George Steiner đọc E.M. Forster
Dưới bóng rừng xanh
- George Steiner
Không gì dễ hơn là lên giọng chiếu cố với cuốn tiểu thuyết di cảo Maurice của E. M. Forster. Chấp bút vào năm 1913, hoàn thành ngay sau một năm và, như người ta suy được, đã không động đến một lần từ lúc đó, cuốn sách đã cũ. “Không chỉ”, như Forster thấy trong một câu duyên dáng ở phần bạt, “bởi trăm nghìn điều lỗi thời - những khoản tiền bo nửa sovereign, những bản thu pianola, áo norfolk, Police Court News, những Hội nghị Hague, Lihs, Rads và Terriers, những bác sĩ mặc đồng phục, những sinh viên khoác tay nhau đi, mà còn vì một lý do cốt tủy hơn cả: nó thuộc về một nước Anh nơi người ta vẫn còn có thể đi lạc. Nó thuộc về những khắc cuối của rừng xanh.” Maurice là một câu chuyện về đồng tính mà, như thiên hạ đồn khắp nơi, Forster không muốn công bố khi một người dì ông yêu quý vẫn còn sống và, còn bất ngờ hơn, đã chọn giữ kín nó với tất cả chỉ trừ vài người bạn thân cận, cùng vài người ngưỡng mộ trẻ tuổi, cho đến lúc ông qua đời, cách nay một năm. Không khỏi tránh, cách hình dung và xử lý chủ đề ấy được rào chắn trước sau cẩn trọng đến buồn cười và cũ. Chưa kể, ở cuối truyện còn có một sự dang dở kỳ khôi, một thứ hạnh phúc gượng ép giả tạo. “Tôi đã quyết rằng trong tiểu thuyết, dù có ra sao, hai người đàn ông phải yêu nhau và phải ở lại trong tình yêu ấy, đến chừng nào tiểu thuyết còn cho phép.” Xét việc chất liệu viết chạm đến chính cuộc đời Morgan Forster, ở phần kín đáo và cốt yếu nhất, thì động cơ kia dễ hiểu. Nhưng ước muốn ấy vẫn tạo ra một thoáng tình cảm ủy mị.
Nhưng trong khi khuyết điểm ở cuốn sách rõ ràng là thế, điều đáng chú ý lại nằm ở nhiều điểm mạnh khác nhau của Maurice cũng như vị trí của nó trong sự nghiệp của Forster. Được viết ngay sau Howards End và trong một đợt sáng tạo tuôn tràn, Maurice nói nhiều điều hiển nhiên có ý nghĩa vô cùng lớn đối với tiểu thuyết gia cùng những điều ông đã loại khỏi các tác phẩm công khai và - theo nghĩa ấy - ít có mặt hơn, ít thành thực hơn mức khả dĩ của mình.
Khung cảnh mở đầu thật xuất sắc. Maurice đang cùng ông thầy trường dự bị đi bộ trên bờ biển. Ông Ducie khai mở mầu nhiệm tình dục cho cậu học trò. Ông vẽ đồ hình trên cát. Maurice đón nhận những đặc tả huyền bí và mơ hồ ấy như đang ngủ mê. Được phóng thích khỏi bài học, ông thầy và cậu bé lại bước tiếp cạnh bờ biển nhợt màu. Một đám người đi dạo đeo theo họ. Ông Ducie chợt nhận ra mình chưa xóa các đồ hình quái gở. Ông quay lại, mồ hôi túa ra sợ. May là thủy triều đang dâng và nước sẽ cuốn ngay chỗ sự thật nguy hiểm ấy. Maurice cảm được một nỗi phẫn uất mơ hồ: “‘Nói dối,’ cậu nghĩ. ‘Đồ nói dối, đồ hèn, ổng chẳng dạy cho mình một điều gì.’” Đến đây, xen nhỏ ấy vẫn mang âm hưởng của một bậc thầy. Rồi một nốt lệch cất lên, một thứ tu từ của thời ấy, âm vang của Victoria mạt kỳ: “Sự tối lại cuộn đến, sự tối nguyên thủy nhưng không đời đời, và sẽ nhượng bước trước chính bình minh chói gắt của nó.”
