chua, mà tôi không thể biến thành một thứ quả ngọt, hoặc giả chết một cái chết ất ơ mượn tạm nào đó:

… đó không phải cái chết của chúng ta, mà là cái chết cuối cùng đến với chúng ta chỉ vì chúng ta chưa làm chín muồi cái chết của mình.

Cái chết xa lạ này khiến chúng ta chết trong nỗi đau của sự ghẻ lạnh.

Cái chết của tôi phải luôn luôn hướng vào bên trong. Nó phải giống như hình hài vô hình của tôi, cử chỉ của tôi, sự im lặng của bí mật thầm kín nhất nơi tôi. Có điều gì đó tôi phải làm để hoàn tất nó; quả thực, mọi thứ vẫn còn để cho tôi làm: đó phải là công việc của tôi. Nhưng công việc này ở bên ngoài tôi, đó là một phần của tôi mà tôi không soi sáng, phần mà tôi không đạt được và không làm chủ được. Đôi khi Rilke, trong sự lưu tâm đến nỗ lực chu đáo và những công việc thực hiện cẩn thận, nói về một cái chết như thế:

… đó là cái chết mà công việc tốt đẹp đã định hình cách sâu sắc, cái chết thích đáng rất cần chúng ta bởi chúng ta sống nó, và chẳng ở đâu chúng ta gần nó hơn ở đây.

Như vậy cái chết dường như là một sự thiếu mà chúng ta phải hào phóng lấp đầy, một sự khó nghèo cốt yếu vốn rất gần với sự khó nghèo của Chúa, “sự thiếu thốn tuyệt đối cần đến sự trợ giúp của chúng ta,” và nó chỉ đáng sợ bởi nỗi đau tách nó khỏi chúng ta. Duy trì, định hình hư vô của chúng ta – đó là nhiệm vụ. Ta phải là người tạo hình và là nhà thơ cho cái chết của mình.

Kiên nhẫn

Nhiệm vụ là như thế: một lần nữa nó mời gọi ta liên hệ giữa công việc thi ca và nỗ lực ta phải bỏ ra để chết, nhưng nó không làm sáng tỏ cái này lẫn cái kia. Chỉ còn lại dai dẳng ấn tượng về một hoạt động độc nhất, không thể nắm bắt, về bản chất khác với những gì thường được gọi là hành động và làm việc.

Hình ảnh về sự chín dần của quả, sự lớn lên vô hình của nó, đứa trẻ, gợi lên ý về những nỗ lực không vội vã, ở đó mối quan hệ với thời đại thay đổi sâu sắc, cũng giống như quan hệ với ý chí chúng ta, thứ dự định và tạo ra.

Dẫu cho ở phối cảnh khác, chúng ta lại tìm thấy ở đây cùng sự kết án tính thiếu kiên nhẫn đã nhận ra ở Kafka: cảm giác rằng con đường ngắn nhất là một sự xúc phạm đến cái không rõ ràng, nếu nó dẫn chúng ta đến chỗ những gì chúng ta muốn chạm vào mà không làm cho chạm vào được thứ vượt quá mọi ý chí làm chủ. Thời gian, như nó biểu hiện trong hoạt động của công việc thường ngày, là một thứ thời gian cắt xén, phủ định - một sự chuyển dịch hấp tấp giữa những điểm mà nó không được phép lưu lại. Sự kiên nhẫn nói lên một thời gian khác, một công việc khác, thứ mà người ta không nhìn thấy kết cục, thứ không giao cho chúng ta một mục đích nào để từ đó có thể lao tới bằng một dự phóng mau lẹ. Ở đây sự kiên nhẫn là thiết yếu, bởi thiếu kiên nhẫn là điều không thể tránh khỏi trong không gian này (không gian của sự kề cận cái chết và của công việc), nơi chẳng có ranh giới lẫn hình thức, nơi người ta phải chịu đựng tiếng gọi ương ngạnh của cái xa xôi. Thiếu kiên nhẫn là điều thường thấy và tất yếu. Nếu không thiếu kiên nhẫn, ta hẳn không thể kiên nhẫn; ta sẽ không biết đến niềm an ủi tuyệt diệu ấy, thứ mà, trong cơn căng thẳng lớn nhất, lại không còn hướng tới điều gì nữa. Kiên nhẫn là sự chịu đựng sự thiếu kiên nhẫn, là sự chấp nhận và chào đón, là thuận lòng tiếp tục tồn tại ngay cả trong hỗn loạn tột cùng.

