Tuổi trẻ trong một thành phố Áo
Bachmann sinh ở Klagenfurt năm 1926 và sống ở đó đến năm 1945. Đức Quốc xã sáp nhập Áo năm 1938. Với Bachmann, việc quân Hitler tiến vào Klagenfurt đánh dấu sự tan vỡ của tuổi thơ.
Klagenfurt - thành phố mang tên "Celovec" trong tiếng Slovene - cũng là nơi Peter Handke học trung học, nơi cậu bé Filip Kobal trong tiểu thuyết Bắt đầu lại chuyển đến học sau những năm nội trú. Vượt dãy Karawanken, tức là từ Áo sang miền Slovenia thuộc Nam Tư với Filip là cuộc tìm về tiếng nói bị chôn vùi của gia đình mình.
Tuổi trẻ trong một thành phố Áo
- Ingeborg Bachmann
Vào những ngày tháng Mười đẹp trời, khi đi ra từ phố Radetzky, ta có thể thấy bên Nhà hát Thành phố một cụm cây dưới nắng. Cây đầu tiên, đứng trước những cây anh đào đỏ sẫm không kết trái kia, rực cháy sắc thu, cả một vệt vàng rộng lớn, trông như một ngọn đuốc do một thiên thần đánh rơi. Và giờ nó đang cháy, và gió thu cùng sương giá không thể dập tắt nó.
Ai, đứng trước cây này, còn định nói với tôi về lá rụng và cái chết trắng? Ai sẽ ngăn tôi giữ nó bằng mắt và tin rằng nó sẽ mãi mãi bừng tỏa trước tôi như trong khoảnh khắc này và rằng nó không chịu sự chi phối của những quy luật thế gian?
Trong ánh sáng của nó ta lại nhận ra cả thành phố, với những ngôi nhà nhợt nhạt đang hồi sức dưới mái tóc ngói sẫm màu, và con kênh thỉnh thoảng đưa một con thuyền từ hồ vào neo trong lòng thành phố. Bến cảng hẳn đã chết nay vì giờ đây hàng hóa được chở vào thành phố nhanh hơn bằng tàu hỏa và xe tải; nhưng hoa và quả vẫn rơi từ bờ kè cao xuống mặt nước lặng như ao, tuyết rơi khỏi cành, nước tuyết tan ào ào đổ xuống, rồi dội trở lại và dâng thành một con sóng và cùng con sóng nâng một con thuyền có cánh buồm sặc sỡ đã được giương lên khi chúng tôi đến.
Hiếm có ai từ một thành phố khác chuyển đến thành phố này, vì nó chẳng có gì hấp dẫn cho lắm; người ta đến từ các làng, vì ruộng đất đã trở nên quá chật hẹp, và tìm chỗ ở ngoài rìa thành phố nơi giá thuê rẻ nhất. Ở đây vẫn còn những cánh đồng và hố khai thác sỏi, những vườn rau rộng lớn và những mảnh đất mà năm này qua năm khác người chủ trồng củ cải, bắp cải và đậu, miếng ăn của những người nghèo nhất đến đây lập nghiệp. Những người này tự đào hầm nhà, đứng trong nước từ lòng đất rịn lên. Họ tự đóng những thanh kèo mái vào những buổi tối ngắn ngủi từ xuân sang thu và, trời mới biết trong đời họ có bao giờ được thấy lễ mừng khi dựng xong mái nhà hay không.
Điều ấy chẳng khiến con cái họ bận tâm, bởi chúng đã quen với những mùi không ngừng biến đổi từ phương xa mang tới, khi những đống lửa bùng cháy và những người Di-gan nói các thứ tiếng lạ dừng chân chốc lát ở dải đất không thuộc về ai giữa nghĩa trang và sân bay.
Trong ngôi nhà cho thuê trên phố Durchlass những đứa trẻ phải cởi giày và đi tất khi chơi, vì chúng sống ngay phía trên chủ nhà. Chúng chỉ được phép thì thầm và suốt quãng đời còn lại chúng sẽ không bao giờ bỏ được thói quen thì thầm. Ở trường thầy cô bảo chúng: ‘Phải đánh cho các anh chị biết đường mà mở miệng. Đánh…’ Giữa lời trách nói quá to và lời trách nói quá nhỏ, chúng thu mình vào im lặng.