Ta theo Maurice qua đời sống gia đình - một bà mẹ góa, hai cô em gái, những ngọn cải cũ trong một villa ngoại thành London - rồi qua trường học. Bài giảng Tiến sĩ Barry dành cho cậu, rằng phàm người nam nào “sinh bởi người nữ thì giao hợp với người nữ” không đem lại kết quả gì. Nhưng rồi liền đến Cambridge, với những phiến đá xám se nắng thành sợi và tiếng nhạc chậm từ dòng sống. Những chương đại học chính là trái tim của cuốn sách. Chúng cho thấy nỗi ung dung nôn nao, sức nén của hồi ký. Durham là một chàng nhỏ con với thói cách giản dị cùng một khuôn mặt khôi ngô. Chàng chơi bản hành khúc “Pathétique” trên chiếc pianola, thú nhận mình là người theo thuyết bất khả tri, và đã đọc Symposium của Plato. Khi chàng bảo Maurice rằng chàng yêu cậu, mắt chàng bỗng xanh thăm thẳm. Thoạt tiên, Maurice chùn lại. Forster mô phỏng chính xác giọng điệu của thứ Ki-tô giáo căng gồng: “Durham, chàng là người Anh đấy. Em cũng vậy... cái ý gì mà thối thế.” Nhưng rồi nỗi thống khỗ liền trỗi lên. Khắc khải ngộ kết tinh toàn bộ sự cũ của cuốn tiểu thuyết, đồng thời là cả sự thành thực của nó:
Rồi man dại, bất cần, sũng nước mưa, cậu thấy trong ánh lóe đầu của bình mình là cửa sổ phòng Durham, và tim cậu bừng sống rồi rung cậu đến vỡ nát. Nó kêu “Ngươi yêu và ngươi được yêu.” Cậu nhìn quanh sân trường. Nó lại kêu “Ngươi mạnh, còn chàng ta yếu và đơn độc,” mà thắng vượt ý chí cậu. Thất kinh trước điều mình phải làm, cậu chộp lấy thanh song đứng khung cửa sổ rồi bật lên đu.
“Maurice...”
Tên cậu được gọi ra từ trong mơ khi cậu đáp xuống. Bạo lực đã rút khỏi tim cậu, và một sự trong sạch cậu chưa bao giờ dám tưởng đến ngụ vào. Người bạn đã gọi cậu. Cậu đứng sững trong khắc mê đắm, rồi cảm xúc mới ấy tìm được lời cho cậu, và đặt bàn tay thật nhẹ lên đám gối, cậu đáp “Clive!”
Phanh xẻ, phô ra để chế giễu và chán ngán cái giọng cao vút ồ ạt của Forster thì mới thật dễ biết mấy. Nền văn chương kinh tế thời chúng ta đây là của Hemingway. Chúng sinh ra từ sự nói giảm và kèm theo một cú đấm thể lý. Những trừu-tượng1 của Forster vừa có sức lấn át vừa rỗng. Đằng sau chúng là một hệ chuẩn mực lễ giáo truyền đời cùng một tâm lý học phẳng bởi sự dè dặt. Tim ta đã không còn hùng hồn trong tiếng hô cách nữa; nếu ta có chộp lấy thanh chấn song rồi bật người lên, ấy là để lục hồ sơ của trưởng khoa hay tìm tập tài liệu cáo buộc do F.B.I. lập. Khá nhiều người chúng ta, người ta cho là, vẫn còn được gọi là Clive, nhưng chẳng ai chịu thừa nhận điều đó trên một chiếc gối. Song đoạn trên vẫn chứa một sự thật không chút ngượng ngùng, và bàn tay của một bậc thầy cũng hiện rõ biết bao qua cú pháp cô đọng, mờ mây trong cụm “cảm xúc mới ấy tìm được lời cho cậu”.
