John Dos Passos về Thorstein Veblen
John Dos Passos đã đọc Thorstein Veblen ở độ tuổi rất trẻ và ngay lập tức bị thu hút. Tư tưởng của Veblen về sự phân rã của xã hội bị thao túng bởi tư bản độc quyền đã định hình sâu sắc thế giới quan của nhà văn, thể hiện rõ và kỹ nhất qua bộ ba U.S.A. Một sự trùng hợp: người cha, vị luật sư đại diện cho được một tập đoàn vô cùng giàu có và quyền lực tại New York mà Dos Passos tái hiện một cách đầy chán ghét qua không ít tác phẩm của mình cũng từng bị Veblen bêu tên như vị hộ pháp cho cái hệ thống mà nhà kinh tế học này không ngừng đả kích.
Tác phẩm này (nhan đề gốc: “The Bitter Drink”) được đăng tải lần đầu Esquire năm 1935 như một tiểu sử-luận (biographical essay) riêng lẻ với phong cách cắt ghép sáng tạo đặc trưng của Dos Passos, về sau được đưa vào The Big Money - cuốn cuối cùng của bộ ba U.S.A.
Sau Faulkner, Văn Bản sẽ tiếp tục với Wolfe và Dos Passos, mà theo lời chính Faulkner, là ba nhà văn Mỹ vĩ đại nhất ở thời của họ.
Veblen,
người đàn ông mặt mày xám ngoét, dáng điệu thất thểu, ngồi lặng thinh đầy hằn học bên bàn làm việc, má tựa lên tay, lầm bầm những cụm từ phức tạp bằng giọng mỉa mai trầm thấp, âm thầm thả rơi sợi dây lô gích không thể trốn khỏi của những sựthậthiểnnhiên để một xã hội tự treo cổ mình,
mổ xẻ cả thế kỷ bằng lưỡi dao sắc đến thế, khôi hài đến thế, chính xác đến thế, khiến các giáo sư và sinh viên đến chín phần mười thời gian chẳng hề hay biết nó tồn tại, còn các đại tài phiệt, những kẻ huênh hoang đáng kính và những cái loa phóng thanh được tán thưởng thì vĩnh viễn chẳng bao giờ biết nó vẫn luôn ở đó.
Veblen
đặt ra quá nhiều câu hỏi, bất lực bẩm sinh trong việc đồng ý.
Socrates đặt nhiều câu hỏi, đã uống cạn chén đắng vào đêm nọ khi gà bắt đầu cất tiếng,
nhưng Veblen
uống từng ngụm nhỏ suốt cuộc đời dài giữa bầu không khí ngột ngạt của những phòng học, bụi bặm của những thư viện, mốc meo của những căn hộ rẻ tiền vừa túi một trợ giảng nghèo. Ông đã chiến đấu với Boyg [ND: con quái vật khổng lồ, vô hình của Henrik Ibsen], sự giáo điều, thói rập khuôn, những kẻ giết thời gian bên bàn giấy, uỷ viên quản trị, hiệutrưởngtrườngđại học, những kẻ đầy tớ béo ị của đám doanh nhân đang thống trị, tất cả những vị trí béo bở chỉ dành riêng cho lũ vâng lời, chẳng bao giờ có đủ tiền, mọi hy vọng mới chớm nở đều bị bóp nghẹt. Veblen đã uống cạn chén đắng, rất trọn.
Gốc gác Veblen vốn là những nông dân tự canh tự chủ.
Những người tự canh ở các thung lũng Na Uy chật hẹp vốn thuộc một bộ tộc ngoan cường và cần lao, những nông dân, những người nuôi bò sữa, những ngư dân, bén rễ vào đất ruộng sỏi đá của cha ông, vào những trang trại gỗ cổ xưa với đầu hồi chạm khắc mà họ dùng để đặt tên cho chính mình, vào những đồng cỏ vùng cao họ chăn thả gia súc mỗi khi hè về.
