favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Hạ 2026
Next

John Dos Passos: Vĩ tuyến 42

29/06/2026 21:37

Nếu người Mỹ đối với Faulkner đều đan bện vào nhau một cách nhân quả, thì người Mỹ của Passos lại là những cá nhân tuyệt đối ly tâm, bắn ra từ và bắn về nhiều hướng khác nhau, rất đỗi thiếu liên tục và nhất quán. Nhan đề Vĩ tuyến 22 (The 42nd Parallel) - lấy cảm hứng từ hiện tượng các cơn bão thường hình thành gần biên giới Canada và trượt dần về phía Đông dọc vĩ tuyến 42 - đã báo trước về định mệnh của hầu như mọi nhân vật trong cả bộ U. S. A., khi họ không ngừng bị đẩy dạt về phía Đông một cách mù quáng để tìm kiếm thành công vật chất trong nước Mỹ điên cuồng thực hiện công nghiệp hóa. Họ nhiều về số lượng, cũng có không ít lần gặp gỡ, nhưng hoàn toàn không tạo ra bất cứ tương tác nào thực chất và sâu sắc. Tất cả họ đều trượt qua nhau và không để lại gì, trong một “nền văn minh cơ giới”.

Dưới đây là bản dịch phần đầu tác phẩm, đã lược bỏ các đoạn “Ống kính” và “Báo cắt”.

 

U. S. A.

Người đàn ông trẻ tuổi một mình bước nhanh qua đám đông đang thưa dần vào những con phố đêm; chân mỏi nhừ sau nhiều giờ đi bộ; đôi mắt tham lam thèm khát những đường cong ấm áp của khuôn mặt, cái nháy mắt đáp lại những ánh nhìn, dáng điệu của một cái đầu, cái nhấc lên của một bờ vai, cách những bàn tay xòe ra rồi nắm chặt lại; dòng máu râm ran với những ham muốn; tâm trí là một tổ ong đầy những hy vọng vo ve và châm chích; cơ bắp đau nhức vì thèm khát hiểu biết về những công việc, vì công việc cuốc xẻng của người sửa đường, cái mẹo dùng lưỡi câu của người đánh cá khi gã kéo chiếc lưới trơn trượt từ thành chiếc tàu kéo đang chao đảo, cú vung tay của người thợ xây cầu khi gã ném chiếc đinh tán nóng trắng xuống, cái nắm tay chậm rãi đầy khôn ngoan của người kỹ sư trên cần gạt ga, sự vận dụng toàn bộ cơ thể của người nông dân lấm lem bùn đất khi, hét bảo lũ la dừng lại, gã giật mạnh chiếc cày ra khỏi luống. Người đàn ông trẻ tuổi bước đi một mình, tìm kiếm xuyên qua đám đông bằng đôi mắt tham lam, đôi tai tham lam căng lên để nghe, chỉ mình hắn, cô độc.

Phố vắng tanh. Dân chúng chen chúc trên tàu điện, leo lên xe điện và xe buýt; trong nhà ga, họ cuống cuồng chạy kẻo lỡ chuyến tàu ra vùng ven; họ thấm vào các phòng trọ và những khu nhà tập thể tồi tàn, dùng thang máy vào các tòa nhà chung cư. Trong một tủ kính trưng bày, hai tay trang trí viên nước da vàng vọt đang mặc áo sơ mi cộc tay dọn ra một cô ma-nơ-canh mặc váy dạ hội đỏ, tại góc đường nọ những người thợ hàn đeo mặt nạ khom mình vào những dải lửa xanh để sửa đoạn ray xe điện, vài kẻ nát rượu lang thang lê bước, một cô gái điếm buồn bã bồn chốn dưới ánh đèn vòng cung. Từ phía bờ sông vang lên tiếng còi rì rầm trầm đục của chiếc tàu hơi nước nọ đang rời bến. Một chiếc tàu kéo hú từ chốn xa.

