favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Đông 2025
Next

1&10 (raw)

02/01/2026 10:10

Nietzsche viết tiểu luận đầu tiên trong loạt Betrachtungen của mình trong hoàn cảnh chiến tranh - nói đúng hơn, khi cuộc chiến tranh Pháp-Phổ còn chưa xa; chính ở đây, Nietzsche sẽ nói đến mối nguy của chiến thắng.

Thomas Mann cũng từng viết trong hoàn cảnh chiến tranh, và đó là một Mann hoàn toàn khác so với thông thường người ta vẫn thấy (ít nhất là cho đến thời điểm của "Không chính trị"; đây không phải chuyển hóa đầu tiên và duy nhất của Mann: Mann sẽ tiếp tục khác hẳn kể từ Thế chiến thứ nhất tới Thế chiến thứ hai); lúc viết những tiểu luận ở đoạn này, lúc nào Mann cũng bị Nietzsche ám.

Đối tượng cho tiểu luận của Nietzsche, David Strauss, là nhân vật trong mắt Nietzsche đại diện cho mọi thứ gì cổ lỗ của nước Đức ở thời kỳ ấy. Trong tiếng Đức, "Strauss" là con đà điểu.

 

David Strauss, tông đồ và nhà văn

1

Ý kiến công chúng ở Đức dường gần như cấm nhắc đến các hậu quả đáng bực và nguy hiểm của chiến tranh, lại càng như vậy hơn nữa vì cuộc chiến tranh ấy đã kết thúc bằng một thắng lợi; vì thế mà người ta càng thêm sẵn lòng để tai nghe những nhà văn nào, vốn chẳng biết ý kiến nào quan trọng hơn so với ý kiến của công chúng, đua nhau ăn mừng cuộc chiến tranh đó và đầy hân hoan phân tích các sức dội hùng mạnh của nó vào luân lý, văn hóa cùng nghệ thuật. Thế nhưng chúng ta hãy nói điều này: một thắng lợi lớn là một mối nguy lớn. Bản tính con người quen được với nó kém dễ dàng hơn so với một thất bại; thậm chí dường như dễ giành một thắng lợi như vậy hơn so với quen được với nó theo cách giống hệ quả từ một thất bại trầm trọng hơn. Nhưng trong số tất tật những hậu quả đáng bực mà cuộc chiến tranh gần đây chống lại nước Pháp của chúng ta kéo theo, có lẽ đáng bực hơn cả là một nhầm lẫn hết sức phổ biến, nếu không phải là chung: nhầm lẫn khiến ý kiến công chúng và tất tật các kẻ có ý kiến công cộng tưởng rằng văn minh Đức cũng dự phần vào thắng lợi ấy, và do đó phải được choàng vòng hoa như cần vậy sau những sự kiện cùng những thành công ngoạn mục nhường đó. Ảo tưởng này gây hại ở mức cực điểm: không phải vì đó là một ảo tưởng - quả thật, có những nhầm lẫn hoàn toàn tốt lành và mang lại nhiều lợi ích - mà vì nó có khả năng biến thắng lợi của chúng ta thành một thất bại toàn thể: thất bại, thậm chí là sự tuyệt giống của tinh thần Đức nhằm làm lợi cho "Đế chế Đức".

Trước hết, ngay cả khi chấp nhận rằng cuộc vật lộn ấy là cuộc vật lộn giữa hai văn minh, thì người ta cũng sẽ chỉ có ở đây một tiêu chí hoàn toàn tương đối để đánh giá về giá trị của văn minh chiến thắng, không nhất thiết phải là dịp để khải hoàn ầm ĩ hay tự trao cho mình các danh hiệu vinh quang; hẳn cần phải biết cái giá của văn minh thua cuộc. Có lẽ nó chẳng đáng gì nhiều nhặn, nếu vậy thì thắng lợi, dẫu có được đánh dấu bởi những thành công quân sự hào nhoáng nhất, hẳn không chứa đựng, đối với văn minh thứ nhất, bất kỳ chủ đề nào cho khải hoàn. Mặt khác, ở trường hợp của chúng ta, không thể có chuyện một thắng lợi của văn minh Đức, vì lý do đơn giản là, văn minh Pháp vẫn tiếp tục tồn tại như ngày hôm qua và, cũng như hôm qua, chúng ta tiếp tục là những kẻ phải lệ thuộc vào nó. Thậm chí văn hóa của chúng ta đã không đóng góp cho thắng lợi của quân đội chúng ta. Chính kỷ luật quân đội chặt chẽ, sự quả cảm và sức chịu đựng của quân lính, nói ngắn gọn, các yếu tố hoàn toàn độc lập với văn minh, mới là những thứ đã cho phép chúng ta giành chiến thắng trước những địch thủ bị thiếu mất các phẩm chất chính yếu trong số đó: hẳn đúng ra cần phải thấy ngạc nhiên vì việc cái hiện nay được gọi là "văn minh" tại Đức đã ít trái ý những đòi hỏi quân sự của một thắng lợi lớn đến mức ấy. Nhưng có lẽ chỉ là cái được gọi là văn minh đó đã thấy sẽ có nhiều lợi thế hơn, ở lần này, nếu tỏ ra dễ dãi. Nếu người ta để mặc cho nó tăng trưởng và nảy nở, nếu người ta củng cố cho nó trong ảo tưởng đầy phỉnh nịnh rằng chính nó đã giành thắng lợi, thì nó sẽ đủ hùng mạnh để làm tuyệt giống, như tôi đã nói, tinh thần Đức - và lúc đó ai mà biết cái cơ thể Đức này còn dùng để làm gì nữa hay không?