Đầu thế kỷ mười chín, các thị trấn bành trướng; Na Uy tràn lan những kẻ không tấc đấc cắm dùi, chủ tiệm, trưởng cảnh, cho vay, lục sự, công chứng viên bận đồ đen với cổ áo hồ cứng và cặp da đầy trát tịch biên tài sản kẹp dưới nách. Công nghiệp ập tới. Dân thị trấn bắt đầu bòn rút lợi nhuận từ nông thôn và dùng mánh tước đoạt sự tự do của những người nông thân trên các mảnh ruộng chật hẹp.
Kẻ hèn mọn thì quy phục làm tá điền, làm lao động tự do theo ngày; nhưng những người đàn ông mạnh mẽ thì rời bỏ xứ sở như cha ông họ từng làm nhiều thế kỷ trước, khi Harald Tóc Đẹp và Thánh Olaf băm nát nền tự do của dân phương Bắc, những người trước đó đều là chúa tể trên vùng vịnh nhỏ riêng mình, để biến họ thành chiên con và nô lệ,
chỉ khác là vào thời cổ xưa ấy, người phương Bắc đã căng buồm về phía Tây đến Iceland, Greenland, Vineland; còn đích đến giờ đây là nước Mỹ.
Cả dòng họ bên cha và bên mẹ Thorstein Veblen đều bị cướp mất trang trại, mất luôn cả những cái tên là minh chứng rằng họ là người tự do.
Thomas Anderson từng có thời kiếm sống bằng nghề thợ mộc lưu động và thợ đóng tủ, nhưng đến 1874, ông cùng vợ là Kari Thorsteinsdatter đã ra khơi trên một con tàu săn cá voi khởi hành từ Bremen để tìm tới và gia nhập những bằng hữu trong các thuộc địa của người Scandihoovia quanh Milwaukee.
Năm sau, người em trai Haldor cũng đến.
Họ là những người cần lao; trong một năm tới, họ đã gom đủ tiền để mua quyền sở hữu trước một mảnh đất nguyên sinh rộng 160 mẫu Anh ở hạt Sheboygan, Wisconsin; khi đã khai hoang được một phần, họ bán đi và chuyển đến một thuộc địa thuần Na Uy ở Manitowoc, gần Cato và một nơi có tên là Valders, đặt theo tên thung lũng bọn họ đã bỏ lại tại quê hương;
chính tại nơi đây, trong ngôi nhà Thomas Anderson tự tay dựng nên bằng công cụ của mình, đứa con thứ sáu trong bầy con mười hai đứa, Thorstein Veblen, ra đời.
Khi Thorstein lên tám, Thomas Anderson lại di cư về phía Tây, tiến vào vùng thảo nguyên đất đen của Minnesota, nơi mà người da đỏ Sioux và lũ bò rừng mới chỉ bị đuổi đi trước đó vài năm. Trong giấy đăng ký sở hữu trang trại mới, Thomas Anderson lấy lại cái tên Veblen của trang trại cổ xưa tại quê nhà.
Ông là một nông dân vững vàng, một người thợ xây, một thợ mộc khéo tay, người đầu tiên nhập khẩu giống cừu merino cùng máy gặt và máy bó cơ giới; ông là người có vị thế trong nhóm người Na Uy canh tác nơi rìa thảo nguyên, những kẻ vẫn giữ nguyên các phương ngữ của mình, lối sống của những thung lũng Na Uy chật hẹp của họ, các mục sư Luther của họ, quần áo và phô mai cùng bánh mì tự làm, cả sự nghi kỵ cùng niềm căm ghét ngoan cố đối với lối sống của dân thị trấn.
Chiếm phần lớn thị trấn là Yankee, già đầu trong việc làm cho hai đô-la mọc lên ở nơi trước đó chỉ có một đô-la, những chủ cửa tiệm, những kẻ môi giới, những tay đầu cơ, những kẻ cho vay nặng lãi, với cái đầu đầy sỏi trong trò chính trị và các khoản thế chấp; chúng khinh miệt chính đám nông dân Scandihoovia lam lũ mà mình đang sống bám vào, những kẻ có con gái phải làm việc bếp núc cho vợ của chúng.
Người Na Uy tin tưởng, như cha ông họ đã từng tin tưởng, rằng chỉ có hai cái nghề dành cho một người đàn ông lương thiện: làm nông hoặc làm mục sư.