Phố Durchlass, phố Đường Hầm, không mang tên trò chơi bọn cướp đi qua hầm, nhưng suốt một thời gian dài những đứa trẻ cứ tưởng là thế. Mãi về sau, khi đôi chân đưa chúng đi xa hơn, chúng mới thấy đường hầm, lối chui nhỏ, bên trên có tàu hỏa chạy qua trên đường đến Vienna. Những người tò mò muốn ra sân bay phải đi qua đường hầm này, băng qua những cánh đồng và xuyên qua những hoa văn mà mùa thu thêu. Ai đó đã nảy ra ý việc đặt sân bay cạnh nghĩa trang, và người dân ở K vẫn thường bảo như thế rất tiện chôn những phi công có một thời tập bay ở đây. Các phi công chẳng bao giờ chịu rơi máy bay cho ai được nhờ. Những đứa trẻ lúc nào cũng hét: ‘Phi công! Phi công!’ Chúng giơ tay về phía họ như muốn bắt lấy họ, và nhìn đăm đăm lên vườn thú trên mây nơi những phi công bay giữa những đầu thú và mặt nạ.
Những đứa trẻ bóc giấy bạc bọc những thanh sô-cô-la và dùng nó thổi điệu Maria Saaler Geläut. Ở trường những đứa trẻ được một nữ bác sĩ bắt chấy cho. Những đứa trẻ không biết mấy giờ vì đồng hồ trên nhà thờ giáo xứ đã ngừng chạy. Chúng luôn luôn đi học về muộn. Những đứa trẻ! Hỏi thì chúng biết tên mình, nhưng chỉ dỏng tai khi có người gọi ‘Bọn trẻ’.
Bài tập về nhà: nét xuống và nét lên ngay ngắn, những bài tập tính lãi lỗ, được những chân trời mới đổi lại mất những giấc mơ, học thuộc lòng nhờ các mẹo. Nhiệm vụ của chúng: học một bảng chữ cái và những bảng cửu chương, phép chính tả và mười điều răn, giữa mùi bốc lên từ sàn tẩm dầu, từ vài trăm cuộc đời trẻ con, những chiếc áo khoác của người lùn, những cục tẩy cháy, giữa nước mắt và lời mắng mỏ, những lần đứng góc tường, quỳ gối và tiếng chuyện trò không sao dẹp nổi.
Những đứa trẻ cởi những từ cũ và mặc những từ mới. Chúng nghe kể về núi Sinai và nhìn thấy núi Ulrichsberg với những ruộng củ cải, những cây thông rụng lá và linh sam, lẫn với những cây tuyết tùng và bụi gai, và chúng ăn lá chút chít và gặm những bắp ngô còn non, hoặc mang về nhà nướng trên than hồng. Những lõi ngô trụi hạt mất hút trong thùng gỗ và được dùng để nhóm lửa, và củi tuyết tùng cùng ô liu được chất lên trên, cháy âm ỉ, tỏa hơi ấm từ xa và hắt bóng lên tường.
Thời của những chiến lợi phẩm, thời của những mùa Giáng sinh, không nhìn về phía trước, không ngoái lại phía sau, thời của những đêm bí ngô, của ma quỷ và những nỗi kinh hoàng bất tận. Dù lành, dù dữ - chẳng hy vọng.
Những đứa trẻ không có tương lai. Chúng sợ cả thế giới. Chúng không hình dung thế giới; chúng chỉ hình dung những ô nhảy lò cò vì ranh giới ấy có thể vạch bằng phấn. Chúng nhảy bằng một chân hay hai chân qua những ranh giới từ vùng này sang vùng khác.