Người đàn ông trẻ tuổi bước đi một mình, nhanh nhưng chưa đủ nhanh, xa nhưng chưa đủ xa (những khuôn mặt trượt khỏi tầm mắt, câu chuyện trò kéo dài rồi tan ra thành vô vàn mảnh vỡ tan nát, những bước chân gõ nhịp im dần trong những con hẻm); hắn phải bắt cho kịp chuyến tàu điện ngầm cuối cùng, chuyến xe điện, chuyến xe buýt, chạy lên cầu tàu tất cả các con tàu hơi nước, đăng ký phòng tại tất cả các khách sạn, làm việc trong các thành phố, trả lời các mẩu tin tuyển dụng, học các nghề, nhận các công việc, sống trong tất cả các nhà trọ, ngủ trên tất cả các chiếc giường. Một chiếc giường là không đủ, một công việc là không đủ, một cuộc đời là không đủ. Đêm đến, đầu óc quay cuồng với những ham muốn, hắn bước đi một mình, cô độc.

Không công việc, không đàn bà, không nhà cửa, không thành phố.

Chỉ có đôi tai luôn phải xoay xở để bắt lấy tiếng nói là không cô độc; đôi tai bị tóm chặt, bị liên kết chặt bởi những tua cuốn của các từ ngữ được gieo thành cụm, bước ngoặt của một trò đùa, sự nhạt nhòa theo điệu hát của một câu chuyện, sự rơi rụng cộc lốc của một câu văn; những tua cuốn liên kết của những chuyện trò quấn quanh các khối phố, lan rộng trên vỉa hè, mọc dài ra dọc theo những đại lộ công viên rộng lớn, tăng tốc cùng đoàn xe tải chuẩn bị đi vào tuyến chạy đêm dài trên xa lộ gầm vang, thì thầm xuống đường phụ đầy cát đi qua những trang trại kiệt quệ, nối liền các thành phố và trạm xăng, những nhà vòm sửa chữa đầu máy xe lửa, tàu hơi nước, những máy bay đang mò mẫm dọc đường băng; những từ ngữ gọi vang trên bao đồng cỏ vùng núi, trôi chậm xuống những dòng sông đang mở rộng ra biển và những bãi cát tĩnh lặng.

Không phải hắn bớt cô độc hơn nhờ những chuyến bộ dài qua đám đông xô đẩy vào ban đêm, hay trong trại huấn luyện ở Allentown, hay trong cái ngày trên những bến tàu ở Seattle, hay trong sự hôi hám trống rỗng của những đêm hè tuổi trẻ nóng bỏng ở Thành phố Washington, hay trong bữa ăn trên Phố Market, hay trong chuyến bơi ngoài khơi những tảng đá đỏ ở San Diego, hay trên chiếc giường đầy bọ chét ở New Orleans, hay trong cơn gió sắc như dao cạo thổi từ hồ nước, hay trong những khuôn mặt xám xịt run rẩy trong tiếng nghiến của các bánh răng trên con phố bên dưới Đại lộ Michigan, hay trong những toa tàu hút thuốc trên chuyến tàu tốc hành giới hạn, hay khi đi bộ băng qua những miền quê, hay khi cưỡi ngựa đi lên những hẻm núi khô cằn, hay đêm không có túi ngủ giữa những dấu chân gấu đóng băng ở Yellowstone, hay những ngày Chủ nhật đi xuồng xuôi dòng Quinnipiac;

mà là trong những lời kể của mẹ hắn về ngày xửa ngày xưa, trong lời cha hắn kể về hồi cha còn là một cậu bé, trong những câu chuyện trêu đùa của các ông chú, trong những lời nói dối lũ trẻ kể ở trường, những chuyện bịa của người làm thuê, những câu chuyện khoác lác mà lính bộ binh kể sau loạt kèn tắt đèn;

chính tiếng nói đã bám chặt lấy đôi tai, sợi dây liên kết đã làm râm ran huyết quản; U. S. A.

U. S. A. là lát cắt một lục địa. U. S. A. là một nhóm các công ty kiểm soát, một vài sự hợp khối của các nghiệp đoàn thương mại, một bộ luật đóng bằng da bê, một mạng lưới phát thanh, một chuỗi rạp chiếu bóng, một cột báo giá cổ phiếu bị xóa đi rồi viết lại bằng phấn trên một tấm bảng đen bởi một cậu bé chạy việc cho Western Union, một thư viện công cộng chứa đầy những tờ báo cũ và những cuốn sách lịch sử quăn mép với những lời phản kháng viết nguệch ngoạc bằng bút chì bên lề. U. S. A. là thung lũng sông lớn nhất thế giới được bao bọc bởi những ngọn núi và những quả đồi, U. S. A. là một bộ sậu những quan chức mồm to với quá nhiều tài khoản ngân hàng. U. S. A. là rất nhiều người đàn ông bị chôn vùi trong bộ quân phục của mình tại Nghĩa trang Arlington. U. S. A. là những chữ cái cuối dòng địa chỉ khi bạn xa nhà. Nhưng phần lớn, U. S. A. là tiếng nói của dân chúng.