Thorstein lớn lên thành một gã trai to xác có tiếng lười biếng và hóm hỉnh.
Ông ghét cay ghét đắng sự phiền nhiễu của những công việc tủn mủn cứ lặp đi lặp lại đến còng lưng quanh trang trại.
Đọc sách khiến ông hạnh phúc. Ông thích làm mộc hoặc vận hành máymócnôngnghiệp. Các mục sư Luther ghé qua nhà nhận thấy rằng trí óc linh hoạt của ông dễ dàng lách qua những điểm mù trong thần học của họ. Thật khó để bắt ông làm việc đồng áng, ông có một chiếc lưỡi sắc độc và nổi tiếng với những cái tên hài hước dùng để gọi người khác; cha ông quyết định biến ông thành một mục sư.
Năm mười bảy tuổi, đang làm dở trên thửa ruộng thì ông bị kêu ra. Hành lý của ông đã được gói ghém sẵn. Ngựa đã được thắng yên cương. Ông bị tống đến Học viện Carleton ở Northfield, để chuẩn bị vào Đại học Carleton.
Vì có vài đứa trẻ nhà Veblen cần được ăn học, cha chúng đã dựng cho chúng một ngôi nhà trên một khu đất gần khuôn viên trường. Thức ăn và quần áo của chúng được gửi đến từ trang trại. Tiền mặt là thứ chúng chẳng bao giờ được nhìn thấy.
Thorstein nói thứ Anh nặng ngữ điệu. Ông bất lực bẩm sinh trong việc đồng ý. Trí óc ông được định hình bởi những bản sử thi Na Uy, bởi cái khiếu thựctếtrầntrụi từ công việc làm nông của cha mình và bởi những yêu cầu chính xác của nghề mộc và máytuốt lúa.
Ông chẳng bao giờ có thể bận tâm nhiều đến thứ thần học, xã hội học, kinh tế học của Đại học Carleton – nơi người ta đang bận rộn gọt giũa những giáo điều lởm chởm của lũ thương buôn dạybằngkinhthánh vùng New England thời cũ, nhằm tạo ra những khuôn mẫu để treo lên tường văn phòng của các đại lý ký gửi.
Veblen học đại học rơi vào thời điểm các tuyên bố của Darwin về sự tiến hóa và sự thành hình đang đập tan những cái khuôn đông cứng của thế giới Tàu Noah,
khi những người đàn bà của Ibsen đang giật sập những tấm rèm che của các phòng khách thời đại Victoria,
và cỗ máy khổng lồ của Marx đang dàn dựng thứ lô gích của chính phòng kế toán để phá hủy chính phòng kế toán đó.
Mỗi khi Veblen về nhà bên trang trại, ông thường bàn luận về những điều này với cha mình, lầm lũi bám theo ông ta dọc theo những đường cày, khơi mào một cuộc tranh luận trong lúc họ chờ đợi một chuyến hàng mới cho máytuốtlúamì.
Thomas Anderson đã thấy cả Na Uy và nước Mỹ; ông có trí óc vuông vức của một thợ mộc và một thợ xây, cùng sự thấu hiểu về các công cụ và kho tàng tri thức được trau dồi, vun đắp, tích lũy qua từng mùa vụ của một nông dân cẩn trọng,
một viên đá mài thô ráp để rèn sắc lưỡi thép trong trí tuệ của cậu trai trẻ Thorstein.
Tại Đại học Carleton, cậu trai trẻ Veblen bị coi là một kẻ lập dị có tài nhưng không vững vàng; chẳng ai có thể hiểu nổi tại sao một gã có thành tựu như vậy lại không chịu yên vị với công việc của thời đại – thứ công việc nhằm chống đỡ cho tài sản và lợi nhuận bằng bất cứ thứ gì có thể dùng được trong đống đổ nát của đạo đức Cơ đốc giáo và kinh tế học thế kỷ mười tám đang làm bừa bộn tâm trí của các giáosưđạihọc, và để gia cố cho cái tòa nhà thiêng liêng nhưng đã lung lay bằng thứ khung dầm mới chắc chắn của khoa học mà Herbert Spencer đang dựng lên vì lợi ích của những kẻ làm chủ.