Một ngày những đứa trẻ chuyển đến phố Hensel. Vào một ngôi nhà không có chủ cho thuê, vào một khu nhà bò ra từ dưới những món nợ thế chấp với vẻ thuần phục và khép kín. Chúng ở cách phố Beethoven hai con phố, nơi nhà nào cũng rộng rãi và có hệ thống sưởi trung tâm, và cách phố Radetzky một con phố, nơi những chiếc xe điện chạy qua, đỏ chói và há mõm rộng. Chúng đã có một khu vườn, phía trước trồng hoa hồng và phía sau trồng những cây táo nhỏ cùng những bụi lý chua đen. Những cây ấy không cao hơn chúng và cùng chúng lớn lên. Bên trái là hàng xóm nuôi một con chó boxer, và bên phải là những đứa trẻ ăn chuối và suốt ngày đu trên xà đơn cùng vòng treo dựng trong vườn. Chúng kết bạn với con chó Ali và ganh đua với những đứa trẻ nhà bên, những đứa lúc nào cũng biết nhiều và khéo tay hơn.
Chúng thích ở riêng với nhau hơn; chúng làm ổ trên gác mái và thường hét to trong chỗ ẩn náu, thử cất những giọng nói bị bóp nghẹt của mình. Chúng buông những tiếng phản kháng khe khẽ trước những mạng nhện.
Chuột và mùi táo khiến chúng chán ghét căn hầm. Ngày nào chúng cũng xuống đó, nhặt những quả thối, khoét bỏ chỗ hỏng và ăn phần còn lại. Vì chẳng bao giờ ăn hết được táo thối, vì táo cứ thối thêm và không được bỏ phí thứ gì, chúng thèm một thứ quả lạ bị cấm. Chúng không thích táo, họ hàng hay những ngày Chủ nhật phải đi dạo trên núi Kreuzberg phía trên nhà, gọi tên các loài hoa, gọi tên các loài chim.
Mùa hè những đứa trẻ nheo mắt nhìn nắng qua cửa chớp xanh; mùa đông chúng đắp người tuyết và gắn những mẩu than lên đầu làm mắt. Chúng học tiếng Pháp. Madeleine est une petite fille. Elle regarde la rue [1]. Chúng chơi đàn dương cầm. ‘Bài ca sâm banh’. ‘Đóa hồng cuối cùng của mùa hè’. ‘Tiếng xuân xào xạc’.
Chúng không còn đánh vần. Chúng đọc báo, từ những trang báo tên sát nhân tình dục nhảy xổ ra trước chúng. Hắn trở thành bóng cây lúc chạng vạng khi chúng đi học Kinh Thánh về, và hắn làm những cây tử đinh hương lay động xào xạc dọc các khu vườn trước nhà; những bụi hoa cầu tuyết và hoa thiên lam tú cầu thoáng rẽ ra và để lộ bóng hắn. Chúng cảm thấy bàn tay tên bóp cổ siết lấy mình, sự bí ẩn trong từ tình dục còn đáng sợ hơn tên sát nhân.
Những đứa trẻ đọc đến nhức mắt. Chúng thức dậy mệt rũ vì tối hôm trước đã ở quá lâu trong miền Kurdistan hoang dã hoặc bên những người đào vàng ở Alaska. Chúng nghe lén đôi tình nhân trò chuyện và ước có một cuốn từ điển để tra những từ không hiểu. Chúng vắt óc nghĩ về cơ thể mình và một trận cãi vã ban đêm trong phòng ngủ bố mẹ. Chúng hễ có dịp là cười; chúng gần như không nhịn nổi và cười ngã khỏi ghế băng, đứng dậy rồi cười tiếp, cho đến khi quặn bụng.
Nhưng tên sát nhân tình dục sớm được tìm thấy ở một ngôi làng, trong thung lũng Rosental, trong một nhà kho, mặt lẫn trong những túm cỏ khô và màn sương xám của bức ảnh khiến mãi mãi không ai nhận ra hắn, không chỉ trên tờ báo buổi sáng.
Trong nhà không có tiền. Không còn đồng xu nào rơi vào lợn đất. Trước mặt trẻ con người lớn chỉ nói bóng gió. Chúng không thể đoán được đất nước đang bán mình và bán cả bầu trời, bầu trời mà ai cũng giằng kéo cho đến khi rách toạc và lộ ra một lỗ đen.
