Valéry: Villon và Verlaine
Một bài nói của Paul Valéry vào đầu năm 1937 tại Université des Annales.
Không có gì dễ hơn, và trước đây không gì có vẻ tự nhiên hơn, so với việc đặt cái tên François Villon cạnh cái tên Paul Verlaine. Chứng minh rằng hai hình tượng văn chương đó là hai hình tượng tương tự nhau chỉ là một trò chơi đối với a ma tơ của các đối xứng lịch sử, tức là tưởng tượng. Cả hai, những nhà thơ đáng ngưỡng mộ; cả hai, những người xấu thói; cả hai đều trộn lẫn, trong các tác phẩm của họ, biểu đạt của những tình cảm sùng kính nhất với các bức tranh và lời lẽ tự do nhất, chuyển từ tông giọng này sang tông giọng kia với một sự dễ dàng phi thường; cả hai, đúng nghĩa là những bậc thầy cho nghệ thuật của họ và cho ngôn ngữ thời của họ, mà họ dùng ở tư cách những người đưa được vào văn hóa ý thức tức thì về ngôn ngữ sống, về chính giọng của dân chúng vây quanh họ, cái dân chúng sáng tạo, biến đổi, kết hợp tùy ý các từ và các hình thức. Cả hai đều khá rành tiếng Latin và nhiều tiếng lóng, tùy tâm trạng mà lui đến các nhà thờ hay các quán rượu; và cả hai người, vì những lý do hết sức khác nhau, đều buộc lòng phải trải qua những đợt bị nhốt kín đầy chua cay, nơi họ đã ít trả giá cho những lỗi lầm của mình hơn so với chiết xuất từ đó tinh chất thơ của các sám hối, nuối tiếc cùng nỗi e sợ. Cả hai người đều ngã, ăn năn, lại ngã tiếp, và vùng dậy thành những nhà thơ lớn! Sự song song tự bày mình ra và tự phát triển khá tốt.
Nhưng những gì dễ dàng và nhuần nhị mà xích lại được gần nhau và đặt chồng lên nhau như thế hẳn sẽ chẳng khó nhọc gì mà bị phân chia và tách rời khỏi nhau. Không được gán cho chúng tầm quan trọng lớn. Chắc hẳn Villon với Verlaine hồi ứng nhau một cách khá dễ chịu trong một tòa công trình phăng te di của Văn chương Pháp, nơi có thể giải trí bằng cách đặt theo lối đối xứng những vĩ nhân của chúng ta, được chọn và ghép đôi thật kỹ, khi thì vì những gì được cho là tương phản giữa họ: Corneille và Racine, Bossuet và Fénelon, Hugo và Lamartine; lúc lại vì các giống nhau giữa họ, như hai người mà chúng ta đang nhắc đến. Điều này khiến con mắt thích thú, trong lúc đợi khoảnh khắc của suy tư, thứ tố cáo sự quá ít vững chãi và sự quá ít nhất quán của những sắp xếp đẹp đẽ đó. Vả lại, tôi chỉ nêu nhận xét này nhằm cảnh báo các vị chống lại cám dỗ và mối nguy nhập nhằng một biện pháp tu từ... có tính cách trang trí với một phương pháp thực sự phê phán, nó có thể dẫn tới kết quả thực chứng nào đó.
Tôi xin nói thêm rằng hệ thống Villon-Verlaine, mối quan hệ ở vẻ ngoài và đầy quyến rũ ấy của hai con người ngoại lệ, mà tôi sắp bàn với các vị, nếu nó có thể được giữ vững đủ và được gia cố bằng một số nét tiểu sử, suy yếu hoặc tan rã, ngược lại, nếu người ta muốn đặt cạnh nhau các tác phẩm cũng như người ta làm vậy với hai con người. Lát nữa tôi sẽ chỉ cho các vị điều đó.