Người ta phàn nàn rằng họ chẳng bao giờ biết được Veblen đang đùa hay đang nghiêm túc.
Năm 1880, Thorstein Veblen bắt đầu kiếm sống bằng nghề dạy học. Một năm tại một học viện ở Madison, Wisconsin, chẳng mấy thành công. Năm tiếp theo, ông cùng người anh trai Andrew bắt đầu học cao học tại Đại học Johns Hopkins. John Hopkins không hợp, nhưng việc được trọ tại một ngôi nhà cổ ở Baltimore với vài người phụ nữ thuộc dòng dõi quý tộc sa sút đã cho ông một cái nhìn khinh bỉ về thứ lễ nghi giờ đây đã tơi tả vì mối mọt, nhưng lại được truyền thừa từ nước Anh hồ hởi của những kỵ sĩ địa chủ, thông qua sự nhàn hạ hoang phí trong các dinh thử của đám chủ đồn điền sởhữunôlệ.
(Những người nôngdânthunglũng thì luôn khinh miệt lối sống của những kẻ ngoại bang.)
Ông thấy thoải mái hơn tại Yale, nơi ông tìm thấy ở Noah Porter một tảng đá granite đầu tròn vùng New England – thứ đã va chạm với tảng đá granite Na Uy của ông và vang lên tiếng phản kháng đanh thép. Ông lấy bằng Tiến sĩ tại đó. Nhưng vẫn còn một câu hỏi bỏ ngỏ về việc ông có thể kiếm sống tốt nhất ở phòng ban nào của thế giới học thuật.
Ông đọc Kant và viết những bài luận đoạt giải. Nhưng ông không thể tìm được việc làm. Dù đã cố hết sức, ông vẫn không tài nào uốn lưỡi để thốt ra lời đồng ý cần thiết.
Ông trở lại Minnesota với một thứ hiểu biết không mấy khoan dung về những nét đẹp của nền học vấn bậc cao. Vào cái giọng đặc sệt Na Uy của mình, ông đã thêm vào âm a kéo dài.
Ở nhà, ông lang thang quanh trang trại, loay hoay với các phát minh máy móc mới, đọc sách và bàn luận thần học cùng triết học với cha mình.
Tại các thuộc địa của người Scandihoovia, giá lúa mì cùng niềm tin vào Chúa và Thánh Olaf đang cùng nhau lao dốc. Những người nông dân vùng Tây Bắc đang bắt đầu cuộc chiến thất bại dài đằng đẵng chống lại lũ doanh nhân ký sinh đang hút cạn máu họ. Có một khoản thế chấp trên trang trại, tiền lãi của những khoản nợ phải trả, và luôn luôn là phân bón, là những cỗ máy mới phải mua để tăng tốc sản xuất nhằm bơm sạch trong vòng nửa thế kỷ cái sự giàu có từ lòng đất vốn được tích tụ qua một triệu năm của cỏthảonguyên. Các anh em của ông không ngừng cằn nhằn về gã ăn hại mỉa mai này, kẻ không chịu tự kiếm lấy miếng ăn.
Trở lại quê nhà, ông gặp lại người tình thời đại học của mình, Ellen Rolfe, cháu gái vị hiệu trưởng Đại học Carleton, một cô gái xuất thân trong gia đình có tàiphiệtđườngsắt và đầy tiền bạc. Người dân ở Northfield đã bị sốc khi biết tin nàng sẽ kết hôn với gã thanh niên Na Uy vô tích sự, ăn mặc tồi tàn, mọt sách, hay bắt bẻ và nói giọng kéo dài.