Nếu người ta có thể khơi lên chống lại kẻ thù bên trong, chống lại hình thức dạy dỗ có tính cách lưỡng cực điểm kia và dẫu thế nào thì cũng không quốc gia, mà một hiểu nhầm nguy hiểm ngày hôm nay ở Đức đặt cho cái tên văn hóa, nếu người ta có thể đặt đối lập cho cái đó lòng can đảm không thể lay chuyển và đầy kiên trì mà người Đức đã tỏ ra lúc đối mặt với sự cuồng loạn đầy đột ngột và thống thiết của người Pháp, thì hẳn không phải mọi hy vọng đều đã mất cho việc dựng một văn hóa Đức chân thực, thứ trái ngược hẳn lại văn hóa giả hiệu này. Bởi người Đức chưa từng bao giờ thiếu các chỉ huy cùng thủ lĩnh sáng suốt và táo bạo - chỉ những chỉ huy ấy bị thiếu các người Đức. Nhưng càng lúc tôi càng thấy đáng ngờ hơn và, kể từ chiến tranh, càng ngày càng bớt có thể có chuyện mang đến cho lòng can trường Đức định hướng mới đó; bởi tôi thấy rằng người nào cũng đinh ninh rằng chẳng hề còn bất cứ nhu cầu nào về cả đánh đấm lẫn can đảm nữa, rằng điều chính yếu đã được định trật tự theo lối tốt đẹp nhất trên đời và dẫu thế nào thì từ lâu người ta cũng đã tìm được và thực hiện toàn bộ những gì cần thiết, nói tóm lại, hạt giống tốt nhất của văn minh đã được gieo ở mọi nơi, nhiều chỗ đã xanh um lên và thậm chí, đây đó, đang nở hoa rất rộ. Tại địa hạt này, đang ngự trị còn hơn cả sự thỏa mãn: hạnh phúc cùng nỗi say sưa. Hạnh phúc ấy và sự say ấy, tôi tri nhận được chúng nơi nỗi chắc chắn không gì sánh ngang nổi của các nhà báo Đức, những kẻ viết tiểu thuyết, bi kịch, ca khúc cùng sách lịch sử; quả thật đấy là một đoàn lũ dường đã lập thệ là sẽ chiếm lấy những giờ cho rảnh rỗi và tiêu hóa của con người hiện đại, tức là những giây phút mà anh ta cống hiến cho "văn hóa", nhằm chôn vùi anh ta bên dưới các đống giấy in. Kể từ chiến tranh, đoàn lũ ấy chỉ là hạnh phúc, sự nghiêm trang và lòng tự tin: nó cảm thấy, sau những "thành công của văn minh Đức" kia, mình không chỉ được xác nhận và công nhận, mà còn gần như thánh thiêng; do đó nó chọn lấy một tông giọng trịnh trọng hơn, nó thích thú việc kêu gọi dân tộc Đức, cho in các toàn tập theo cách thức những gì cổ điển và, đúng thế thật, trên các tờ báo to phụng sự nó, nâng một số thành viên của nó lên hàng nhà văn mẫu mực và những nhà cổ điển mới của văn chương Đức. Có lẽ người ta sẽ có thể trông đợi phần nhiều suy nghĩ nhất và có học vấn nhất ở những người Đức có văn hóa sẽ nhận thấy các mối nguy của một lạm dụng thành công như vậy, hoặc ít nhất thì nó cũng cảm thấy cảnh tượng bày ra có những điều thật nặng nề; có lẽ quả thật có những điều còn nặng nề hơn so với phải chứng kiến một kẻ dị dạng vừa vênh vang như một con gà trống trước tấm gương của hắn vừa trao đổi với phản chiếu của hắn những ánh mắt ngưỡng mộ? Nhưng các chốn nhiều học vấn sẵn lòng để mặc mọi điều đi theo dòng của chúng, do đã có đủ việc phải làm với chính mình, không còn muốn tự chất thêm lên người mối lo cho tinh thần Đức. Hơn nữa, tật tật các thành viên của mấy chốn ấy đều có lòng tin đinh ninh không thể lay chuyển rằng văn hóa cá nhân của chính họ là thứ quả chín hơn cả và đẹp hơn cả của thời này, thậm chí của mọi thời, và họ không hiểu được chuyện đi lo âu cho văn hóa Đức vì họ đã vượt qua rất xa, cho chính họ và số đông những người giống họ, thể loại lo âu này. Vả lại không thể thoát khỏi mắt một người quan sát nhiều chú tâm hơn, đặc biệt nếu anh ta là người nước ngoài, việc khác biệt giữa cái mà nhà bác học Đức gọi, ngày hôm nay, là văn hóa và văn hóa đang giành khải hoàn của các nhà cổ điển mới của Đức, chỉ dựa trên mỗi số lượng của cái biết: ở mọi nơi nào vấn đề không phải cái biết mà là tài năng, không phải thông tin mà là nghệ thuật, vậy thì tức là ở mọi nơi nào cuộc sống phải thể hiện cho một típ văn hóa, thì ngày nay chỉ có mỗi một văn hóa Đức - và có phải văn hóa đó đã chiến thắng nước Pháp không?

Được trình bày như thế, lời khẳng định kia có vẻ hoàn toàn không thể hiểu nổi: chính ở những hiểu biết rộng lớn hơn của các sĩ quan, ở sự tập luyện tốt hơn của các đội quân, ở hình dung nhiều tính cách khoa học hơn của chiến lược, mà tất tật các thẩm phán bất thiên ái và cho tới tận chính những người Pháp đều đã nhận ra lợi thế quyết định của người Đức. Nhưng nếu người ta phân biệt giữa văn hóa và sự học hành tập luyện, thì theo nghĩa nào văn hóa Đức có thể nhận là mình đã thắng? Nó chẳng thể làm như vậy theo bất kỳ cách nào, bởi những phẩm chất tinh thần của một kỷ luật chặt chẽ, của một sự nghe lời không chút suy suyển không có gì chung với văn hóa và đặc trưng hóa cho chẳng hạn các đội quân Macedonia đối mặt với lính tráng Hy Lạp, ngược lại đây lại là những người có văn hóa hơn ở mức vô biên. Chỉ có thể do một sự lẫn lộn thì người ta mới có thể nói tới thắng lợi của văn hóa và văn minh Đức, một lẫn lộn được giải thích bằng sự thể tại Đức ý thuần khiết về văn minh đã bị mất đi.