Nhìn chung, cái ý về việc liên hợp họ lại sinh ra từ những giống nhau một phần ở cuộc đời họ và đưa tôi đến chỗ làm ở đây điều mà thông thường tôi vẫn phê phán. Tôi cho - đây là một trong những nghịch lý của tôi - rằng hiểu biết tiểu sử các nhà thơ là một hiểu biết vô tích sự, nếu chẳng phải gây hại, cho sự sử dụng mà người ta phải có với các tác phẩm của họ, và là thứ đồng nghĩa hoặc với sự tận hưởng, hoặc với những dạy dỗ và các vấn đề nghệ thuật mà chúng ta sẽ lấy được từ đó. Các tình yêu của Racine thì làm được gì cho tôi đây? Phèdre mới quan trọng đối với tôi. Chất liệu ban đầu, vốn dĩ gần như ở khắp nơi, thì quan trọng gì nào? Tài năng, quyền năng chuyển hóa mới là thứ chạm vào tôi và làm tôi ham muốn. Toàn bộ dục vọng trên đời, tất tật các sự cố, thậm chí những sự cố gây nhiều xúc động hơn cả, của một tồn tại cũng không có khả năng làm ra câu thơ đẹp nào dẫu nhỏ tới đâu. Ngay cả ở những trường hợp thuận lợi nhất, thì đấy cũng không phải là cái nhờ đó các tác giả là những người trao cho chúng giá trị và thời độ, mà đấy là cái nhờ đó họ hơn con người một chút. Và nếu tôi nói rằng nỗi hiếu kỳ thuộc tiểu sử có thể gây hại, thì đó là vì quá mức thường xuyên nó tạo ra cơ hội, cái cớ, phương tiện để tránh đương đầu với nghiên cứu chính xác và hữu cơ một thứ thơ. Người ta tưởng đâu là mình hết nợ nần với nó khi mà ngược lại, người ta đã chẳng làm gì khác ngoài chạy trốn nó, từ chối tiếp xúc và, nhờ đường vòng là sự tìm kiếm những tổ tiên, những người bạn, những mối phiền hoặc nghề nghiệp của một tác giả, chỉ quấy quá, đào thoát cái chính yếu để đi theo cái phụ liệu. Chúng ta không biết gì về Homère. Odyssée không vì thế mà mất đi điều gì trong vẻ đẹp thuộc biển của nó... Chúng ta biết gì về các nhà thơ của Thánh Kinh, về tác giả của Sách Giảng viên, tác giả của Thánh vịnh? Những văn bản đáng kính ngưỡng ấy chẳng vì thế mà đánh mất gì từ vẻ đẹp của chúng. Và chúng ta biết gì về Shakespeare đây? Thậm chí còn không biết có phải ông đã viết Hamlet hay chăng.
Nhưng, lần này, vấn đề tiểu sử là không thể tránh khỏi. Nó tự áp đặt mình và tôi phải làm những gì mà mình vừa lên án.
*
Đấy là vì trường hợp kép Verlaine-Villon là một ca dị thường. Nó dâng tặng cho chúng ta một tính cách hiếm và đáng kể. Một phần hết sức quan trọng các tác phẩm tương ứng của họ được quy chiếu vào tiểu sử của họ và, chắc hẳn, chúng có tính cách tự truyện ở hơn một điểm. Cả hai đều thú nhận với chúng ta những điều cụ thể. Người ta không thể chắc chắn được rằng những thú nhận đó lúc nào cũng chính xác. Nếu có nói sự thật, thì họ cũng không nói toàn bộ sự thật, và không phải họ chỉ nói sự thật. Một nghệ sĩ thì lựa chọn, kể cả khi anh ta xưng tội. Và có lẽ nhất là những lúc anh ta xưng tội. Anh ta giảm nhẹ, anh ta trầm trọng hóa, ở đây ở kia...