Maurice thăm Durham tại Penge, một điền sản xập xệ ở ngoài biên Somerset. Cả ngôi nhà lẫn khu đất đều mang dấu của không phải sự mục nát mà của trạng thái bất-động đi trước nó. “Ngày nay chẳng còn rừng hay vùng đồi nào để trốn,” Forster than hồi 1960, “không còn động nào để cuộn mình vào, chẳng còn lũng hoang cho những kẻ không muốn cải cách, cũng không muốn phá hoại xã hội nhưng chỉ muốn được để yên.” Những sự biến ở Penge tạo thành một khúc đồng ca định mệnh. Sự bại hoại cá nhân đã phủ bóng lên trảng cỏ, còn cơn điên lớn hơn là thế chiến đã kề. Chương mười tám cực ngắn, về mặt cấu trúc, là trung tâm của Maurice và là một thảm họa về mặt phong cách. Cơn xuất thần “đào ra các dòng chảy”. Maurice “tạo ra” mối tình, và Clive “bảo hộ” nó, khiến “dòng nước tưới mát khu vườn”. Hai người tình bước trên một “con đường hẹp và đẹp”, chưng cất “tôn tính và ngọt ngào của thế gian đến kiệt cùng”. Họ qua những năm cuối ở Cambridge và sang Ý. Rồi “khám” đời sống trưởng thành khép lại quanh họ. Đem ra khám cùng nhau, Love Story2 bỗng trở nên một áng văn xuôi cẩm thạch. Trông như Forster đã chịu một áp lực cực độ ở đây, cứ như ông đã không chọn “viết cho hay” về một ký ức cốt yếu đến thế. Vị ngọt ngây ông tạo ra gần như phá đi tính khả tín. Có lẽ đó là một mật mã riêng, nhằm ngăn bước những kẻ ngoài vòng. Nhưng cớ sao ông lại phanh thây những trang như thế, sao ông không sửa những điểm yếu lồ lộ ấy suốt những năm dài giấu bản thảo và thậm chí là lâu lâu còn đọc cho vòng bạn bè mình ở Cambridge? Đó sẽ nên một câu hỏi thường trực khi người ta đọc Maurice.
Trong một chuyến đi sang Hy Lạp - địa điểm này là một nghịch đảo mỉa mai mẫu biểu tượng, bởi theo quy ước thông thường trong tiểu thuyết thì Hy Lạp phải là nơi của kinh nghiệm đồng tính nam - Clive Durham “trở nên bình thường”. “Này đây tình yêu dành cho người nữ sẽ trỗi dậy như mặt trời, đốt cháy sự thiếu trưởng thành và mở lối cho một ngày trọn vẹn của con người.” Lần nữa, đây chính là kiểu câu khiến người ta khó biết phải đặt vào đâu cho nghiêm túc. Ở một mức độ, đấy là đánh trống thổi kèn. Nhưng hãy biến cách nó xem, hãy tưởng tượng một ngữ cảnh dữ dội hơn xem, và lối diễn đạt trên sẽ khoác lên ngay một nhịp nào đó dồn dập như búa nện của chính D. H. Lawrence đang được mộ ngợi nơi nơi.
Tồn tại của Maurice hóa thành tro. Cậu làm việc ở City, gia nhập lực lượng Territotial, và bỏ những buổi golf thứ Bảy để chơi bóng đá với đám thanh niên trường College Settlement, Nam London. Nhưng những cơn đột kích của nhục dục khiến cậu kinh hãi và ghê sợ. Cậu cầu đến y khoa, chỉ để được bảo rằng phải trục xuất vĩnh viễn các ảo giác và cám dỗ xấu xa do tay Quỷ. Xen tham vấn này là một trong những xen sơ sài nhất, cay đắng nhất trong toàn thể Forster. Maurice được mời đến Penge, nơi nay Clive đã một người có vợ, chơi cricket với dân làng và tìm đường tranh cử để vào Quốc hội. Có một người gác rừng, Alec Scudder, một gã bộ dạng thô lỗ, lả lả lơi lơi đang có chiều muốn di cư sang Argentina. Mặc cho trời lạnh, đêm ấy hương nồng khắp nơi. Đám thợ sửa ngói để lại chiếc thang dựa vào bậu cửa sổ. Maurice nghe thấy một tiếng thân tình đến độ tưởng như nó phát ra từ chính bên trong thân xác anh. Đầu thang rung lên trong bầu không sáng trăng. Đầu và vai của một người đàn ông dần trỗi lên, một khẩu súng được dựng tựa vào cửa sổ cẩn thận, “rồi một ai đó cậu không biết rõ tiến tới chỗ cậu và quỳ xuống bên cậu và thủ thỉ, ‘Thưa ngài, phải ngài gọi em tới không?... Thưa ngài, em biết… em biết mà,’ rồi chạm vào cậu.”