Văn minh, trước hết đấy là nhất thể của phong cách nghệ thuật xuyên qua tất tật các biểu hiện của cuộc sống của một dân tộc. Nhưng sự thể biết nhiều và đã học nhiều không phải là cả một công cụ cần thiết lẫn một dấu hiệu cho văn minh và, nếu cần, ăn nhập một cách hoàn hảo với điều ngược lại của nó, sự man rợ, tức là với sự vắng mặt của phong cách hoặc hỗn hợp loạn đả của tất tật các phong cách.

Thế nhưng chính trong hỗn hợp loạn đả này của tất tật các phong cách mà người Đức thời chúng ta đang sống, và vẫn cứ là một vấn đề trầm trọng cái việc biết xem làm thế nào mà anh ta có thể, mặc cho toàn bộ sự học hành của mình, không nhận thấy điều đó và hết lòng tận hưởng "văn hóa" hiện nay của anh ta. Tuy nhiên lẽ ra mọi sự đều phải soi sáng cho anh ta, một cái nhìn dẫu nhỏ đến đâu hướng vào quần áo của anh ta, phòng ngủ của anh ta, ngôi nhà của anh ta, cuộc đi dạo dẫu nhỏ đến đâu trên các phố của những thành phố, chuyến viếng thăm dẫu nhỏ đến đâu tới các cửa hàng mốt của anh ta. Lẽ ra anh ta phải thức nhận được, ở xã hội, nguồn gốc cho những cung cách cùng cử chỉ của anh ta; khi nếm hưởng các niềm vui từ công xe, từ nhà hát và từ viện bảo tàng, giữa những cơ sở dành cho nghệ thuật, lẽ ra anh ta phải thức nhận được sự đặt kề nhau ấy và sự dồn tụ thô kệch ấy của tất tật các phong cách khả dĩ. Người Đức dồn đống ở quanh anh ta các hình thức, các màu, các sản phẩm và những thứ kỳ quặc của mọi thời và mọi khí hậu, và bằng cách đó tạo ra sự sặc sỡ đầy tính cách carnaval kia mà sau đó các trí thức của anh ta được giao việc nghiên cứu và định nghĩa như là "yếu tính của cái hiện đại", trong khi chính anh ta thì vẫn bình thản ngồi ở giữa cái đống inh ỏi tất tật các phong cách kia. Nhưng với dạng "văn minh" ấy, thứ thật ra chỉ là một sự thờ ơ đầy hờ hững đối với văn minh, người ta chẳng thắng được bất cứ kẻ thù nào, nhất là những người, như người Pháp, sở hữu một văn minh chân thực và nhiều sức sinh sôi, dẫu cho giá trị của nó có là gì, và từ đó cho tới giờ chúng ta đã vay mượn tất, thường xuyên hơn cả chẳng với chút tài năng nào.

Nếu thực sự ngừng bắt chước họ, thì hẳn sẽ không phải vì thế mà chúng ta thắng họ; chúng ta sẽ chỉ tự giải thoát mình khỏi họ mà thôi. Chỉ khi nếu chúng ta áp đặt cho họ một văn hóa độc đáo thì mới có thể cũng nói tới một khải hoàn của văn minh Đức. Từ giờ đến lúc đó, hãy cẩn thận trước việc chúng ta vẫn và mãi phải phụ thuộc vào Paris về toàn bộ những gì động chạm tới hình thức - và chuyện sẽ không thể khác, bởi cho đến lúc này không có văn minh Đức độc đáo.

Đấy là những gì mà lẽ ra tất tật chúng ta đều phải biết về chính mình; do đó một trong số những người hiếm hoi từng có quyền trách cứ người Đức đã nói hết sức công khai: "Người Đức chúng ta, một hôm Goethe nói với Eckermann, chúng ta thuộc về ngày hôm qua. Chắc chắn là từ một thế kỷ nay chúng ta đã tiến bộ nhiều trên con đường của văn minh; nhưng sẽ vài thế kỷ nữa trôi qua thì tổng thể các đồng bào của chúng ta mới thấm đẫm được tinh thần và văn hóa tận đến độ khiến người ta phải nói về họ: họ từng là đám mọi rợ từ trước đây rất lâu rồi."

10

Ở đây, đang nghĩ đến tuổi trẻ, tôi hét lên: đất liền! đất liền! Chúng ta đã chán và còn hơn là chán cuộc truy tìm chất chứa dục vọng và lông bông trên các đại dương u tối xa lạ kia! Rốt cuộc thì một bờ biển đã lờ mờ hiện ra: dẫu đấy có là gì, chúng ta cũng phải cập vào, và lúc nào thì việc được trú ngụ tại cái tổ tình cờ nào đó, cho dù nó có thiếu hoàn hảo đến đâu, cũng vẫn cứ tốt hơn so với quay lại với sự vô tận của tuyệt vọng và hoài nghi. Chúng ta hãy luôn luôn vào bến: sau đó chúng ta sẽ có thời gian để tìm những cảng tốt và tạo thuận lợi cho những ai tới sau chúng ta lên bờ.