*
Tôi đã nói rằng trường hợp này rất hiếm. Phần lớn các nhà thơ, chắc chắn, nói rất dồi dào về chính họ. Và thậm chí, giữa họ với nhau các nhà trữ tình chỉ nói về bản thân họ. Và họ có thể nói đến ai, đến cái gì đây? Trữ tình luận là giọng nói của cái tôi, được đỡ bằng tông thuần khiết hơn cả, nếu chẳng phải là cao hơn cả. Nhưng những nhà thơ ấy nói về chính họ, giống các nhạc sĩ làm vậy, tức là bằng cách hòa các cảm xúc của tất tật những sự kiện cụ thể của cuộc đời họ vào một chất thiết thân thuộc kinh nghiệm phổ quát. Chỉ cần, nhằm nghe thấy họ, từng được tận hưởng ánh sáng ban ngày, từng hạnh phúc, và nhất là bất hạnh, từng ham muốn, sở hữu, đánh mất và nuối tiếc - từng có được vài cảm tri hết sức đơn giản về tồn tại, vốn dĩ chung với tất tật con người, với một cảm tri lại tương ứng một trong các sợi dây của cây đàn lyre...
Vậy thôi là đủ, nhìn chung, và không đủ đối với Villon. Người ta đã nhận ra điều này từ rất lâu, từ hơn bốn trăm năm, bởi vì Clément Marot từng nói rằng, để "cognoistre et entendre" [biết và hiểu] một phần quan trọng của tác phẩm đó, "il fauldrait avoir été de son temps à Paris, và avoir congneu les lieux, les choses et les hommes dont il parle; la mémoire desquels tant plus se passera, tant moins se congnoistra icelle industrie de ses lays dicts. Pour cette cause, qui vouldra faire une oeuvre de longue durée, ne peigne son subject sur telles choses basses et particulières" [Valéry trích tiếng Pháp cổ, ý nói cần phải sống ở Paris vào cùng thời Villon thì mới hiểu được Villon].
Như vậy, nhất thiết phải chú tâm vào cuộc đời và những cuộc phiêu lưu của François Villon, và tìm cách tái tạo dựng chúng, dùng tới các điều cụ thể mà ông trao, hoặc giải mã những ám chỉ mà chốc chốc ông lại rải. Ông nhắc các tên riêng những người từng may mắn hay khổ thay trộn lộn vào sự nghiệp nhiều trắc trở của ông; ông nói tốt về những người này, chế nhạo hoặc nguyền rủa những người khác; chỉ ra các quán rượu mà ông từng ám và dùng vài từ, luôn luôn được chọn thật tuyệt diệu, vẽ ra các chốn và những khía cạnh của thành phố. Toàn bộ những cái đó được nhập theo lối thiết thân vào thơ của ông, không thể phân chia khỏi nó, và thường xuyên biến nó thành ra khó hiểu với những ai không hình dung được Paris vào thời ấy, vẻ đẹp của nó và sự hắc ám của nó. Tôi tin rằng việc đọc vài chương Notre-Dame de Paris không phải là một dẫn nhập tồi vào Villon. Đối với tôi Hugo dường đã thấy rõ được - hoặc giả bịa ra - theo cách thức hùng mạnh của ông, và cụ thể trong cái huyền ảo, Paris hồi cuối thế kỷ 15. Nhưng nhất là tôi đề nghị các vị đọc cuốn sách đáng ngưỡng mộ của Ô. Pierre Champion, nơi các vị sẽ tìm được toàn bộ những gì mà người ta biết về VIllon và về Paris thời ông.