Gia đình nàng vạch ra một kế hoạch để kiếm cho ông một công việc làm nhà kinh tế học cho Hãng đường sắt Santa Fe, nhưng vào ngay thời điểm bất lợi nhất, chú của Ellen Rolfe mất quyền kiểm soát tuyến đường này. Đôi vợ chồng trẻ đến sống tại Stacyville, nơi họ làm đủ mọi thứ trên đời ngoại trừ việc kiếm sống. Họ đọc tiếng La-tinh và Hy Lạp, đi thu thập mẫu thực vật trong rừng, dọc theo những bờ rào và trong những bụi rậm bên đường. Họ chèo thuyền trên sông và Veblen bắt đầu bản dịch tác phẩm sử thi Laxdaelasaga của mình. Họ đọc Nhìn lại và các bài báo của Henry George. Họ nhìn ngắm thế giới của mình từ bên ngoài vào.
Vào năm 91, Veblen gom góp được một ít tiền để đến Cornell làm nghiên cứu sinh. Ông xuất hiện ở đó, ngay tại văn phòng của trưởng khoa kinh tế, đầu đội một chiếc mũ lông gấu mèo, mặc quần nhung tăm màu xám và nói bằng giọng kéo dài mỉa mai trầm thấp: “Tôi là Thorstein Veblen,”
nhưng phải cho đến vài năm sau đó, sau khi ông đã yên vị tại trường Đại học Chicago mới thành lập vốn mọc lên ngay cạnh Hội chợ Thế giới, và đã xuất bản cuốn Lý thuyết Tầng lớp Nhàn rỗi – tác phẩm được đưa vào bản đồ học thuật nhờ bài phê bình nổi tiếng của Howells – thì thế giới học vấn bậc cao mới biết Thorstein Veblen là ai.
Ngay cả ở Chicago, với tư cách là một nhà kinh tế học trẻ tuổi tài năng, ông vẫn sống theo kiểudânlậpđịa. (Những người nôngdânthunglũng thì luôn khinh miệt lối sống của những kẻ ngoại bang.) Ông xếp sách của mình trong những chiếc hòm gỗ đóng hàng đặt nằm ngang dọc theo các bức tường. Thứ xa xỉ duy nhất của ông là những điếu thuốc lá Nga ông hút và chiếc thắt lưng vải màu đỏ đôi khi ông diện. Ông là một kẻ không biết tángẫu. Khi giảng bài, ông tựa má lên tay và lầm bầm những câu văn xoắn ốc dài dằng dặc, lặp đi lặp lại như những khúc ca cổ sử thi. Ngôn ngữ của ông là một sự pha trộn giữa các thuật ngữ cơ khí, từ ngữ Latinh khoa học, tiếng lóng và Từ điển đồng nghĩa Roget. Các giáo sư khác không tài nào hiểu nổi tại sao đám con gái lại mê mẩn ông ta đến thế.
Đám con gái mê mẩn ông đến mức Ellen Rolfe liên tục bỏ ông mà đi. Ông thực hiện những chuyến du lịch mùa hè ra nước ngoài mà không có vợ. Đã có một vụ bê bối liên quan đến một cô gái trên một con tàu viễn dương.
Miệng tiếng thế gian bàn tán xôn xao (Veblen là một kẻ chẳng bao giờ giải thích, kẻ chẳng bao giờ có thể uốn lưỡi để thốt ra lời đồng ý cần thiết; những người nôngdânthunglũng thì luôn khinh miệt lối sống cùng quan điểm của những kẻ ngoại bang) đến mức vợ ông bỏ đi sống một mình tại khukhaithácgỗ nọ ở Idaho, và hiệu trưởng đã yêu cầu ông từ chức.
Veblen lặn lội đến Idaho để thuyết phục Ellen Rolfe cùng mình tới bang California khi ông thành công kiếm được một công việc với mức lương khá hơn tại Đại học Leland Stanford, nhưng ở Palo Alto, mọi chuyện lại diễn ra y hệt như ở Chicago. Ông khốn đốn vì rắc rối với đàn bà, vì sự bất lực bẩm sinh trong việc nói lời đồng ý, và một xu hướng trái tự nhiên là luôn đứng về phía giaicấpcôngnhân thay vì những kẻ trục lợi nhuận. Người ta lại phàn nàn rằng các khóa học của ông không mang tính xây dựng hay không đủ sức hấp dẫn các khoản tài trợ từ những nguồn tiền lớn, và chẳng giúp ích gì cho sinh viên của ông trong việc kiếm miếng ăn, giành học bổng Phi Beta Kappa, hay hái những quả ngọt từ hệ thống thứ bậc của khu rừng học thuật. Vợ ông bỏ ông hẳn. Ông viết cho một người bạn: “Ông hiệu trưởng không chấp thuận các thỏa thuận gia đình của tôi; và tôi cũng vậy.”