Sự kiên nhẫn ấy, dẫu tách riêng chúng ta khỏi mọi hình thức hoạt động thường ngày, không thụ động. Nhưng cách thức hoạt động của nó vẫn đầy bí ẩn. Nhiệm vụ định hình cái chết của chúng ta khiến chúng ta phải đoán mò: dường như chúng ta phải là điều gì đó, điều mà, dẫu vậy, chúng ta không thể làm, điều gì đó không phụ thuộc vào ta, mà là ta phụ thuộc vào nó, và thậm chí ta cũng không lệ thuộc được vào nó, bởi nó luôn thoát khỏi ta và ta cũng thoát khỏi nó. Nói rằng Rilke khẳng định tính nội tại của cái chết trong cái sống thì chắc chắn đúng, nhưng đó mới chỉ là hiểu một mặt trong suy nghĩ của ông. Tính nội tại này không phải là thứ sẵn có; nó cần phải đạt được. Đó là nhiệm vụ của chúng ta, và một nhiệm vụ như thế không chỉ nằm ở việc nhân hóa hay chế ngự vẻ xa lạ cái chết của chúng ta bởi một hành động kiên nhẫn, mà còn ở việc tôn trọng tính “siêu việt” của nó. Ở đó chúng ta phải hiểu sự xa lạ hoàn toàn, tuân theo cái vượt quá chúng ta, và trung thành với thứ loại trừ chúng ta. Người ta phải làm gì để chết mà không phản bội quyền năng tối cao này, cái chết? Vậy là, có một nhiệm vụ kép: tôi phải chết một cái chết không phản bội tôi, và tôi phải chết mà không phản bội sự thật và bản tính của cái chết.

B. Chết trung thành với cái chết

Chính tại thời điểm này chúng ta quay lại với một yêu cầu khác nằm ở nguồn gốc hình ảnh của Rilke về cái chết cá nhân. Nỗi đau của cái chết vô danh, của “Họ chết”, và niềm hy vọng đối với “Tôi chết” nơi chủ nghĩa cá nhân rút lui vào chính mình, trước hết khiến con người muốn trao cho mình tên tuổi và gương mặt ở khoảnh khắc chết đi: người ta không muốn chết như một con ruồi, trong sự ngu xuẩn và hư vô vo ve; người ta muốn có cái chết của riêng mình và được cái chết độc nhất ấy gọi tên, chào đón. Từ góc nhìn này ông phải chịu đựng nỗi ám ảnh của “Tôi” muốn chết mà vẫn không ngừng là “Tôi” – một tàn dư của nhu cầu bất tử. “Tôi” này muốn chết hoàn toàn tập trung vào thực tại của sự chết, để cái chết của tôi có thể là khoảnh khắc chân thực nhất của tôi, khoảnh khắc mà “Tôi” tự đẩy mình tới như thể hướng về một khả thể hoàn toàn thuộc về tôi, chỉ thuộc về tôi và đảm bảo cho tôi trong sự cô độc kiên định của “Tôi” thuần khiết.

Tuy nhiên, Rilke không chỉ nghĩ đến nỗi đau khi không còn là chính mình. Ông cũng nghĩ về cái chết, về kinh nghiệm tối cao mà nó đại diện, một kinh nghiệm, bởi là điều tột cùng, đáng kinh hãi; nỗi kinh hãi mà chúng ta cảm thấy trước nó giữ chúng ta cách nó một khoảng và khiến ta suy nhược đi bởi khoảng cách này. Con người né tránh phần tối thẳm của bản thân, hắn khước từ và loại bỏ nó, và bởi vậy nó trở trên lạ lẫm với hắn. Đó là kẻ thù của hắn, một thế lực xấu mà hắn lẩn tránh bằng sự xao nhãng liên tục hoặc khỏi đó hắn tự làm tha hóa mình vì sợ hãi. Đây là một nỗi buồn lớn. Nó biến cuộc sống của chúng ta thành sa mạc nỗi sợ, bần cùng gấp đôi: bần cùng bởi sự nghèo nàn của nỗi sợ ấy, vốn là một nỗi sợ sai lạc, và, bởi nỗi sợ nghèo nàn ấy, cái chết cũng nghèo đi vì bị ngoan cố đẩy ra bên ngoài chúng ta. Biến cái chết thành cái chết của riêng tôi, vì thế, không còn có nghĩa là giữ nguyên cái tôi của mình cho tới tận trong cái chết; mà là mở rộng cái tôi ấy cho đến tận cái chết, phơi mình ra trước nó, không còn loại trừ mà bao gồm nó vào trong mình, nhìn nó như thuộc về tôi, đọc nó như sự thật bí mật của tôi - cái sự thật đáng sợ trong đó tôi nhận ra mình là gì, khi tôi lớn hơn mình, tuyệt đối là mình hoặc tuyệt đối là cái lớn lao.