Mac

Khi gió thổi từ các nhà máy bạc bên kia sông sang, không khí ngôi nhà khung gỗ xám xịt bốngiađình nơi Fainy McCreary sinh ra vẫn ngộp ngạt mùi xà phòng dầucávoi. Nhiều hôm nó bốc mùi bắp cải và mùi trẻ con và mùi những nồi luộc đồ giặt của bà McCreary. Fainy chẳng bao giờ được phép nô giỡn trong nhà vì Cha, một người đàn ông thọt chân ngựclõm với bộ ria mép màu xámvàng lia chia, làm gácđêm ở Chadwick Mills và ngủ cả ngày. Chỉ vào khoảng năm giờ chiều, một làn khói thuốc lá xoăn tít mới tràn từ phòng khách vào nhà bếp. Đấy là dấu hiệu cho thấy Cha đã dậy và tâm trạng khá tốt, và sẽ sớm cần được dùng bữa tối.

Khi ấy Fainy sẽ được sai chạy ra một trong hai góc con phố bùn lầy ngắn cũn trải dài những ngôi nhà khung gỗ giống hệt nhau tại khu họ sống.

Về bên phải, đi nửa khối phố là đến quán Finley, nơi hắn sẽ phải chờ đợi tại quầy bar giữa một rừng ốngquần lấmlembùnđất cho đến khi mọi cái miệng người lớn hôi rình đang cãi cọ được lấp đầy bằng bia và uýt-ki. Sau đó hắn sẽ đi bộ về nhà, từng bước chân thật cẩn thận, quai cái xô sánh bọt bia cứ quệt vào tay.

Về bên trái, đi nửa khối phố là đến Bách hóa cao cấp Maginnis, Hàng Nội và Hàng Ngoại. Fainy thích tấm bìa cứng hình gã da đen của hãng Cream of Wheat trưng ở tủ kính, chiếc tủ kính đựng đủ loại salami, những thùng gỗ đựng khoai tây và bắp cải, cái mùi nâu của đường, mùn cưa, gừng, cá trích xông khói, giăm bông, giấm, bánh mì, hạt tiêu, mỡ lợn.

“Làm ơn cho một ổ bánh mì, thưa ông, cùng nửa pound bơ với phong bánh quy gừng.”

Có vài buổi tối, khi Mẹ thấy mệt, Fainy phải đi xa hơn; vòng qua góc đường tiệm Maginnis, xuống Đại lộ Riverside có tuyến xe điện chạy qua, rồi băng qua cây cầu đỏ bắc qua dải sông nhỏ chảy đen ngòm giữa hai bờtuyết băng giá bị khoét thụt vào mùa đông, vàng và sủi bọt khi băng tan vào mùa đông, nâu bóng và đầy dầu vào mùa hè. Bờ bên kia, trải cho đến điểm giao giữa Riverside và Main, nơi có tiệm thuốc tây, là chỗ lũ trẻ con nhà Bohunk và Polak sống. Con cái họ luôn gây gổ với đám nhà Murphy và O’Hara và O’Flanagan trên Phố Orchard.

Fainy sẽ bước đi với đầu gối run rẩy, chai thuốc tây bọc trong lớp giấy trắng nắm chặt trong bàn tay đi găng len. Tại góc đường Quince có một đám con trai mà hắn sẽ phải vượt qua. Chuyện vượt qua không đến nỗi tệ; tệ là khi hắn còn cách chúng tầm hai chục thước thì quả bóng tuyết đầu tiên sẽ bay vút qua đầu hắn. Không có đường lui. Nếu hắn chạy, chúng sẽ đuổi. Nếu hắn làm rơi chai thuốc tây, về tới nhà chắc chắn hắn bị đập nhừ tử. Một quả mềm mềm sẽ bộp ngay ót hắn và tuyết bắt đầu rỉ chảy xuống cổ hắn. Còn cách cây cầu nửa khối phố, hắn sẽ liều một phen và cắm đầu bỏ chạy.