Xen này được viết vào quãng 1913-14, nhưng Forster đã xem lại vào 1960 và biết rằng nó sẽ phải được công bố muộn hơn. Vậy, nhân danh Lady Chatterly, cớ gì phải giữ lại gã gác rừng3? Bộ một gã làm vườn thì không được sao? Tôi thấy rằng nếu tìm được một lời giải thích đích đáng cho câu hỏi khó tránh này thì, phần lớn cuốn tiểu thuyết, hay đúng hơn, thái độ Forster dành cho nó, sẽ tự nhiên khớp vào đúng chỗ. Không màng danh tiếng đối thủ chăng? Một cái chạm từ đời tư thật chính xác và thật tinh quý đến mức không thể lược bỏ chăng? Hay nghề của Scudder là một vố mèo vờn chuột (không phải chuyện gì lạ với những năm cuối của Forster), một cái nháy mắt với vị độc giả am tường chăng, rằng tư thế dị tính của Lawrence có chỗ đáng ngờ? Sao đi nữa, ai cũng sẽ giật mình trước viễn cảnh có những luận văn về “vai đêm của người gác rừng trong tiểu thuyết thế kỷ 20”. Trong tiểu thuyết Pháp, khuôn mặt xuất hiện bên cửa sổ là của kẻ săn trộm. Và người ta dễ sẽ nói rằng “hai bờ cách một đường tơ”.
Những chương kết của Maurice là những chương gọn hơn cả. Sau một nỗ lực khôi hài yếu nhợt nhằm “chữa mình” bằng thôi miên, Maurice về với vòng tay Alec. Alec dọa tống tiền. Chủ và tớ gặp nhau tại Bảo tàng Anh. Đó là một cuộc tay đôi giữa hai thế giới, của hai hệ thống ngôn ngữ và tri nhận, được kể với một sự tinh nhạy sắc bén sẽ dẫn thẳng đến A Passage to India. Đôi tình nhân bước giữa những tượng anh hùng “hoàn thiện nhưng không có máu”. Từng người lần lượt chuyển từ ân cần sang hung bạo. Lưỡi dao đẳng cấp cắt ngang họ. Lời dọa tống tiền của Alec chỉ là bịp; cảnh sát lúc nào cũng sẽ đứng về phía quý ông mà chống lại đầy tớ. Nhưng mặc cho lòng tham nông cạn, người gác rừng vẫn biết rõ sự bình đẳng vô chính phủ của tình yêu hơn ông chủ bầu mình. Rào cản tầng lớp và nỗi sợ đổ sụp; họ cùng nhau bước ra dưới mưa và tìm một khách sạn qua đêm. Trong một xen kết, Maurice đối diện Clive Durham với một lời tuyên bố bình thản rằng mình đang yêu Scudder, rằng họ đang định sống đời với nhau. Từ nay không còn chút nhập nhoạng nào được nữa, không còn sự thỏa hiệp nào với thế gian. Thực Maurice đã biến mất khỏi gian phòng: “Đến cuối đời mình Clive vẫn không chắc về khắc ra đi, và khi tuổi già đến ông lại càng không rõ rằng liệu cái khắc đã thực diễn ra hay chưa.” Hết những gì còn lại à một nhúm nhỏ cánh anh thảo đêm, “khóc than từ dưới đất như một ngọn lửa tàn”. Phần kết, E. M. Forster nói, là dành cho Tolstoy. Hoặc cho các nhà phê bình.