Chuyến đi đã thật nguy hiểm và gây nhiều phấn hứng. Giờ đây, sao mà chúng ta ở xa sự thanh thản nhiều tính cách chiêm ngưỡng với đó trước tiên chúng ta từng nhìn con tàu của mình ra khỏi cảng! Lùng tìm những mối nguy vốn dĩ cố kết vào với các nghiên cứu lịch sử, chúng ta từng, hơn bất kỳ ai khác, bị phơi ra trước những mối nguy ấy; chính chúng ta mang các triệu chứng của những đau đớn mà sự quá mức về lịch sử gọi đến các con người ngày hôm nay, và tôi không tự giấu mình rằng những trang vừa rồi, do sự vô chừng mực của phê phán và sự thiếu trưởng thành của các tình cảm, do những cú nhảy rất thường của chúng từ mỉa mai đến vô sỉ, từ kiêu hãnh đến hoài nghi, để lộ sự yếu của nhân cách vốn dĩ đặc trưng hóa cho thời hiện đại. Thế nhưng tôi tự giao phó mình cho quyền năng thuộc cảm hứng, nó, do thiếu thiên tài, đã dẫn dắt con thuyền của tôi, tôi tự giao phó mình cho tuổi trẻ, thứ sẽ không làm tôi lầm lạc bằng cách bắt tôi phải phản đối giáo dục lịch sử mà con người hiện đại trao cho tuổi trẻ của nó, phải đòi hỏi thoạt tiên con người học sống và chỉ dùng lịch sử nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống đó, mà anh ta đang tập tành. Người ta phải trẻ thì mới hiểu lời phản đối ấy, thậm chí tôi sẽ nói, vì thấy sự già đi quá sớm của tuổi trẻ hiện nay của chúng ta, rằng gần như người ta không thể đủ trẻ để còn cảm thấy đúng ra thì sự phản đối kia nhỏm dậy chống lại điều gì. Mới cách đây chỉ hơn một thế kỷ thôi, người ta từng chứng kiến thức dậy tại Đức, nơi một số thanh niên, một bản năng tự nhiên cho cái mà người ta gọi là thơ. Nhưng người ta có nghĩ rằng các thế hệ trước đó, rồi thì thời này, tự gây hại cho mình vì nói đến cái nghệ thuật hết sức xa lạ, hết sức trái ngược với bản tính của họ không? Ngược lại, người ta biết rằng chúng đã dâng hiến tất tật những sức lực của mình để nghiền ngẫm, viết, tranh cãi về "thơ", thêm các từ vào các từ, các từ và lúc nào cũng là thêm các từ. Sự thể từ "thơ" khi ấy được đánh thức cho cuộc sống đã không ngay tức thì muốn nói cái chết của những kẻ làm ra các từ kia, bọn họ, theo một nghĩa nhất định, ngày nay vẫn tồn tại: bởi nếu chỉ cần thời gian, theo cách nói của Gibbon, nhưng là rất nhiều thời gian, thì một thế giới mới biến mất, cũng chỉ cần thời gian, nhưng còn là nhiều thời gian hơn rất nhiều, thì ở Đức, "đất nước của cái sự dần dà", một ý sai mới biến mất. Dẫu chuyện có thế nào, có lẽ là có, từ một thế kỷ nay, thêm một trăm người biết thơ là gì. Có lẽ một thế kỷ nữa sẽ còn có thêm một trăm người biết rằng người Đức cho đến giờ chưa có văn minh, mặc cho tất tật những nói năng của họ và tất tật những rống to của họ. Với những người đó, sự thỏa mãn chung của người Đức về "văn hóa" của họ sẽ có vẻ cũng khó tin và ngu đần như đối với chúng ta cái ý xưa kia được chấp nhận về sự cổ điển của Gottsched hay chủ đích biến Ramler thành một Pindare của Đức. Có lẽ họ sẽ đánh giá rằng văn hóa này đã gần như chỉ là một dạng của cái biết về văn hóa, và thêm nữa lại là một cái biết hết sức lầm lạc và hời hợt, trong chừng mực người ta chịu được mâu thuẫn giữa cuộc sống và hiểu biết, và người ta vẫn cứ bị mù trước những gì đặc trưng hóa cho văn hóa của các dân tộc thực sự văn minh: sự thể văn minh chỉ có thể tăng trưởng và nở hoa nếu nó bắt rễ vào cuộc sống. Ở người Đức, ngược lại, văn minh được giật lấy từ cuộc sống như một bông hoa giấy, hoặc được giội lên trên như một thứ nước xốt nhiều đường, và vì thế lúc nào cũng sẽ vẫn cứ phải nhiều dối trá và không sức sinh sôi. Thế nhưng chính từ cái ý sai và không sức sinh sôi ấy về văn minh mà, tại Đức, sự giáo dục tuổi trẻ được tiến hành: mục đích của nó, trong một phối cảnh thuần khiết và lý tưởng, chẳng hề là tạo thành tinh thần tự do và có văn hóa, mà là nhà bác học, con người của khoa học mà người ta có sử dụng càng sớm càng tốt và tách xa khỏi cuộc sống nhằm biết nó rõ hơn; kết quả của nó, trong một phối cảnh duy nhiệm theo lối thô lậu, là sản sinh philistine của văn hóa được nuôi dưỡng bằng cảm năng và lịch sử, kẻ ba hoa xích tốc già lão và đầy tự phụ lúc nào cũng sẵn sàng dông dài về Nhà nước, Nhà thờ và Nghệ thuật, tinh thần có khả năng hút chụt lấy một nghìn lẻ một thứ, cái dạ dày không biết thỏa thế nhưng lại không biết một cơn đói đúng nghĩa và một cơn khát đúng nghĩa là gì. Việc một giáo dục có một mục đích như thể và một kết quả như thế là một giáo dục chống lại tự nhiên, đấy là điều mà chỉ cá nhân đã chưa hoàn toàn được tạo thành trong lòng nó mới có thể cảm thấy, đấy là thứ mà chỉ bản năng tự nhiên của tuổi trẻ còn chưa bị bẻ gãy một cách nhân tạo và một cách bạo lực bởi một giáo dục như vậy mới có thể hiểu được. Nhưng nếu, ngược lại, người ta muốn bẻ gãy giáo dục ấy, thì cần phải giúp tuổi trẻ làm người ta nghe thấy được mình, cần phải tung lên sự kháng cự theo bản năng của họ ánh sáng của khái niệm, cho phép nó thức nhận chính nó và diễn tả thật lớn tiếng. Nhưng làm thế nào đạt tới một cái đích ngoạn mục như thế đây?