“Đồ thỏ đế… Lũ Ireland ổ chuột… Thằng Murphy chân vòng kiềng… Chạy về nhà mách cảnh sát”... lũ trẻ nhà Polak và Bohunk sẽ vừa hét lên như thế vừa liên tục ném bóng tuyết. Chúng khiến những quả bóng tuyết cứng ngắc bằng cách đổ nước lên để qua đêm cho đông lại; nếu có một quả như thế đập trúng hắn, máu sẽ đổ.

Sân sau là nơi duy nhất ta thực sự có thể cảm thấy an toàn để chơi đùa. Những hàng rào đổnát, thùng rác móp, nồi niêu xoong chảo không sửa nổi cũ đến mức gần như trở thành cái sàng, một chuồnggà bỏ hoang vẫn còn lông vũ và phân trên sàn, cỏ lợn khi hè, bùn lầy khi đông; nhưng niềm tự hào ở khoảng sân sau nhà McCreary là chiếc chuồng thỏ của Tony Harriman, nơi gã nuôi những con thỏ Bỉ. Tony Harriman mắc lao và sống cùng mẹ ở tầng trệt phía trái. Gã nuôi mộng nuôi đủ động vật nhỏ khác nữa, gấu mèo, rái cá, thậm chí cả cáo bạc, gã sẽ làm giàu theo cách đó. Cái ngày gã chết không ai tài nào tìm được chiếc chìa khóa mở cái ổ lớn tướng trên cửa chuồng thỏ. Mấy hôm liền Fainy đã cho chúng ăn bằng cách đẩy những lá cải bắp và xà lách qua hai lớp lướigà dày. Sau đó là một tuần mưa tuyết và mưa dầm khi hắn không ra ngoài sân. Ngày trời đẹp trở lại, khi hắn ra xem, một con thỏ đã chết. Fainy tái mặt; hắn tự nhủ con vật đang ngủ, nhưng nó đơ ra đó một cách vụng về, không phải ngủ. Những con khác co cụm lại một khác, dáo dác với cái mũi giật giật, đôi tai lớn của chúng cụp xuống bất lực trên lưng. Lũ thỏ tội nghiệp; Fainy muốn khóc. Hắn chạy lên lầu vào căn bếp của mẹ, cúi xuống dưới tấm ván ủi đồ và lôi trong ngăn kéo bàn bếp ra cái búa. Ban đầu hắn làm dập ngón tay, nhưng lần thứ hai hắn đã xoay xở đập bung được ổ khóa ra. Trong lồng tỏa ra một mùi chua chua, lạ lùng. Fainy xách tai con thỏ chết lên. Vùng bụng trắng mềm mại của nó bắt đầu phềnh lên, một con mắt chết trố ra thật đáng sợ. Điều gì đó bỗng dưng bóp nghẹt Fainy, khiến hắn ném con vật vào thùng rác gần nhất rồi chạy lên lầu. Vẫn thấy ớn lạnh và run rẩy, hắn nhón chân bước ra hiên, sau đó nhìn xuống. Hắn nín thở quan sát số thỏ còn lại. Bằng những cú nhảy thận trọng, chúng tiến dần đến cửa chuồng và ra sân. Một trong số chúng đã ra ngoài. Nó ngồi dậy trên hai chân sau, tai đang rũ đột ngột dựng đứng. Mẹ sai hắn lấy cái bàn ủi từ trong lò ra cho bà. Lúc quay lại hiên nhà, lũ thỏ đã đi sạch.

Mùa đông năm đó có vụ đình công ở Chadwick Mills và Cha mất việc. Cả ngày ông sẽ ngồi trong phòng khách hút thuốc và chửi rủa:

“Một thằng khỏemạnh, lạy Chúa, nếu tao không thể tẩn bất kỳ đứa nào trong lũ Polak chết tiệt đó với cây nạng buộc sau lưng… tao đã nói thế với ông Barry; tao sẽ không tham gia cuộc đình công nào cả. Ông Barry, một người đàn ông biết điều và hơi trầm tính, hơi tàn tật một chút, có vợ và con nhỏ phải lo nghĩ. Tám năm tao làm gác đêm, và giờ tụi mày sa thải tao để rước một lũ côn đồ từ văn phòng thám tử nào đó về. Cái thằng chó đẻ mũi hếch bẩn thỉu.”

“Nếu lũ người ngoại quốc bẩn thỉu chấy rận đấy không bỏ việc ra về,” ai đó để xoa dịu sẽ đáp.