Bên bàn ăn những đứa trẻ ngồi im, nhai mãi một miếng, trong khi một cơn giông nổ lách tách trên đài và giọng phát thanh viên lóe lên khắp bếp như sét hòn rồi dừng lại nơi nắp nồi hoảng hốt bật lên trên những củ khoai tây nứt vỏ. Dây điện bị cắt. Những hàng người hành quân qua phố. Cờ đập vào nhau trên đầu họ. ‘Ta cứ tiến mãi cho đến khi tất cả đổ nát,’ họ hát ngoài đường. Tín hiệu báo giờ vang lên, và những đứa trẻ bắt đầu lặng lẽ truyền tin cho nhau bằng những ngón tay thuần thục.
Những đứa trẻ đang yêu nhưng không biết yêu gì. Chúng líu lo vô nghĩa, nghĩ ngợi đến nhợt nhạt, và khi chẳng biết làm sao nữa chúng nghĩ ra một thứ tiếng khiến chúng phát điên. Cá của tớ. Lưỡi câu của tớ. Cáo của tớ. Bẫy của tớ. Lửa của tớ. Cậu là nước của tớ. Cậu là dòng chảy của tớ. Đất của tớ. Cậu là nếu của tớ. Và cậu là nhưng của tớ. Hoặc. Hoặc. Tất cả của tớ… tất cả của tớ… Chúng xô đẩy nhau, vung nắm đấm lao vào nhau và giằng co vì một lời đáp không tồn tại.
Chẳng có gì đâu. Bọn trẻ ấy mà!
Chúng phát sốt, nôn mửa, rét run, đau họng, ho gà, sởi, tinh hồng nhiệt; chúng lâm cơn nguy kịch, vô vọng, lơ lửng giữa sống và chết; rồi một ngày chúng nằm đó tê dại và run rẩy, nghĩ khác về mọi thứ. Chúng được bảo rằng chiến tranh đã nổ ra.
Thêm vài mùa đông nữa, cho đến khi bom hất tung lớp băng, người ta vẫn trượt băng trên ao dưới chân núi Kreuzberg. Mặt băng nhẵn như kính ở giữa dành cho những cô gái mặc váy xòe lượn trên cạnh trong, cạnh ngoài của lưỡi trượt và vẽ hình số tám; vòng ngoài dành cho những người trượt tốc độ. Trong phòng sưởi những cậu trai lớn hơn xỏ giày trượt cho những cô gái lớn hơn và miếng che tai trên mũ các cậu chạm vào lớp da giày căng ôm những cẳng chân thon như cổ thiên nga. Phải có giày trượt bắt vít mới được coi là dân trượt băng thực thụ, còn những ai chỉ có giày trượt đế gỗ buộc dây như bọn trẻ thì lui về những góc ao xa hoặc đứng xem.
Chiều tối, khi những người trượt băng cả trai lẫn gái đã cởi giày, vắt lên vai và bước lên sàn gỗ chào nhau ra về, khi những gương mặt như trăng non sáng lên trong chạng vạng, đèn bật sáng dưới những mái che phủ tuyết. Loa bật, và cặp song sinh mười sáu tuổi nổi tiếng khắp thành phố bước xuống những bậc gỗ, cậu mặc quần xanh và áo len trắng còn cô mặc một lớp voan xanh mỏng như không bên ngoài bộ đồ bó màu hồng da. Họ thản nhiên đợi nhạc nổi lên rồi nhảy từ bậc áp chót xuống băng - cô vỗ cánh, cậu lao xuống như một tay bơi cừ - và chỉ vài nhịp nhún chân đạp mạnh đã tới giữa ao. Ở đó cô bắt đầu động tác đầu tiên, và cậu đưa một vòng sáng về phía cô để cô nhảy qua, giữa làn sương mờ, khi kim máy hát bắt đầu sột soạt và tiếng nhạc rè đi rồi tắt. Các ông già mở to mắt dưới những hàng lông mày đọng sương giá, và người đàn ông đang xúc tuyết dọn đường trượt dài quanh ao, chân quấn giẻ, tựa cằm lên cán xẻng và dõi theo từng bước trượt của cô gái như thể những bước ấy dẫn vào cõi vĩnh hằng.