Trước hết, bằng cách phá hủy cái lòng tin đầy mê tín đặt vào tất yếu của thao tác giáo dục kia. Người ta gợi ý là không có thực tại khả dĩ nào ngoài thực tại thảm hại hiện nay của chúng ta. Về điểm này người ta chỉ cần xem xét văn chương nhà trường và sư phạm của mấy thập kỷ vừa rồi: người ta sẽ thấy với một nỗi kinh ngạc đầy khó nhọc đến mức nào, mặc cho sự đa dạng của các đề xuất, mặc cho sự dữ dội của các mâu thuẫn, tất cả mọi người đều nhất trí về mục đích tính bao trùm của giáo dục: khắp nơi, người ta chấp nhận không còn suy tư gì nữa rằng những gì cho tới giờ từng là sản phẩm của giáo dục, "con người có văn hóa" đúng như người ta hiểu ngày hôm nay, cũng tạo dựng nền móng cần thiết và hữu lý cho mọi giáo dục tương lai. Thứ canon phổ quát này hẳn sẽ gần như có thể được phát biểu theo cách sau đây: thanh niên phải bắt đầu, không phải bằng một hiểu biết về cuộc sống, lại càng ít bằng một kinh nghiệm trực tiếp về cuộc sống hơn, mà bằng một cái biết về văn hóa. Cái biết này phải được truyền hay tiêm vào học trò dưới hình thức của hiểu biết lịch sử; tức là người ta nhồi vào đầu óc nó một số lượng phi thường các ý lấy được ra từ hiểu biết gián tiếp cực điểm từ những thời và những dân chúng trong quá khứ, chứ không phải từ cảm giác ngay tức thì về cuộc sống. Ham muốn của nó, về việc tự có các kinh nghiệm riêng và cảm thấy chúng được tổ chức ở bên trong mình như một hệ thống sống động và liền lạc, ham muốn đó bị bóp nghẹt và như phát say bởi ảo tưởng tráng lệ theo đó có thể, chỉ trong vòng ít năm, đón nhận vào chính mình những kinh nghiệm trác tuyệt hơn cả và đáng kể hơn cả từ các thời kỳ đã qua, và đặc biệt từ những thời kỳ lớn trong số đó. Hoàn toàn vẫn là cùng phương pháp kỳ quái ấy đưa các nghệ sĩ trẻ của chúng ta đến những gallery tranh và bảo tàng, thay vì dẫn họ tới xưởng của một bậc thầy và, trước hết, tới cái xưởng duy nhất của bậc thầy duy nhất kia, tức là tự nhiên. Như thể người ta có thể, lúc đi vơ vẩn một tiếng xuyên qua lịch sử, bắt chợt được các bí mật cùng công thức của những thời đã qua, ăn cắp từ đó thứ quả đặc thù nhất của chúng! Như thể chính cuộc sống không phải là một nghề cần phải học từ đầu và không ngưng nghỉ, cần phải tập luyện không chút nương tay, nếu người ta không muốn nó đẻ ra một bọn ba hoa xích tốc và không có khả năng chỉ chuyên bò rạp!

Plato từng đánh giá là không thể thiếu, nhằm giáo dục thế hệ đầu tiên các công dân nơi xã hội mới của ông (ở Nhà nước hoàn hảo), việc nhờ đến một sự dối trá cần thiết rộng lớn: lũ trẻ con sẽ phải được đưa tới chỗ tin rằng tất tật chúng đều từng sống và mơ một thời gian dưới đất, nơi chúng được nhào nặn và tạo ra bởi tác giả của tự nhiên. Không thể nổi dậy chống lại quá khứ đó! Không thể đối nghịch lại tác phẩm của các vị thần! Một luật không thể xâm phạm của tự nhiên muốn như sau: kẻ nào sinh ra là triết gia thì có vàng trong cơ thể, kẻ nào sinh ra chỉ làm gác dan thì có bạc, kẻ nào sinh ra làm người lao động thì sắt và đồng thau. Cũng như, Plato giải thích, không thể trộn lộn các kim loại ấy, cũng không được phép vi phạm và đảo lộn trật tự của những đẳng cấp; lòng tin đặt vào aeterna veritas của trật tự đó là nền móng của giáo dục mới, và như vậy là của Nhà nước mới. - Chính theo cùng cách thức mà người Đức ngày nay tin vào aeterna veritas nơi giáo dục của họ, nơi típ văn minh của họ: thế nhưng, lòng tin đó sụp đổ, hoàn toàn giống Nhà nước của Plato hẳn sẽ sụp đổ, ngay khi người ta đặt đối lập với sự dối trá cần thiết kia một sự thật cần thiết, và khẳng định rằng người Đức không sở hữu văn minh, vì giáo dục của anh ta cấm anh ta có một sự giáo dục. Anh ta muốn bông hoa mà không có rễ và không có cành: như vậy, anh ta muốn nó trong vô vọng. Đây là sự thật đơn giản, một sự thật thô thiển và gây khó chịu, một sự thật cần thiết.