Cuộc đình công không được ủng hộ trên Phố Orchard. Điều ấy có nghĩa là Mẹ phải làm việc ngày càng nặng nhọc hơn, làm những nồigiặtđầy ngày một lớn hơn, và Fainy cùng em gái Milly phải đỡ đần khi họ đi học về. Rồi một ngày Mẹ đổ bệnh và phải quay lại giường thay vì bắt đầu là quần áo, nằm đó với khuôn mặt tròn trắng đầy nếp nhăn còn trắng hơn chiếc gối và đôi bàn tay nướcăn đan chặt dưới cằm. Bác sĩ và y tá khu vực đến, ba gian căn hộ bốc đầy mùi bác sĩ và y tá và thuốc men, Fainy và Milly chỉ còn chỗ duy nhất là cầu thang. Chúng ngồi khóc lặng lẽ. Rồi mặt Mẹ trên gối co rúm lại thành một thứ gì đó nhỏ bé nhăn nheo trắng bợt như chiếc khăn tay bị vò nát và người ta bảo bà đã chết rồi mang bà đi.

Đám tang được tổ chức tại nhà kết trên Đại lộ Riverside ở khối phố liền kề. Fainy cảm thấy mình quan trọng và tự hào vì mọi người đều hôn hắn, vỗ đầu hắn và bảo hắn cư xử như một quý ông nhỏ tuổi. Hắn cũng mặc một bộ đồ đen mới, giống đồ người lớn có túi các kiểu, ngoại trừ quần là quần cộc. Có đủ loại người ở nhà kết và hắn đó giờ chưa từng tiếp xúc, ông Russell bán thịt và Cha O’Donnell và chú Tim O’Hara vừa từ Chicago đến, ở đó bốc mùi uýt-ki và bia như trong quán Finley. Chú Tim gầy gò với khuôn mặt đỏ lồi lõm và đôi mắt xanh mờ đục. Chú đeo chiếc cà vạt lụa đen lỏng lẻo khiến Fainy lo lắng, và cứ đột ngột cúi xuống, người như con daogấp sắp gập hẳn từ thắt lưng trở xuống, và thì thầm bằng một giọng khàn đặc vào tai Fainy.

“Đừng bận tâm đến chúng, anh bạn ạ, một lũ vô lại và đạo đức giả, hầu như đã quắc cần câu cả rồi. Nhìn Cha O’Donnell như con lợn béo ị kìa, đang tính phí an táng cả rồi. Nhưng cháu đừng bận tâm đến chúng mà hãy nhớ về phía mẹ thì cháu là người nhà O’Hara. Chú không bận tâm đến chúng đâu, anh bạn ạ, và chị ấy là bà chị ruột máu mủ của chú.”

Khi họ về đến nhà, hắn vô cùng buồn ngủ và đôi bàn chân thì lạnh ngắt và ướt sũng. Không ai hơi đâu để ý đến hắn. Hắn thút thít trên mép giường trong bóng tối. Ngoài phòng khách có tiếng người và tiếng dao nĩa, nhưng hắn không dám bước vào. Hắn co ro người dựa vào vách tường và chìm vào giấc ngủ. Ánh sáng rọi vào mắt khiến hắn thức giấc. Chú Tim và Cha đang đứng trên đầu hắn trò chuyện lớn tiếng. Trông họ rất buồn cười và dường như đứng không vững. Chú Tim cần đèn dầu.

“Chà, Fainy, anh bạn,” Chú Tim nói, vung chiếc đèn dầu loạn xạ trên đầu Fainy. “Fenian O’Hara McCreary, ngồi dậy và lắng nghe đây rồi nói cho bọn chú biết cháu nghĩ gì về đề xuất dọn đến thành phố Chicago vĩ đại và đang đà phát triển. Nếu cháu hỏi thì chú xin thưa rằng Middletown chỉ là một bãi nát chó gặm tồi tàn… Không có ý xúc phạm đâu nhé, John… Nhưng Chicago, Lạy Chúa, anh bạn, đến đó rồi anh mới nhận ra bấy năm nay mình bị đóng đinh trong quan tài thế nào.”

Fainy thấy sợ. Hắn co đầu gối đến tận cằm và run rẩy nhìn hai bóng người đàn ông to lớn đang lảo đảo nhận ánh sáng từ đèn dầu lắc lư. Hắn cố nói, nhưng từ ngữ khô lại trên môi.