Và như vậy nỗi lo dần dần chiếm lấy trọng tâm suy nghĩ của Rilke được xác lập: liệu chúng ta sẽ tiếp tục xem cái chết như điều lạ lùng và không thể hiểu được, hay chúng ta sẽ học cách đưa nó vào cái sống, biến nó thành tên gọi khác của cái sống, thành mặt bên kia của cái sống? Mối bận tâm này trở nên càng cấp bách và đau đớn bởi chiến tranh. Nỗi kinh hoàng của chiến tranh rọi ánh sáng ảm đạm lên tất cả những gì phi nhân đối với con người trong vực thẳm này: đúng, cái chết là kẻ thù, là đối thủ vô hình và gây thương tích nhiều nhất cho chúng ta và làm tan biến mọi niềm vui. Cái nhìn này đè nặng lên Rilke, người bị tàn phá trên mọi phương diện bởi thử thách năm 1914. Năng lượng ông dồn vào việc giữ cho mắt nhìn thằng vào khung cảnh dữ dội của tất cả các nấm mồ. Trong Bardo Thödol, Tử Thư Tây Tạng, người chết, trong khoảng thời gian bất định khi vẫn còn tiếp tục chết, phải đối diện trước hết với ánh sáng nguyên thủy trong suốt, rồi với những vị thần hiền hòa, rồi với khuôn mặt kinh hoàng của các vị thần giận dữ. Nếu người ấy không đủ sức để nhận ra mình trong những hình ảnh ấy, nếu người ấy không thấy ở chúng sự phản chiếu tâm hồn kinh hoàng, tham lam và đầy bạo lực của chính mình – nếu người ấy tìm cách lẩn tránh chúng – người ấy sẽ ban cho chúng thực tại và độ dày, và do đó lại rơi vào những lạc lối của tồn tại. Rilke mời chúng ta đến với một sự thanh tẩy tương tự ngay trong cái sống, chỉ khác rằng cái chết không phải là sự tố giác những ảo tưởng chúng ta sống, mà tạo thành một tổng thể với cái sống, tạo thành không gian rộng lớn bởi sự hợp nhất của hai miền. Niềm tin vào sống và, vì lợi ích của sống, vào cái chết: nếu chúng ta khước từ cái chết, điều đó sẽ giống như khước từ những mặt ảm đạm và khó nhọc của sống, như thể trong cái sống chúng ta chỉ muốn đón nhận những phần nhỏ nhoi - và như thế, ngay cả những khoái lạc của chúng ta cũng sẽ trở nên nhỏ nhoi. “Ai không chấp nhận những điều đáng sợ trong cái sống và không đón nhận chúng bằng tiếng reo vui thì sẽ chẳng bao giờ biết đến những khả năng không thể diễn tả của sống. Người ấy vẫn ở ngoài rìa. Khi giờ phán xét đến, người ấy không sống cũng không chết.”