Thế nhưng chính trong sự thật cần thiết này mà thế hệ đầu tiên của chúng ta phải được nuôi dạy; chắc chắn, nó sẽ phải chịu đau đớn về điều đó hơn so với những người khác, bởi nó phải, xuyên qua đấy, tự giáo dục mình và chống lại chính mình, tự giật mình ra khỏi một bản tính đầu tiên và khỏi những thói quen cũ để xâm nhập một bản tính và các thói quen mới: thành thử hẳn nó sẽ có thể tự nhủ, bằng thứ tiếng Tây Ban Nha xưa kia: Defienda me Dios de my - Xin Chúa bảo vệ tôi khỏi chính tôi, tức là khỏi bản tính đã được ghi khắc vào tôi. Nó sẽ phải nếm hưởng sự thật ấy, nếm hưởng cái đó từng giọt một, như một thứ thuốc cay đắng và hùng mạnh, và cá nhân nào của thế hệ đó cũng đều sẽ phải tự ép buộc mang trên mình một đánh giá mà hẳn kẻ ấy đã thấy dễ hơn nếu thốt ra đi ngược lại toàn thời đại của mình: chúng ta không có văn hóa, không còn nữa, chúng ta bị hư hại quá nặng không thể dẫu chỉ sống, nhìn thấy và nghe thấy những gì được dâng tặng cho chúng ta, không thể sung sướng mà hấp lấy những thứ ngay tức thì hơn cả và tự nhiên hơn cả; cho tới giờ, thậm chí chúng ta còn không có nền móng của một văn minh, bởi chúng ta không chắc chắn đinh ninh được việc việc có ở bên trong mình một sự sống đúng nghĩa. Bị phân mảnh và chia ra, bị cắt theo lối gần như cơ học thành một bên trong và một bên ngoài, bị rắc bị giặm đầy những khái niệm, chúng, giống các cái răng chằn, làm sinh ra những khái niệm-chằn khác, ngoài ra còn phải gánh chịu căn bệnh các từ và đầy ngập nghi ngại đối với những tình cảm của chính tôi, vì chúng đã không nhận được một định danh đồng chất hóa, nhà máy sản xuất các từ cùng các khái niệm, bị tước mất sự sống thế nhưng náo động lên bởi một hoạt động lạ thường, có lẽ tôi vẫn có quyền nói về chính mình cogito, ergo sum, nhưng lại không được quyền nói vivo, ergo cogito. Chính "Bản sinh" rỗng, chứ không phải "Sự sống" đầy và rậm lục, mới là thứ được trao cho tôi; tình cảm sâu sắc của tôi chỉ đảm bảo cho tôi về việc tôi là một sinh thể suy nghĩ, chứ không phải một sinh thể sống, không phải một con thú, mà nhiều nhất thì cũng chỉ là một kẻ nghĩ. Trước hết hãy cho tôi sự sống, từ đó tôi sẽ lấy ra cho các anh một văn minh! - Đấy là điều mà tất tật các cá nhân thuộc thế hệ đầu tiên này lớn tiếng đòi, và chính nhờ tiếng hét đó mà họ nhận ra được nhau. Vậy thì ai sẽ trao cho họ sự sống ấy?

Đó sẽ không phải cả một vị thần lẫn một con người, mà chỉ là tuổi trẻ của chính họ: cứ giải thoát cho cái đó đi, bạn cũng sẽ giải phóng được sự sống. Bởi nó chỉ bị giấu đi và bị cầm tù, nó hẵng còn chưa bị khô héo, nó còn chưa sụm xuống - hãy tự tra hỏi chính mình mà xem!

Nhưng nó bị ốm, cái sự sống mà người ta lôi ra từ hầm kín đó, nó cần được chăm sóc. Nó phải chịu đựng nhiều thứ bệnh, và không chỉ kỷ niệm về xiềng xích của nó - nó đau đớn, và điều này liên quan đến chúng ta trước hết, vì căn bệnh lịch sử. Sự quá mức về lịch sử đã làm hại cho sức mạnh co uốn được của sự sống, nó không còn biết dùng quá khứ làm một thứ dưỡng chất thật mạnh nữa. Chứng bệnh thật khủng khiếp, và thế nhưng! Nếu tuổi trẻ không sở hữu thiên bẩm về sáng suốt vốn dĩ cố kết với bản tính, thì sẽ chẳng ai biết đấy là một căn bệnh và một thiên đường của sức khỏe đã bị mất đi. Nhưng cùng tuổi trẻ cũng đoán được, với bản năng thuộc trị liệu vốn dĩ cố kết với cùng bản tính, thiên đường đó có thể được tái chinh phục như thế nào. Nó biết các thứ dịch dưỡng thương cùng những phương thuốc cho phép vật lộn với chứng bệnh lịch sử, chống lại sự quá đà về lịch sử: vậy thì tên của chúng là gì?

Người ta sẽ không ngạc nhiên khi đó là những cái tên thuốc độc - những thứ giải độc lịch sử là các lực không lịch sử và ở trên lịch sử. Với những cái tên ấy, chúng ta quay trở lại với khởi đầu nhìn nhận của chúng ta và với các phối cảnh thanh thản hơn.

Cụm từ "lực không lịch sử", đối với tôi, chỉ nghệ thuật và năng lực quên và tự nhốt mình vào bên trong một chân trời bị giới hạn, trong khi các lực "ở trên lịch sử" là những lực xoay ánh mắt đi khỏi triển hạn và đưa chúng về phía những gì mang đến cho tồn tại một tính cách của vĩnh cửu và của ổn định, về phía nghệ thuật và tôn giáo. Còn khoa học - chính nó hẳn đang nói ở đây tới các thuốc độc - nhìn thấy nơi năng lực đó, nơi những quyền năng đó, các lực thù địch; bởi hình dung đúng và cụ thể duy nhất, tức là có tính cách khoa học, đối với nó là hình dung biến mọi thứ thành kết quả của một tiến hóa, một thực tại lịch sử chứ không phải là một cái đang là vĩnh cửu; nó sống trong một mâu thuẫn bên trong với các quyền năng tỏa ra sự vĩnh cửu ấy, nghệ thuật và tôn giáo, cũng như nó ghét sự quên, thứ vốn dĩ là sự chết của cái biết, và nó tìm cách loại trừ mọi thứ gì giới hạn chân trời của con người, nhằm ném anh ta vào biển vô tận của ánh sáng hoặc của triển hạn đã bỏ tấm mạng che.