Khi bàn về chuyện đó, ông từng nói: “Người ta phải làm sao nếu như đàn bà tự dọn đồ đến ở cùng họ?”
Ông quay trở lại căn lán nhỏ trong những cánh rừng ở Idaho.
Bạn bè cố gắng kiếm cho ông một vị trí nghiên cứu ở đảo Crete, một ghế giáo sư tại Đại học Bắc Kinh, nhưng luôn luôn là bóng ma Boyg, là thói rập khuôn, là lũ đầy tớ của đám doanh nhân trong tất cả các văn phòng đại học... kẻ hỏi nhiều thì chỉ có chén đắng.
Người bạn Davenport đã kiếm cho ông một vị trí tại Đại học Missouri. Tại Columbia, ông sống như kẻ ẩn dật dưới tầng hầm ngôi nhà của gia đình Davenport, phụ giúp công việc quanh nhà, tự tay đóng cho mình một chiếc bàn cùng ghế. Lúc này ông đã là một ông già cay nghiệt với khuôn mặt xám xịt chằng chịt một mạng lưới những nếp nhăn nhỏ, một chòm râu dê kiểu Vandyke và hàm răng ố vàng. Rất ít sinh viên có thể theo kịp các bài giảng của ông. Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên ngạc nhiên và có phần tủi hổ khi thấy mỗi bận có khách từ châu Âu đến thăm, người họ muốn gặp luôn luôn là Veblen.
Đây là những năm tháng ông thực hiện phần lớn các công trình viết lách của mình, thử nghiệm các ý tưởng của bản thân trên sinh viên, viết một cách chậm rãi vào ban đêm bằng mực màu tím chảy ra từ một cây bút do chính ông thiết kế. Mỗi khi xuất bản một cuốn sách, ông đều phải bỏ tiền ra để bảo lãnh với các nhà xuất bản. Trong các tác phẩm Lý thuyết Doanh nghiệp Kinh doanh, Bản năng Tay nghề, Quyền Được đảm bảo và Người bình dân, ông đã thiết lập sơ đồ mới về một xã hội bị thống trị bởi tư bản độc quyền,
khắc họa bằng một giọng mỉa mai sâu cay
sự phá hoại sản xuất của giới kinh doanh, sự phá hoại cuộc sống bởi nhu cầu mù quáng đối với lợi nhuận tiền bạc,
chỉ ra các giải pháp thay thế: một xã hội hiếu chiến bị bóp nghẹt bởi bộ máy quan liêu của các tập đoàn độc quyền – những kẻ bị buộc bởi quy luật lợi nhuận giảm dần phải ngày càng đè nén người bình dân để kiếm lời,
hoặc một xã hội thựctế, hợplẽ, được dẫn dắt bởi nhu cầu của những người đàn ông và đàn bà trực tiếp lao động, cùng những tiềm năng bao la đến khó tin cho hòa bình và sự thịnh vượng mà tiến trình phát triển của công nghệ mang lại.
Đấy là năm tháng của những bài diễn văn từ Debs, từ các công đoàn lao động đang lớn mạnh, từ những cuộc thảo luận của tổ chức I.W.W. về nền dân chủ công nghiệp: những năm tháng này Veblen vẫn bám giữ lấy niềm hy vọng rằng giai cấp công nhân sẽ tiếp quản cỗ máy sản xuất trước khi chủ nghĩa độc quyền kịp đẩy các quốc gia phương Tây rơi xuống vùng tăm tối một lần nữa.
Chiến tranh cắt ngang qua tất cả: dưới lớp vỏ bọc những dải biểu ngữ trích Woodrow Wilson, các tập đoàn độc quyền thẳng tay đàn áp. Nền dân chủ Mỹ bị đè bẹp.