Kinh nghiệm Malte

Kinh nghiệm Malte là điểm quyết định của Rilke. Quyển sách này [Malte Laurids Brigge] bí ẩn bởi nó xoay quanh một trung tâm ẩn giấu mà tác giả không thể tiếp cận. Trung tâm đó là cái chết của Malte, hay khoảnh khắc sụp đổ của anh ta. Toàn bộ phần đầu quyển sách báo trước điều đó: tất tật các kinh nghiệm của Malte hướng đến việc làm suy yếu cái sống bằng các bằng chứng về sự bất khả của nó; một khoảng không không đáy mở ra khi anh ta trượt chân, ngã xuống – nhưng cú ngã này lại bị giấu đi khỏi chúng ta. Hơn thế nữa, trong chính quá trình được viết ra, cuốn sách dường như chỉ  tiến lên để quên đi sự thật này và chìm sâu vào những phân tán nơi cái không thể nói ngày càng gửi đến chúng ta dấu hiệu từ một khoảng cách xa hơn nữa. Trong các bức thư của mình, Rilke luôn nói về Malte trẻ tuổi như một bản thể đang vật lộn trong một cuộc thử thách mà chắc chắn anh ta sẽ thua. “Phải chăng thử thách ấy vượt quá sức anh, anh không thể chịu đựng nổi nó - dù anh tin vào sự cần thiết của nó, dù anh đã theo đuổi nó bằng một thứ kiên trì gần như bản năng đến mức cuối cùng nó bám chặt lấy anh, không rời anh nữa? Cuốn sách của Malte Laurids Brigge, nếu nó được viết, không viết về điều gì ngoài khám phá này, được thể hiện trong một người mà đối với người ấy nó quá sức chịu đựng. Có lẽ sau rốt anh ta đã vượt qua thử thách một cách thắng lợi, bởi anh ta viết về cái chết của ông Chamberlain. Nhưng, giống như Raskolnikov, mệt bã bởi hành động của mình, anh ta vẫn ở trên đường, không thể tiếp tục hành động vào đúng thời điểm hành động bất đầu, vì vậy tự do giành được của anh ta lại quay lưng chống lại anh và, khi anh không còn phòng vệ, nó xé nát anh.”

Khám phá của Malte là khám phá về sức mạnh quá lớn đối với chúng ta, cái chết phi cá nhân, cái vượt quá sức mạnh của chúng ta, cái sẽ vượt khỏi chúng ta và khiến chúng ta trở nên kỳ vĩ nếu chúng ta có thể một lần nữa biến nó thành của mình. Một khám phá mà anh không thể chế ngự, không thể biến thành chất liệu cho nghệ thuật của mình. Vậy anh viết gì?

“Trong một thời gian nữa, tôi còn có thể viết mọi thứ và làm chứng cho mọi điều. Nhưng rồi sẽ đến ngày bàn tay tôi sẽ trở nên xa lạ với tôi, và khi tôi ra lệnh cho nó viết, những từ được viết ra sẽ chẳng hề là ý định của tôi. Thời của một cách diễn giải khác sẽ đến, không một từ nào sẽ còn được đặt trên một từ nào, tất tật các nghĩa sẽ tan tác như mây và rơi như mưa. Dẫu ngập tràn sợ hãi, tôi vẫn giống như một người đứng trước điều gì đó vĩ đại, và tôi nhớ rằng tôi vẫn thường mang cảm tri này trong mình trước khi bắt đầu viết. Nhưng lần này chính tôi là thứ sẽ được viết ra. Tôi chính là ấn tượng sẽ được chuyển hóa. Ôi, chỉ cần thêm một chút nữa thôi là tôi có thể hiểu tất cả và chấp nhận hết. Chỉ cần thêm một bước, và nỗi khốn khổ vô tận của tôi sẽ trở thành diễm phúc. Nhưng tôi không thể thực hiện bước ấy; tôi rơi, và, bởi đã vỡ tan, không thể nào gượng dậy được nữa.” [Blanchot trích Malte Laurids Brigge]