Đấy là giả dụ anh ta có thể sống ở đó! Nhưng cũng như một trật động đất tàn hại và phá tung các thành phố, và con người e sợ việc xây cho mình một chốn trú ngụ phù du trên một thứ đất núi lửa, sự sống cũng sụp đổ, nó đánh mất sức mạnh cùng lòng can đảm, khi sự rung chuyển thuộc trí năng thôi thúc bởi khoa học tước mất khỏi con người nền móng cho mọi sự chắc chắn và mọi sự bình lặng, lòng tin đặt vào một thực tại thường hằng và vĩnh cửu. Sự sống phải thống trị hiểu biết, khoa học, hay hiểu biết phải ngự trị lên sự sống? Quyền năng nào trong hai cái đó cao hơn cái còn lại, cái nào sẽ chiến thắng? Sẽ không ai ngờ về việc đấy là sự sống, bởi một cái biết tàn hủy sự sống cũng tự phá hủy chính nó. Hiểu biết đặt tiền giả định cho sự sống, và thế thì đối với việc cứu lấy sự sống nó có cùng lợi ích như mọi sinh thể đối với sự lưu trì chính nó. Như vậy, khoa học cần phải được giám sát và kiểm soát bởi một cấp cao hơn: cần phải kết hợp chặt chẽ vào với khoa học một vệ sinh của sự sống, mà một trong những nguyên tắc hẳn sẽ là các lực không lịch sử và ở trên lịch sử tạo dựng thuốc giải độc tự nhiên cho sự xâm chiếm sự sống bởi lịch sử, cho căn bệnh lịch sử. Chắc hẳn thứ thuốc giải này cũng sẽ gây cho chúng ta đau đớn nào đó, chúng ta, những kẻ bị ốm vì lịch sử. Nhưng điều này chẳng chứng tỏ gì chống lại sự trị liệu đã được chọn lấy.

Và chính ở đây tôi nhận ra sứ mệnh của tuổi trẻ kia, của thế hệ đầu tiên các đấu sĩ và những người giết quái vật, cái sẽ mở ra bước tiến cho một văn hóa, một loài người đẹp hơn và sung sướng hơn, thế nhưng lại có về vẻ đẹp và niềm sung sướng sẽ tới ấy không nhiều hơn một dự cảm đầy ngập các lời hứa. Tuổi trẻ đó sẽ gánh chịu cùng lúc căn bệnh và phương thuốc: tuy vậy nó tin là mình có quyền khoe khoang một sức khỏe mạnh mẽ hơn và một bản tính tự nhiên hơn so với các thế hệ trước, cái thế hệ của "những đàn ông" và "những ông già" có văn hóa của thời này. Nhưng sứ mệnh của nó, ấy là làm rung chuyển các ý mà thời này tự tạo cho mình về "văn hóa" và "sức khỏe", và thôi thúc sự cười cợt cùng niềm căm ghét nhằm vào lũ quái vật trộn lộn của suy nghĩ như thế. Dấu hiệu chắc chắn cho sức khỏe mạnh của nó chính là chuyện tuổi trẻ đó không thể dùng, nhằm diễn tả yếu tính sâu sắc của nó, bất kỳ ý niệm, bất kỳ mệnh lệnh nào trong số những thứ rất thường xuất hiện ngày hôm nay, nó chỉ có, ở những giờ khắc tốt đẹp hơn cả của mình, lòng tin đinh ninh của nó về việc được làm cho sống động bởi một quyền năng tích cực - quyền năng về tranh đấu, về giải trừ, về phá rời - và bởi một tình cảm lúc nào cũng có cường độ cao hơn về sự sống. Người ta sẽ có thể phản đối rằng tuổi trẻ đó đã có một văn hóa - nhưng cái đó có thể là một phản đối cho tuổi trẻ nào đây? Người ta cũng sẽ có thể gọi nó là thô thiển và vô chừng mực - nhưng đấy là vì nó còn chưa đủ già và chưa đủ thông thái để biết cách chừng mực. Trước hết, nó không cần làm cho người ta nghĩ là nó sở hữu và nó bảo vệ một văn hóa đã xong xuôi, nó tận hưởng tất tật các an ủi và tất tật các đặc quyền của tuổi trẻ, nhất là đặc quyền về một sự trung thực đầy can đảm và không chút tính toán, và niềm an ủi gây nhiều phấn hứng của niềm hy vọng.