“Thằng bé ngủ rồi, Tim ạ, mặc chú mày cứ diễn thuyết… Cởi quần áo ra đi, Fainy, rồi leo lên giường đánh một giấc thật ngon. Đến sáng ta lên đường.”

Gần trưa một ngày mưa dầm, không có bữa sáng, với cái rương nắpphồng cũ to oạch ràng bằng dây thừng đang chênh chao đầy nguy hiểm trên trần cỗ xe ngựa kéo mà Fainy đã được sai đi mướn từ Chuồng ngựa thuê Hodgeson, họ lên đường. Milly khóc. Cha không nói gì mà chỉ ngậm cái tẩu không châm thuốc. Chú Tim lo liệu mọi thứ, liên tục pha những trò đùa vặt vãnh chẳng chọc cười được ai, rút một cuộn tiền giấy ra khỏi túi vào những lúc cần thiết hoặc nhấp những ngụm lớn ừng ực từ cái bình dẹt chú bỏ trong túi. Milly khóc suốt. Fainy nhìn ra ngoài với đôi mắt to ráo hoảnh về những con phố thân quen, tất cả bỗng chốc trở nên lạ lùng và xô lệch, cuộn qua bên hông cỗ xe kéo; cây cầu đỏ, những ngôi nhà với vángỗtrócvảy mà tụi nhà Polak sống, hiệu thuốc tẩy nơi góc đường của Smith và Smith… kia là Billy Hogan vừa bước ra với gói kẹo cao su trên tay. Lại trốn học đấy. Fainy thấy niềm thôi thúc hét gọi nó, nhưng điều gì đã bóp chẹt thôi thúc ấy… Đường Main với những cây du và chuyến xe điện, những khối cửa hàng quanh góc đường Church, rồi sở cứu hỏa. Fainy nhìn lần cuối vào cái hang tối tăm, nơi tỏa sáng đầy mê hoặc những đường cong bằng đồng thau và đồng đỏ của xe cứu hỏa, rồi qua mặt tiền đầy bìa cứng của Hội Thánh Công lý Thứ nhất, Nhà thờ Báp-tít Carmel, Nhà thờ Giám nhiệm St. Andrew xây bằng gạch và đặt chéo trên lô đất thay vì thẳng hàng với bộ mặt nghiêm nghị hướng ra đường như các nhà thờ khác, rồi đến ba con hươu bằng gangđúc trên bãi cỏ phía trước Tòa Thương mại, và những dinh thự, mỗi căn đều có bãi cỏ riêng, với phần hiên nhà được tạo kiểu bằng các hình cưa cuộn, mỗi căn là mỗi bụi cẩm tú cầu. Rồi nhà nhỏ dần, bãi cỏ biến mất; chiếc xe kéo bánh lộc cộc vòng qua Kho Ngũ cốc và Thức ăn chăn nuôi Simpson, dọc một dãy tiệm hớt tóc, quán ăn và hiệu ăn trưa, và tất cả họ xuống xe tại ga.

Tại quầyăntrưa nhà ga, chú Tim đãi mọi người bữa sáng. Chú lau nước mắt cho Milly và cho Fainy hỉ mũi bằng cái khănmùisoa mới to đanh vẫn còn mác ở góc và bắt chúng tập trung ăn thịt xông khói và trứng và cà phê. Fainy trước giờ chưa từng được uống cà phê, thành thử hắn thấy được ngồi bệ vệ như người lớn và uống cà phê như thế bảnh phết. Milly không thích phần ăn của mình, chê đắng. Họ bị bỏ lại một mình trong phòng ăn trưa một lúc lâu cùng những cái đĩa rỗng và tách cà phê cạn dưới đôi mắt tròn xoe như hạt cườm của người đàn bà có cái cổ dài và khuôn mặt nhọn hoắt như một con gà mái đang nhìn họ rất chán ghét sau quầy. Rồi với một tiếng gầm khổng lồ, nghiền nát không gian, phàphàkhóiđặc khói đặc… phà phà, đoàn tàu tiến vào sân ga. Chúng bị nhấc lên và kéo lê qua sân ga rồi lách xuyên một toa tàu đầy khóithuốctẩu trước khi chúng kịp nhận ra đoàn tàu đã lăn bánh tiếp và cảnh sắc Connecticut đỏ nâu xám xịt của mùa đông đang lao qua xình xịch.

Bùi Gia Bin dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công