Hoàn toàn có thể nói rằng câu chuyện kết thúc ở đây, kết thúc chung quyết, sau đó mọi thứ phải chìm vào im lặng, thế nhưng, thật kỳ lạ, những dòng này lại ở đầu quyển sách, và nó không chỉ tiếp tục mà dần dần, ở toàn bộ phần thứ hai của quyển sách, đi xa khỏi thử thách cá nhân ngay trước mắt kia, chỉ còn ám chỉ nó một cách thận trọng, nếu chúng ta giả định rằng Malte, khi anh ta nói về cái chết của Charles Dũng cảm hay về sự điên của đức vua, là để không nói về cái chết hay sự điên của chính mình. Mọi thứ đều cho thấy Rilke đã giấu đi kết thúc của quyển sách ngay từ đầu, để chứng minh cho chính mình rằng sau kết thúc ấy vẫn còn điều gì đó khả thi, rằng đó không phải là cái dòng cuối cùng khủng khiếp, sau đó chẳng còn gì để nói nữa. Và chúng ta biết rằng, mặc dù vậy, việc hoàn thành Malte đã đánh dấu nơi người viết ra nó sự khởi đầu của một cơn khủng hoảng kéo dài mười năm. Không thể nghi ngờ rằng cuộc khủng hoảng ấy còn có các tầng sâu khác, nhưng bản thân Rilke luôn liên hệ nó với quyển sách này, nơi ông cảm thấy rằng mình đã nói hết mọi điều nhưng vẫn giấu đi điều cố yếu, thế nên người anh hùng của ông, bản sao của ông, vẫn lảng vảng quanh ông, giống như một người chết được chôn cất rất tồi, vẫn muốn cư ngụ trong cái nhìn của ông. “Tôi vẫn đang hồi phục sau cuốn sách ấy” (1912). “Bạn có hiểu được rằng sau cuốn sách ấy tôi đã bị bỏ lại đằng sau giống như một kẻ sống sót[1] , lạc ở nơi sâu thẳm nhất trong chính mình, trống không, chẳng thể nào ở được?” (1911). “Trong nỗi tuyệt vọng dai dẳng, Malte hiện lên phía sau tất cả mọi thứ, cách một quãng nhất định đằng sau cái chết, đến nỗi chẳng còn gì khả dĩ cho tôi nữa, kể cả chết” (1910). Chúng ta đừng bỏ qua cách diễn đạt này, rất hiếm trong kinh nghiệm của Rilke và cho thấy kinh nghiệm ấy đã mở ra vùng đất thuộc về đêm, nơi cái chết không còn xuất hiện như một khả năng thực sự nữa, mà giống như vực sâu rỗng không của cái bất khả, một vùng mà ông rất thường xuyên né tránh, dẫu vậy ở đó ông vẫn lang thang suốt mười năm, bị cuốn vào bởi công việc và đòi hỏi của công việc.

Ông chịu đựng thử thách này đầy kiên nhẫn, với một sự kinh ngạc đau đớn và nỗi bất an của một kẻ lưu đày ngay trong quan hệ với chính mình. Người ta nhận thấy rằng trong bốn năm rưỡi ông sống ở khoảng năm mươi chỗ khác nhau. Năm 1919 ông lại viết cho một người bạn, “Con người bên trong tôi đã đóng lại thật chắc chắn như thể để bảo vệ chính nó; nó đã trở nên không thể lại gần được đối với tôi, và tôi không biết liệu ở trung tâm ấy tôi còn giữ được sức mạnh để đi vào những tương quan của thế giới và thực hiện chúng hay không, hay ở đó chỉ còn âm thầm lưu giữ ngôi mộ của linh hồn tôi ngày trước.” Tại sao lại có những khó khăn ấy? Chúng nảy sinh bởi toàn bộ vấn đề đối với ông là bắt đầu từ điểm mà “kẻ biến mất” kia bị hủy diệt. Làm sao biến điều bất khả thành khởi đầu? “Trong năm năm, kể từ khi Malte được hoàn tất, tôi đã sống giống như một người mới bắt đầu và thật ra thì giống như một kẻ không bắt đầu.” Sau này, khi sự kiên nhẫn và chấp thuận đã giải thoát ông khỏi “vùng đất lạc lối và hoang tàn” này bằng cách cho phép ông gặp được giọng thơ đích thực của mình, giọng của bi ca, ông sẽ nói rất ngắn gọn rằng trong tác phẩm mới này, khởi đầu từ cùng những điều kiện vốn khiến tồn tại của Malte là không thể, sống lại trở nên có thể, và hơn nữa ông sẽ nói rằng ông không tìm thấy lối thoát bằng cách bước lùi lại, mà ngược lại, tìm thấy bằng cách tiếp tục tiến lên trên con đường khó.

 

Công Hiện dịch


nghĩa thứ hai of survivor: the book <-> event

 

 

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công