Ít nhất, cuộc chiến đã mang lại cho Veblen một cơ hội để thoát ra khỏi cái nhà kính ngột ngạt của đời sống học thuật. Ông được giao một công việc tại Cục Quản lý Thực phẩm, ông gửi cho Bộ Hải quân một thiết bị bắt tàu ngầm bằng cách kéo theo những đoạn dây thép buộc kiên cố. (Trong khi đó, chính phủ nhận thấy các cuốn sách của ông có phần gây hoang mang. Bưu điện thì cấm gửi qua đường bưu điện cuốn Đức Quốc xã và Cách mạng Công nghiệp, trong khi các cơ quan tuyên truyền lại tung nó ra để khiến người ta căm ghét lũ Đức. Các nhà giáo dục thì kịch liệt lên án cuốn Bản chất của Hòa bình, trong khi các chuyên gia ở Washington lại cắt xén các cụm từ trong đó để thêm vào bức màn khói kiểu Wilson.)
Ở Cục Quản lý Thực phẩm, Thorstein Veblen đã viết hai bản báo cáo: trong một bản, ông ủng hộ việc chấp thuận các yêu sách của tổ chức I.W.W. như một biện pháp thời chiến và hòa giải với giai cấp công nhân thay vì đánh đập và bỏ tù tất cả những nhà lãnh đạo lương thiện; trong bản báo cáo còn lại, ông chỉ ra rằng Cục Quản lý Thực phẩm là một trò trục lợi của giới doanh nhân và không hề hướng tới tổ chức hiệu quả nhất cho đất nước như một cỗ máy sản xuất. Ông đề xuất rằng, vì lợi ích của việc tiến hành chiến tranh một cách hiệu quả, chính phủ nên bước vào vị trí trung gian và cung cấp trực tiếp các nhu yếu phẩm cho nông dân để đổi lấy nguyên liệu thô;
nhưng việc gạt bỏ chuyện kinh doanh hoàn toàn không nằm trong ý tưởng của Cục Quản lý về việc làm cho thế giới an toàn hơn cho nền dân chủ,
vì vậy Veblen đã phải từ chức khỏi Cục Quản lý Thực phẩm.
Ông đã ký vào các văn bản phản đối phiên tòa xét xử một trăm lẻ một thành viên I.W.W. ở Chicago.
Sau đình chiến, ông đến New York. Bất chấp tất cả những sự áp bức của những năm tháng chiến tranh, bầu không khí đang dần trở nên tươi mới hơn. Tại nước Nga, cơn bão lớn của cuộc nổi dậy đã bùng phát, dường như đang quét về phía Tây, trong những làn gió mạnh thổi đến từ thế giới mới ở phương Đông, đám đông người sũng máu chiến tranh đã bắt đầu nhìn thấy lại ánh sáng. Tại Versailles, các nước đồng minh lẫn phe thù địch, đám tài phiệt, các tướng lĩnh, lũ chính trị gia đầy tớ đang sập mạnh các cánh cửa chớp để chống lại cơn bão, chống lại cái mới, chống lại hy vọng. Trong một giây, dưới ánh chớp ầm vang, bản chất của chiến tranh là gì, bản chất của hòa bình là gì, bỗng nhiên hiện rõ mồn một.
Ở Mỹ và châu Âu, đám già cỗi đã thắng. Đám làm ngân hàng trong văn phòng của chúng hít một hơi thật sâu, những mụ già nạmđầykimcương của giai cấp nhàn rỗi quay trở lại với việc cắt các cuống phiếu giảm giá trong sự yên tĩnh thanh lịch nơi những căn hầm gửitiềnantoàn của họ,
những luồng khí ô-zôn cuối cùng của cuộc nổi dậy đã trở nên ôi thiu
trong tiếng thì thầm của những cuộc tranh luận tại các quán rượu lậu.
Veblen viết cho tờ Dial,
giảng dạy tại Trường Nghiên cứu Xã hội Mới.