*
Những khó khăn mà các văn bản của Villon bày ra cho chúng ta không chỉ là những khó khăn do khác biệt thời đại và sự biến mất của các vật, mà chúng cũng phát xuất từ việc tác giả là một loài quá đặc biệt. Cái kẻ Paridiêng đầy trí tuệ đó là một cá nhân đáng gờm. Đấy hoàn toàn không phải là một học trò hay một bourgeois làm các câu thơ và vài trò ngông, và đẩy vào đó các mạo hiểm của mình, như đẩy các ấn tượng của mình vào số những ấn tượng mà một người thuộc thời của ông và ở điều kiện của ông có thể biết. Maître Villon là một con người ngoại lệ - bởi thật ngoại lệ trong nghiệp đoàn chúng ta (dẫu cho hết sức nhiều phiêu lưu trong các ý), việc một nhà thơ là một dạng tên cướp, một tên tội phạm lẫy lừng, hết sức bị nghi ngờ về trò ma cà bông đặc biệt, có chân trong các băng nhóm gây khiếp hãi, sống bằng cướp bóc, giật đồ, có dịp thì giết người, lúc nào cũng rình rập, và cảm thấy sợi dây ở cổ, vừa như thế vừa viết những câu thơ tuyệt diệu. Từ đó mà có chuyện nhà thơ bị truy đuổi ấy, con mồi của giàn xử giảo ấy (mà chúng ta còn chưa biết ông đã kết thúc như thế nào, và có thể e sợ việc biết điều này), đưa vào các câu thơ của mình nhiều lối nói và một lượng lớn các từ thuộc về thứ ngôn ngữ khó nắm bắt và đặc dị của xứ xấu xa. Đôi khi ông sáng tạo luôn ra những cái đó, đối với chúng ta gần như là bất khả xâm nhập. Dân chúng của cái vùng nơi ngôn ngữ đó được nói là một dân chúng thích đêm hơn ngày, và cho đến tận trong ngôn ngữ của họ, mà họ tổ chức theo cách của mình, trong cảnh nhập nhoạng, tôi muốn nói giữa ngôn ngữ thường, mà ông lưu giữ cú pháp, và một tự vị bí hiểm được truyền nhờ sự khai trí và được đổi mới rất mau chóng. Tự vị đó, đôi khi xấu, và vang lên nhơ nhớp, đôi khi biểu cảm khủng khiếp. Ngay cả những khi biểu nghĩa của nó vuột mất khỏi chúng ta, chúng ta vẫn đoán được, bên dưới diện mạo tàn bạo hay đậm châm biếm của các từ, những tìm tòi, những hình ảnh được gợi ý mạnh mẽ bởi chính hình thức các từ.
Đây là một sáng tạo thơ thuộc típ nguyên thủy đúng nghĩa, bởi sáng tạo đầu tiên và đáng kể hơn cả trong số những sáng tạo thuộc thơ là ngôn ngữ. Dẫu cho bị lồng vào cái nói năng của những người trung thực, tiếng lóng, biệt ngữ hoặc "jobelin" là một phoóc-ma-xiông độc đáo không ngừng được trau dồi và sửa sang tại những chốn xập xệ, trong các nhà tù, trong bóng tối dày hơn cả của thành phố lớn, bởi cả một thế giới kẻ thù của thế giới, gây khiếp hãi và đầy e sợ, dữ dội và thảm hại, nơi các mối lo được chia sẻ giữa sự chuẩn bị các tội lỗi, nhu cầu về trụy lạc, hay nỗi khát trả thù, và viễn cảnh sự tra tấn cùng những khổ hình không thể tránh (hết sức thường xuyên tàn khốc vào thời ấy), cứ không ngừng hiện diện hoặc ở ngay sát trong một suy nghĩ luôn luôn lo lắng, rộn lên như một con thú dữ trong chuồng, giữa tội ác và sự trừng trị.
*
Cuộc đời của François Villon, cũng như tác phẩm của ông, khá là tăm tối trong tất tật các nghĩa của từ này. Có bóng tối lớn trong cả hai bên, và trong chính nhân vật.