Kẻ vô luân của Gide xuất hiện vào 1902. Đến khi Forster bắt tay vào Maurice, Gide đang chuẩn bị, dù chỉ để lưu hành nội bộ, apologia hãm chế nhưng không hề nao núng của mình về ái đồng nam trong Corydon. Proust thì đang say mê với cuộc giải phẫu xã hội và tâm lý trong Sodom và Gomorrah. Tình thế ở Anh khi ấy, hiển nhiên, chông gai hơn. Như ta biết qua cuộc đời A. E. Housman, vốn giống lạ lùng với cuộc đời cậu nhân vật chính của Forster ở một số điểm, tai tiếng của Oscar Wilde đã nên một cơn chấn động cho cảm năng Anh. Dục vọng đồng giới phải được nhẹm kín, dưới nguy cơ bị tẩy chay. Tuy vậy, sự nhập nhằng của Forster, đặc biệt trong một bản văn không định công bố, vẫn là điều khó hiểu và, rốt cuộc, gây nguy hại. Ngay khắc hai người nhận nhau, khi Maurice và Alec đi tìm khách sạn để qua đêm, tông của Maurice vẫn là “trìu mến nhưng buồn bã”. Nỗi buồn ấy phủ mờ toàn bộ cuốn tiểu thuyết. Forster cho ta biết rằng Maurice bắt nguồn từ một chuyến thăm Edward Carpenter ở “Điện Uranus” của ông tại Millthorpe, gần Sheffield. (Lạ thay, phần hậu ký của Forster vào 1960 lại viết sai thành “Milthorpe.”) Nay gần như không ai biết nhưng Carpenter khi ấy là một guru có ảnh hưởng, và ông tạo ra một liên kết kỳ quặc giữa Forster với D. H. Lawrence. Carpenter thấy trong quan niệm tình yêu giữa hai người đồng chí của Whitman là lý tưởng eros tối thượng, sự trưởng thành đích thực và dân chủ về tình yêu. Song, ngoài bị tô vẽ bởi các lý thuyết màu mè, ngớ ngẩn về lực sao, tín điều tình dục của Carpenter, thực chất, lại né tránh vấn đề. Rằng đồng tính, tự thể, chỉ là một giai đoạn trên đường tiến tới “thể trung gian” hoàn thiện. Con cái Uranus sẽ có một
Hồn nữ ở trong hình nam…
Dịu thay, duyên thay, trang nghiêm thay, toàn vẹn thay,
Này sức nam mà hành động, thêm lòng kiêu mà chịu đựng chẳng thở than
Lại thêm nữ tính cảm nhạy đến từng tơ hào trong bản thể.
Như vậy, trong khi Maurice nhìn thấu và khích động trước những tương quan tầng lớp - “Clive trên ghế bành sẽ tiếp tục kết án Alec trong bến thuyền. Maurice thì có thể thoát đi” - nó lại trình bày chủ đề tình dục trung tâm với ánh nhá nhem. Cứ như Morgan Forster sống trong một mức độ tự kết án nào đó, hay, đúng hơn, như thể ông không tài nào giũ sạch những bí mật, mùi nhục nhã mà một xã hội đầy thù ghét, ưa dáng đứng đắn đã tìm đường gieo vào ông. Khi nói về sự “chữa khỏi” ở Clive Durham, về sự “bình thường” của chàng, ông nói mà chẳng mỉa mai và trong một sự thất bại đau đớn.
Pathos phòng vệ ấy thiểu hóa cuốn sách. Maurice chẳng ở đâu gần chỗ hay nhất của Forster. Nhưng bởi Forster là một nhà văn quan trọng với một œuvre nhất quán, cuốn tiểu thuyết di cảo này buộc ta phải nghĩ lại thành tựu của ông như một toàn thể. Nó đặc biệt soi sáng thiên tài của A Passage to India. Giờ đây, sự có vẻ như là, việc chọn chủ đề và cách xử lý trong kiệt tác của Forster là một thể động thăng hoa, một “lần thử thứ hai” với những sự-phạm cùng những nội quan ông đã phải luôn kiềm tỏa trong hình thức nguyên bản của chúng. Mười bốn năm trôi qua giữa Howard’s End với người kế nhiệm vĩ đại của mình. Gan sáng tạo của vị tiểu thuyết gia có thể đã bị ức chế bởi sự nhập nhằng ở Maurice cùng sự thật theo đó cuốn sách phải được để khuất. Nhưng rõ là ý thức ông đã tìm đủ đường để mà tưởng tượng cho công khai, để mà nói giữa ban ngày những mối bận tâm quan yếu với lòng tự trọng của ông, với cảm tri khắc khoải về sự công bằng giữa con người.