Những thanh niên đầy hy vọng ấy, tôi biết là họ hiểu ngay tức thì tất tật những sự chung chung này, và họ sẽ biến chúng, nhờ kinh nghiệm thiết thân nhất của mình, thành một suy nghĩ cá nhân; các người khác sẽ có thể chỉ thấy ở đó, vào lúc này, những cái bình kín mít, có lẽ rỗng. Rồi sẽ đến cái ngày nơi họ kinh ngạc nhận ra, bằng chính mắt họ, rằng những cái bình kia đầy, và các điều chung chung này chứa đựng và tập trung nơi chúng những tấn công, những đòi hỏi, những bản năng thuộc sống, những dục vọng, chúng đã không thể bị giấu đi như vậy lâu hơn được nữa. Gửi trả những đắn đo kia về với thời gian, thứ lôi mọi điều ra ngoài ánh sáng, tôi quay mặt, để kết thúc, về phía cái xã hội của các tinh thần đầy ngập niềm hy vọng kia, để kể cho họ bằng một dụ ngôn làm thế nào họ đã được chữa khỏi và giải thoát từ căn bệnh lịch sử; tôi sẽ kể cho họ câu chuyện của chính họ, đúng như nó sẽ diễn ra cho đến khoảnh khắc nơi họ sẽ lại đủ khỏe khoắn để nghiên cứu lịch sử và, dưới uy quyền của sự sống, dùng quá khứ theo ba hình dung mà chúng ta đã liệt kê: tòa công trình, truyền thống luận hoặc phê phán. Vào khoảnh khắc ấy, họ sẽ vô tri hơn so với những "tinh thần có văn hóa" ngày hôm nay; bởi họ đã quên mất nhiều điều, và thậm chí mất đi mọi ham muốn về tung một ánh mắt dẫu nhỏ tới đâu vào những gì đang hấp dẫn những tinh thần có văn hóa kia hơn cả; họ sẽ nổi bật hẳn lên, trong mắt những người này, chính nhờ "sự thiếu văn hóa" của họ, thái độ đóng kín và thờ ơ đối với nhiều sự vị xuất chúng, và thậm chí là một số điều tốt đẹp. Nhưng họ đã, chừng nào đã khỏi hẳn bệnh, quay trở lại là những con người, họ đã ngừng chỉ là các mớ đống được khoác lên những hình thức con người - vậy thì đâu phải chẳng gì hết! Đấy đâu phải là những niềm hy vọng nhỏ nhoi! Trái tim của bạn không thấy sung sướng trong ngực ư, ôi, bạn, kẻ đang hy vọng?

Và làm thế nào chúng ta đến được cái đích đó? bạn sẽ hỏi. Vị thần tại Delphi hướng đến bạn, ngay từ khởi đầu cái chuyến đi sẽ dẫn bạn tới đó, giới luật của ông: "Hãy tự biết mình." Đấy là một giới luật khó, bởi vị thần kia, như Heraclitus từng nói, "không che giấu và không hé lộ, ông chỉ làm mỗi một việc là chỉ". Ông chỉ gì cho bạn?

Từng có những thế kỷ nơi người Hy Lạp bị đe dọa bởi một mối nguy giống với mối nguy rình rập chúng ta ngày hôm nay, mối nguy bị nhấn chìm bởi kẻ xa lạ và bởi quá khứ, chết vì "lịch sử". Họ chưa từng bao giờ sống trong một sự biệt lập cao ngạo: "văn hóa" của họ, ngược lại, suốt một thời gian dài, là một hỗn độn của các hình thức và ý xa lạ, Semitic, Babylonic, Lydic và Ai Cập, tôn giáo của họ là một trận chiến đúng nghĩa của những vị thần của toàn bộ phương Đông: gần như theo cùng cách thức với "văn hóa" và tôn giáo Đức ngày hôm nay là một hỗn độn nơi đương đầu tất tật các nước và tất tật các thời. Và thế nhưng văn minh Hellenic, nhờ châm ngôn của Apollo kia, đã không bị biến thành một mớ đống dị hình. Người Hy Lạp đã dần dà học được cách tổ chức sự hỗn độn bằng cách quay vào trong chính họ, phù hợp với lời dạy Delphi, dỏng tai lên nghe các nhu cầu đích thực của họ và để cho chết đi các nhu cầu giả tạo. Chính bằng cách này họ đã sở hữu lại được nhân cách riêng của mình; họ chỉ là những thừa kế nhân và những kẻ bắt chước bị cả phương Đông ép không lâu. Thậm chí họ đã có được niềm sung sướng, nhờ sự áp dụng thực tiễn câu châm ngôn ấy và sau một trận chiến khó khăn với chính mình, làm tăng lên và phong phú cho kho báu mà họ đã nhận thừa kế, và trở nên các tổ tiên mẫu mục cho tất tật những dân tộc văn minh của tương lai.

Dụ ngôn này áp dụng được cho mỗi người chúng ta. Cá nhân nào cũng phải tổ chức sự hỗn độn bên trong của mình trong lúc suy tư đến những nhu cầu đúng nghĩa của anh ta. Rồi một ngày sẽ phải có chuyện, sự trung thực của anh ta, tính cách mạnh và thật của anh từ chối lặp lại, học, bắt chước vĩnh viễn; khi ấy anh ta sẽ bắt đầu hiểu rằng văn minh có thể là một cái gì đó khác chứ không phải sự trang trí cho cuộc đời, tức là một cách thức ăn mặc giả trang cho nó và làm nó biến dạng đi; quả thật, mọi món điểm trang đều giấu đi đối tượng được trang điểm. Khi đó sẽ được hé lộ cho anh ta hình dung Hy Lạp về văn minh, nó, trái ngược với hình dung Latinh, thấy ở đó một physis mới và tốt đẹp hơn, không phân biệt một bên trong và một bên ngoài, không cả che giấu lẫn quy ước: hình dung về một văn minh nơi được hiện thực hóa sự nhất trí của cuộc sống và suy nghĩ, của cái có vẻ và cái muốn. Khi đó anh ta sẽ học được, qua kinh nghiệm của riêng mình, rằng chính lực vượt trội nơi bản tính mo ran của mình là thứ đã cho phép người Hy Lạp khải hoàn được trước tất tật các văn minh khác, anh ta sẽ học được rằng mọi tiến bộ của sự thành thực đều sẽ chuẩn bị và tạo thuận lợi cho văn hóa đích thực, dẫu cho sự thành thực ấy có đôi khi gây hại trầm trọng cho hình thức của văn hóa vào lúc đó đang được hưởng sự coi trọng chung, dẫu thậm chí nó thúc đẩy sự rơi của cả một văn minh xuống tính cách thuần túy trang trí.

Nhị Linh dịch

113

144

113 (nữa)

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công