Toàn bộ những gì mà chúng ta biết về ông chỉ soi sáng rất ít cho chúng ta về bản tính thật của ông, bởi toàn bộ, hay gần như toàn bộ, đều đến với chúng ta từ những câu thơ của ông hoặc từ Công lý - hai nguồn khá nhất trí với nhau về các sự vị, mà kết hợp giúp chúng ta hình dung một con người rất tệ, nhiều hằn thù, có khả năng thực hiện những chiến công tệ hại nhất, nhưng đột nhiên làm chúng ta kinh ngạc bởi một âm sắc mộ đạo hay êm dịu giống âm sắc hiện ra trong tác phẩm lừng danh và đáng ngưỡng mộ nơi ông cất lên lời ngợi ca mẹ ông, người phụ nữ khốn khổ ấy, người, quãng năm 1435, một hôm trao đứa trẻ được dành sẵn cho cái ác, cho vinh quang, cho xiềng xích và cho thơ, François de Montcorbier ấy, vào tay Maître Guillaume de Villon, linh mục phụ trách nhà nguyện Saint-Jean, nơi nhà thờ Saint-Benoît-le-Bétourné.
Các vị nhớ đến bài ba lát này, một trong những viên ngọc quý của thơ Pháp:
Femme je suys povrette et ancienne,
Ne rien ne sçay; oncques lettre ne leuz,
Au moustier voy dont je suis paroissienne
Paradis painct où sont harpes et luz...
Cho dù có vài từ hơi bị biến đổi, ngôn ngữ này vẫn là ngôn ngữ của chúng ta; và đã sắp năm trăm năm kể từ lúc những câu thơ đó được viết ra: chúng ta vẫn có thể tận hưởng chúng và thấy xúc động vì chúng. Chúng ta cũng có thể ngây ngất trước thứ nghệ thuật đã tạo ra kiệt tác về hình thức hoàn chỉnh ấy, sự xây dựng khổ thơ ấy, vừa nét lại vừa hoàn hảo về mặt âm nhạc, nơi một cú pháp đa dạng đáng kể, một sự đầy hết sức tự nhiên trong chuỗi tiếp nối các hình tượng dễ dàng hợp vào với ngôi nhà mười câu thơ mười âm tiết của nó, trên bốn vần. Tôi ngưỡng mộ thời độ của giá trị được sáng tạo dưới thời Louis XI này. Tôi thấy ở đó một lời chứng sống cho sự liên tục của văn chương chúng ta và cho điều cốt yếu của ngôn ngữ chúng ta băng qua các thời. Tại châu Âu gần như chỉ Pháp và Anh có thể lấy làm kiêu hãnh với một sự liên tục như vậy; từ thế kỷ 15, hai quốc gia này đã không ngừng tạo ra những tác phẩm và những nhà văn hạng nhất, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhìn chung, dẫu có bị treo cổ hay không, thì Villon đã sống: ông sống ngang hàng với các nhà văn mà người ta có thể thấy; ông sống, bởi vì chúng ta nghe thấy thơ của ông, nó tác động lên chúng ta - và hơn nữa, nó chịu được mọi so sánh với những gì hùng mạnh nhất hoặc hoàn hảo nhất mà bốn thế kỷ gồm những nhà thơ lớn đã trôi qua kể từ ông, từng mang lại. Đấy là vì hình thức có giá trị của vàng.
Nhưng tôi sẽ từ sự nghiệp của tác phẩm quay trở lại với sự nghiệp của con người. Tôi đã nói với các vị rằng chúng ta biết nó theo các phân mảnh. Đó là một Rembrandt, với một phần lớn bị nhấn chìm trong bóng tối, từ đấy một số mẩu trồi lên với một sự chính xác ngoạn mục cùng những chi tiết có sự rõ nét gây khiếp sợ.
Những chi tiết ấy, như các vị sẽ thấy, được hé lộ cho chúng ta bởi các văn bản của tố tụng tội phạm, và chúng ta biết được những văn bản này, chúng chứa đựng tổng thông tin chắc chắn của chúng ta về Villon, là nhờ công việc tuyệt vời của ba hay bốn người, những nhà bác học hàng đầu. Đây là lúc để vinh danh Longnon, Marcel Schwob, Pierre Champion, trước họ người ta từng không biết gì ngoài những điều rất đáng ngờ về nhà thơ của chúng ta. Nối tiếp nhau, họ đã khai phá Lưu trữ quốc gia, tìm được trong các tập giấy và hồ sơ của Parlement của Paris những tài liệu cốt yếu.