Hãy nhìn đến những thế vật tài tình. Bằng cách dịch địa điểm sang Ấn Độ và sang những phân biệt giữa người raj với người thổ, Forster giờ đã có thể chơi trọn gam phản kháng ông dành cho thói hợm hĩnh, cho sự ác nghiệt nông cạn của địa vị cùng đặc quyền truyền thừa đã suýt hủy diệt tình yêu giữa Maurice với Alec. Trước Cánh Tả Mới nửa thế kỷ, E. M. Forster đã nhìn thấy rằng sự lệch tâm dục tính cũng có thể bị cô lập bằng các biệt ngữ về chủng tộc hoặc đẳng cấp. Những lần chạm mặt giữa người da trắng với người thổ, giữa những kẻ cai trị lỏng xích với những người Ấn “cấp tiến” trong A Passage to India đều là một sự phóng chiếu xuất sắc những cuộc đối đầu giữa xã hội với người đồng tính trong Maurice. Vi tế hơn cả là cách Forster giải quyết vấn đề “hiện thể hóa”. Trong Maurice, cái nút cơ bản ấy đã thắt chết ông. Không như Gide hay Lawrence, ông không tìm được một cách thể hiện trong xác thịt nào tương ứng với quan niệm về tình dục của mình. Cử động dần lùi vào một màn sương ngọt ngấy. Sự xâm phạm bí ẩn trong động Marabar là một lời giải hoàn hảo. Dẫu, như phần còn lại của cuốn tiểu thuyết sẽ cho thấy, “chẳng có gì xảy ra” trong nơi quái gở và vang vọng ấy, sức gợi dục của nó vẫn không khoan nhượng. Như chỉ một nhà văn đích thực mới có thể, Forster đã tìm được đường dẫn đến một thể động biểu tượng đắt hơn, chính xác hơn bất kỳ một biến cố cụ thể đơn nhất nào. Sự phi-biến-cố trên dãy đồi Marabar bao gồm cả những giá trị mà giờ ta có thể tự tin nhận ra là vừa dị tính vừa đồng tính. Cả hai đều là những phương diện nhất thời và - có lẽ - ngẫu hợp, của sự hiệp nhất vô biên nơi tình yêu. Cuối cùng, ta có thể phỏng đoán rằng chính cái kết vui của Maurice, lời tuyên bố kín đáo về mối hoàn hợp được đến giữa hai con người khác đẳng cấp, đã giúp Forster khép lại A Passage to India bằng một nốt bấp bênh, mỉa mai.
Đồng thời, sẽ thật dớ dẩn nểu phủ nhận điều này, rằng vị trí trung tâm của Maurice trong đời tư và sự nghiệp của Forster (A Passage to India là tiểu thuyết cuối và là cuốn sách cuối thực sự có tầm vóc của ông) sẽ thu hẹp hoặc biệt hóa tổng thể thành tựu của ông. Dưới ánh sáng đồng tính được tinh thần hóa mãnh liệt song đầy bất an và đôi phần cay đắng, một lượng danh ngôn nổi tiếng của Forster - thà phản bội đất nước còn hơn phản bội một người bạn chỉ “sơ giao” - mang một sắc thái hẹp hơn, thé hơn. Hai tiếng hoan hô cho Dân chủ của ông và một đời bảo vệ quyền tự quyết trong đời sống của ông chẳng mất đi chút vẻ đẹp nhân bản nào, nhưng rày về sau ta không thể không ý thức về nỗi đau cá nhân đã làm nguồn cho hết thảy chúng. Hẳn nhiên, “Maurice” sẽ củng cố cảm tưởng cho rằng E. M. Forster là một bậc thầy thứ viết ra một tiểu thuyết trưởng, và rằng tài năng ông ít tiêu biểu cho văn chương Anh hiện đại hơn mức một số nhà phê bình từng lập luận. Sự thật thể lý, năng lực triết lý trong cách John Cowper Powys xử lý dục vọng “bình thường” và đồng tính tạo nên một tương phản làm hé lộ nhiều điều.
Nhưng chẳng phải những điểm yếu trong Maurice mang nỗi buồn đến. Ấy phải là sự thật này: sẽ chẳng bao giờ còn một kỳ sách mùa thu nào có một cuốn tiểu thuyết mới của vị Fellow quá cố và lỗi lạc nhất từ trường King’s College, Cambridge nữa.
Đăng trên The New Yorker, ngày 9 tháng Mười, 1971
Gia Hải dịch
1 Nguyên văn: ab-stractions. Ab-straction nguyên nghĩa là rút, kéo đi khỏi. Trừu cũng thế, nhưng có thêm tượng là hình dạng, dáng mạo, tức là rút cái hình, cái dáng, đi, để lại cái ở trong.
2 Của Erich Segal, xuất bản năm 1970.
3 Người tình của Phu nhân Chatterley cũng là một người gác rừng. Cuốn tiểu thuyết xuất hiện một phần vào năm 1928 và sau đó phải tới 1960 mới được công bố đầy đủ. Nhân đây, để rõ hơn, người gác rừng trong tiếng Anh là “gamekeeper”.