Những đứa trẻ còn có một bất ngờ nữa: những cây Giáng sinh lần này quả thật từ trên trời rơi xuống. Bốc cháy. Và món quà bất ngờ chúng nhận được là có thêm thời gian rảnh.
Khi có báo động không kích chúng được phép bỏ vở trên bàn và trốn xuống hầm trú ẩn. Sau đó chúng được phép để dành kẹo cho thương binh, đan tất và đan giỏ sợi cọ cho những người đang chiến đấu trên bộ, trên biển và trên không. Và viết một bài văn tưởng niệm những người dưới lòng đất và trên mặt đất. Rồi sau nữa chúng được phép đào hào giữa nghĩa trang và sân bay, sân bay đã bắt đầu nộp cống cho nghĩa trang. Chúng được phép quên tiếng Latinh và học phân biệt tiếng động cơ trên trời. Chúng không còn phải tắm thường xuyên; giờ chẳng ai để ý đến móng tay chúng nữa. Những đứa trẻ nối lại những sợi dây nhảy, vì không còn dây mới, và nói chuyện về ngòi nổ hẹn giờ và mìn. Những đứa trẻ chơi trò ‘Cho bọn cướp đi qua’ giữa những đống đổ nát, nhưng nhiều khi chúng chỉ ngồi đó nhìn trân trân vào khoảng không, và không còn nghe thấy khi người ta gọi ‘Bọn trẻ’. Gạch vụn thì đủ để chơi nhảy lò cò, nhưng những đứa trẻ run lên vì ướt sũng và lạnh.
Trẻ con chết, và những đứa trẻ học niên đại của Chiến tranh Bảy năm và Chiến tranh Ba mươi năm, và chúng cũng chẳng bận tâm nếu lẫn lộn các cuộc giao tranh, cái cớ và nguyên nhân, những điều phải phân biệt rạch ròi mới được điểm cao môn sử.
Chúng chôn con chó Ali rồi đến những người chủ của nó. Thời nói bóng gió đã qua. Người ta nói trước mặt chúng về chuyện bắn vào gáy, về treo cổ, thanh toán, đánh nổ, và những gì không nghe không thấy thì chúng ngửi thấy, như chúng ngửi thấy mùi những người chết ở St Ruprecht, những người không thể đào lên vì bị vùi dưới rạp chiếu bóng nơi họ đã lẻn vào xem Romance giọng thứ. Trẻ vị thành niên không được vào xem, nhưng rồi chúng lại được dự phần vào cuộc chết chóc và giết chóc khủng khiếp diễn ra vài ngày sau đó và tiếp diễn ngày này qua ngày khác.
Trong nhà không còn ánh sáng. Cửa sổ không còn kính. Cánh cửa không còn trên bản lề. Không ai động đậy và không ai đứng dậy.
Sông Glan không chảy ngược cũng không chảy xuôi. Con sông nhỏ đứng im, và lâu đài Zigulln đứng im và không trỗi dậy.
Thánh Georg đứng ở Quảng trường Mới, đứng cầm chùy và không giết con rồng. Bên cạnh ngài Nữ hoàng đứng đó và không trỗi dậy.
Ôi thành phố. Thành phố. Thành phố nữ trinh [2] với cả bộ rễ buông thõng. Trong nhà không có ánh sáng và không có bánh mì. Những đứa trẻ được bảo: ‘Im đi, nhớ phải im.’
Giữa những bức tường này, giữa những đường vành đai, còn bao nhiêu bức tường đứng vững? Con chim Wunderbar [3] còn sống không? Nó đã im tiếng bảy năm. Bảy năm đã qua. Ngươi là chốn của ta, ngươi chẳng là chốn nào, trên mây, dưới đá vôi, dưới đêm, trên ngày, thành phố của ta và dòng sông của ta. Ta là dòng chảy của ngươi, ngươi là đất của ta.