Ông vẫn ôm giữ một niềm hy vọng rằng các kỹ sư, các kỹ thuật viên, những kẻ khôngmưucầulợinhuận – những người mà tay đang đặt trên bảng điều khiển – có thể tiếp quản cuộc chiến ở nơi mà giai cấp công nhân đã thất bại. Ông đã giúp thành lập Liên minh Kỹ thuật. Niềm hy vọng cuối cùng của ông là cuộc tổng bãi công ở Anh.
Liệu không có một nhóm người nào đủ táo bạo để đứng ra chịu trách nhiệm quản lý cỗ máy tuyệt diệu này trước khi lũ đầu cơ mắt lợn và đám tay sai chỉ biết dạ vâng tại các bàn làm việc ở văn phòng phá hủy nó một cách vô phương cứu chữa
và cùng với nó niềm hy vọng của bốn trăm năm sao ?
Chẳng một ai đến nghe các bài giảng của Veblen tại Trường Mới nữa. Với mỗi bài báo ông viết trên Dial, lượng phát hành lại giảm.
Sự bình thường trở lại của Harding, kỷ nguyên mới đang bắt đầu;
ngay cả Veblen cũng kiếm được một món hời nhỏ trên thị trường chứng khoán.
Ông đã là một ông già và cô độc.
Người vợ thứ hai của ông đã phải vào viện dưỡng bệnh vì chứng hoang tưởng bị ngược đãi.
Dường không có chỗ đứng cho một kẻ không chịu khuất phục trước bất cứ vị chủ nhân nào.
Veblen quay trở lại Palo Alto
sống trong căn lán nhỏ của mình trên những ngọn đồi màu sạm nắng và quan sát từ bên ngoài những thôi thúc vơ vét cuối cùng của hệ thống lợi nhuận đang khoác lên mình, như cách ông diễn đạt, những ảo tưởng có hệ thống của căn bệnh tâm thần phân liệt sớm.
Tại đó, ông đã hoàn thành bản dịch Laxdaelasaga.
Ông đã là già. Ông vô cùng cô độc. Ông để lũ chuột rừng muốn lấy gì thì lấy từ tủ chạn thức ăn của mình. Một con chồn hôi lảng vảng quanh căn lán thuần thục đến mức nó thường cọ vào chân Veblen như một con mèo.
Ông kể với một người bạn rằng thỉnh thoảng, trong không gian tĩnh mịch xung quanh, ông nghe thấy tiếng nói thời thơ ấu của mình bằng tiếng Na Uy, rõ mồn một như khi còn ở trang trại tại Minnesota nơi ông lớn lên. Bạn bè nhận thấy ông càng lúc càng khó trò chuyện, càng lúc càng khó để khơi gợi hứng thú với bất cứ điều gì. Ông đang lịm dần. Những ngụm cuối cùng từ chén đắng.
Ông chết ngày 3 tháng Tám năm 1929.
Trong số các giấy tờ của ông, họ tìm thấy một mảnh giấy viết tay bằng bút chì:
Tôi cũng mong muốn, trong trường hợp qua đời, được hỏa táng nếu việc đó có thể thực hiện một cách thuận tiện, nhanh chóng và ít tốn kém nhất có thể, không bất kỳ hình thức nghi lễ hay nghi thức nào; tro cốt của tôi được rải xuống biển hoặc xuống một dòng sông lớn chảy ra biển; không một bia mộ, tấm đá, văn bia, hình tượng, bảng vị, dòng chữ hay đài tưởng niệm thuộc bất kỳ tên gọi hay tính chất nào được dựng lên để tưởng nhớ hoặc ghi danh tôi ở bất kỳ nơi nào hoặc vào bất kỳ thời điểm nào; không một bài cáo phó, lễ tưởng niệm, chân dung hay tiểu sử nào về tôi, cũng như không một bức thư nào do tôi viết hoặc gửi cho tôi được in ấn hay xuất bản, hoặc được sao chép, nhân bản hay lưu hành dưới bất kỳ hình thức nào;
nhưng đài tưởng niệm ông thì vẫn còn đó
được đóng đinh chặt vào ngôn ngữ:
lăng kính sắc lẹm trong suốt của trí óc của ông.
Bùi Gia Bin dịch