Tôi đã không quen Auguste Longnon, nhưng tôi từng rất biết Marcel Schwob, và tôi còn nhớ, hết sức xúc động, những cuộc trò chuyện dài của chúng tôi vào buổi hoàng hôn, nơi tinh thần thông tuệ lạ thường và sáng suốt theo lối say mê đó nói cho tôi biết về các tìm kiếm của ông, về các dự cảm của ông, về những gì ông tìm được, lần theo dấu con mồi ấy, tức là sự thật về ca Villon. Ông đặt vào đó trí tưởng tượng nhiều tính quy nạp của một Edgar Poe và sự minh mẫn đầy tỉ mỉ của một triết gia rất lỗi lạc trong phân tích văn bản, cùng lúc với gu dị thường về các nhân vật ngoại lệ, về những cuộc đời không thể bị thu nhỏ về cuộc đời thông thường, thứ đã giúp ông khám phá nhiều cuốn sách và tạo ra nhiều giá trị văn chương.
Noi gương Longnon - và cũng giống cảnh sát hành động trong thực tế - ông đã sử dụng, nhằm nắm bắt và chụp lấy Villon, phương pháp giăng lưới. Ông tung mảnh lưới ra quanh vùng khả dĩ cận kề tên tội phạm, mà ông nghĩ mình tóm được bằng cách bắt, tôi muốn nói, bằng cách xác định danh tính của cả băng. Ông làm cho tôi ngưỡng mộ vì thấy vào thời điểm đó các vụ việc tội phạm được theo dõi tài tình ra sao. Một tối nọ, ông kể cho tôi những cuộc phiêu lưu tệ hại của một đám người bất lương vốn dĩ là đồng đảng của Villon của chúng ta. Schwob tìm lại được bọn họ tại Dijon, nơi bọn họ làm cả nghìn điều xấu. Suýt thì bị bắt, bọn họ bỏ chạ, tản mát đi. Nhưng viên biện lý thuộc Parlement của Dijon không để mất hút mất bọn họ. Ông ta gửi cho một đồng nghiệp của mình một bản báo cáo, nó cho chúng ta biết, với sự chính xác lớn nhất, về số phận những kẻ chạy trốn. Ba trong số bọn họ, mang theo chiến lợi phẩm, lao sâu vào khu rừng nào cũng chẳng rõ. Tại đó, hai trong ba, toa rập với nhau, dùng đoản kiếm đâm vào lưng bạn đồng hành của chúng, chia nhau những gì mà kẻ kia cầm, và chia tay nhau. Một tên sẽ bị bắt ở Orléans, tôi nghĩ vậy; kẻ còn lại thì bị nấu chín lúc khi vẫn còn sống, ở Montargis, vì tội làm tiền giả. Người ta thấy rằng công lý hồi đó, vốn dĩ không có điện tín, điện thoại hay ảnh chụp và dấu vân tay cùng các đặc điểm nhân trắc học, đã biết cách làm việc khá hiệu quả!
Villon hết sức bị tình nghi là từng thuộc vào băng đảng ấy, gọi là "Compagnons de la Coquille" hoặc "Coquillards". Cuộc đời thảm thê và đầy sức sinh sôi của ông chắc hẳn đã khá ngắn, và rất đáng ngờ việc ông sống tới tuổi bốn mươi. Tôi sẽ tóm tắt nó bằng vài dòng, hay nói đúng hơn, tôi sẽ tóm tắt những gì mà các nhân vật uyên bác mà tôi vừa nhắc đã có thể thiết lập, mà người ta cần phải đọc, cả để hiểu hơn những bài thơ của nhà thơ lớn ấy lẫn để ngưỡng mộ tác phẩm của sự hồi sinh lịch sử chính xác đã được thực hiện, và để hiểu rằng có một thiên tài về tìm, cũng như có một thiên tài về tìm thấy, và một thiên tài về đọc cũng như có một thiên tài về viết.
(còn nữa)