Thành phố với đường vành đai Viktring và đường vành đai St Veit… Phải gọi từng đường vành đai bằng tên của nó như gọi những đường sao lớn mà với trẻ con cũng chẳng lớn hơn, và mọi ngõ nhỏ, ngõ Thành Lũy và ngõ Ngũ Cốc, phải, chúng từng mang tên ấy, ngõ Thiên Đường, đừng quên các quảng trường, quảng trường Cỏ Khô và quảng trường Thánh Linh, để mọi thứ nơi đây được gọi tên, một lần cho mãi mãi, để mọi quảng trường được gọi tên.
Dòng chảy và đất.
Và một ngày chẳng còn ai phát phiếu điểm cho những đứa trẻ nữa, và chúng có thể đi. Chúng được bảo hãy bước vào đời. Mùa xuân đổ xuống cùng những dòng nước trong veo cuồn cuộn và sinh ra một ngọn cỏ. Không cần bảo những đứa trẻ rằng hòa bình đã đến. Chúng đi khỏi, tay đút túi sờn rách và huýt sáo để tự nhắc mình coi chừng.
Bởi khi ấy, ở nơi ấy, tôi đã ở giữa những đứa trẻ và chúng tôi đã tạo ra một khoảng trời mới, tôi đi khỏi phố Hensel, cả quang cảnh núi Kreuzberg, và gọi tất cả những cây vân sam, những con chim giẻ cùi và vòm lá biết nói làm chứng. Và bởi tôi đã nhận ra ông chủ quán không còn trả một đồng groschen cho một vỏ bình sô-đa và cũng không còn rót nước chanh cho tôi, tôi nhường lối qua phố Durchlass cho người khác và kéo cổ áo khoác cao hơn khi băng qua phố không buồn đưa mắt nhìn đường ra những ngôi mộ ngoài thành phố, một kẻ qua đường không ai nhận ra gốc gác. Nơi thành phố kết thúc, nơi có những hố khai thác sỏi, nơi những sàng sỏi còn đầy và cát đã ngừng hát, ta có thể ngồi xuống một lát và ôm đầu trong hai bàn tay. Khi ấy ta biết mọi chuyện vốn là thế, mọi chuyện vẫn là thế, và thôi tìm lý do. Bởi chẳng có đũa thần nào chạm vào ta, chẳng có phép biến hóa nào. Những cây đoạn và bụi cơm cháy…? Chẳng có gì lay động lòng ta. Không một sườn dốc xưa, không một ngôi nhà hiện ra. Cũng không có tháp Zigulln, hai con gấu bị nhốt, những ao nước, những đóa hồng, những khu vườn đầy cây kim tước. Trong hồi tưởng bất động trước lúc lên đường, trước mọi lần lên đường, điều gì có thể sáng tỏ? Chẳng còn mấy điều giúp ta hiểu ra, và tuổi trẻ không nằm trong số ấy, thành phố nơi tuổi trẻ đã trôi qua cũng không.
Chỉ khi cái cây trước nhà hát làm nên phép lạ, khi ngọn đuốc cháy, tôi mới thấy mọi thứ hòa vào nhau, như những dòng nước trong biển: những ngày nhỏ bị giam trong bóng tối khi máy bay lượn trên những đám mây sáng lóa; Quảng trường Mới cùng những tượng đài phi lý nhìn ra Utopia; những hồi còi báo động ngày ấy rú lên như tiếng thang máy trong một tòa nhà chọc trời; những lát bánh mì khô phết mứt còn lẫn một hạt quả mà tôi đã cắn phải bên bờ Đại Tây Dương.
Thanh Nghi dịch
Chú thích:
[1] “Madeleine là một cô bé. Cô bé nhìn ra đường.” (tiếng Pháp).
[2] còn gọi là thủy lạp, tên gọi các cây thuộc chi Ligustrum, họ Ô liu (Oleaceae), nhiều loài thường được trồng làm hàng rào.
[3] Wunderbar: tiếng Đức nghĩa là “kỳ diệu”, ở đây được dùng như tên gọi của con chim. “Bảy năm” im tiếng gợi thời kỳ Áo dưới quyền Quốc xã
