favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Xuân 2026
Next

Blanchot về Musil

21/05/2026 21:22

Tiểu luận của Blanchot về văn chương Musil được lấy từ phần “On an Art without Future” trong The Book to Come (Le livre à vernir), bản dịch tiếng Anh Charlotte Mandell.

Trong phần một, Blanchot tập trung bình luận tác phẩm Der Mann ohne Eigenschaften (Người không Phẩm Chất - tên do FORMApubli tự dịch) và từ đó có thể lý giải tại sao nó được đón nhận và bản thân Musil được ca ngợi như một Proust, một Joyce sau sự ra đời của cuốn sách. Tác phẩm Người không Phẩm Chất là một tiểu thuyết đồ sộ gồm ba phần chính, tuy nhiên Musil đã mất trước khi hoàn thành công trình lớn nhất đời mình. Ấn bản được xuất bản bao gồm một phần lớn các bản nháp, ghi chú, các đoạn viết thử nghiệm khi Musil đang cố gắng tìm một cái kết đúng cho tác phẩm của mình.  

Nhân vật chính của truyện là Ulrich, một nhà toán học đang tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời và thực tại, đang ở bờ vực của thất bại trong công cuộc truy tìm ấy.
 

Phần 1: Dục vọng của sự thờ ơ

Tôi e rằng tác phẩm lớn của Robert Musil, trở nên dễ tiếp cận với độc giả Pháp bằng những nỗ lực của một dịch giả can đảm, sẽ được khen ngợi mù quáng. Tôi cũng e sợ điều ngược lại: rằng nó sẽ bị bình luận nhiều hơn là được đọc, bởi nó cung cấp cho giới phê bình, từ mục đích độc lạ, các phẩm chất mâu thuẫn, những khó khăn từ thành tựu, sự sâu sắc trong thất bại của nó, tất tật đều hấp dẫn họ; quá dễ dàng để nhận định rằng có vẻ nó thường được bình luận chứ không được viết về, như thể có khả năng được phân tích thay vì được đọc. Với biết bao vấn đề tuyệt vời, nan giải, vô tận, nỗ lực ấy thật khiến chúng ta thích thú. Và nó sẽ khiến chúng ta thật say mê, bằng chính các khiếm khuyết hạng nhất cũng như những tinh luyện trong phẩm chất của nó, bằng sự quá độ và, trong những quá độ ấy lại có sự tiết chế; cuối cùng, bằng sự thất bại hùng vĩ của nó. Đây chính là một tác phẩm khác đồ sộ, dang dở, và bất thành. Đây cũng chính là điều bất ngờ của một tượng đài đáng ngưỡng mộ ngay cả khi suy tàn.

Có thể sẽ dễ chịu với chúng ta khi thấy một tác giả bị hiểu sai và một “kiệt tác” không được biết đến bỗng bước ra khỏi sự vô danh, nhưng cùng lúc nhận ra như thể họ được để dành. Thời của chúng ta, biết mọi thứ và biết ngay lập tức, yêu những bất công mà chính nó phải sửa lại và các cuộc khám phá lại được rầm rộ mở ra sau khi bị bỏ quên với vẻ thờ ơ, bất chấp lời khuyên của một vài kẻ sáng suốt. Như thể, trong tri thức phổ quát, thế hệ chúng ta hạnh phúc vì không phải biết mọi thứ, và có thể bảo tồn các công trình lớn, vô hình mà chỉ một cơ hội may mắn nào đó mới khiến họ nhận ra. Niềm tin vào những tuyệt tác vô danh được đồng hành cùng một sự tin tưởng bất thường vào hậu thế. Chúng ta tiếp tục tin bằng cái lực của một định kiến bất bại rằng những gì hiện tại khước từ, tương lai tất sẽ chào đón, chỉ ở mức ít ỏi mà nghệ thuật muốn. Và hầu như không có người nghệ sĩ nào, ngay cả khi chẳng màng đến thiên đường, lại không chết với sự chắc chắn và hạnh phúc rằng có thiên đường nào đó mà tương lai ắt sẽ bù đắp cho cái bóng tội nghiệp của anh ấy.

            Nếu chúng ta xem là bất thường, khi một nhà văn biến mất, bị lãng quên và mãn nguyện với điều đó - dù sự biến mất ấy có khả năng mang ý nghĩa thuyết phục - thì với chúng ta Robert Musil có vẻ khá thông thường. Số phận không may không khiến ông thích thú, và ông không tìm kiếm nó. Ông thường đánh giá các tác giả lớn cùng thời, những người ông cho là ngang tài nhưng không tương đồng ở danh tiếng, bằng một sự hà khắc gần như hung hăng. Dẫu vậy, ông không hẳn là kẻ vô danh. Bản thân ông từng nói rằng danh tiếng của mình như một nhà thơ lớn chỉ xuất bản có hạn: ông thiếu chỉ là lực lượng và vị thế xã hội; ông cũng nói rằng cái biết của mọi người về ông ngang với không biết gì, “biết như không biết, không có nghĩa là biết một nửa, mà tạo ra một thứ hỗn hợp quái gở.” Trước tiên, là tác giả của một tiểu thuyết xuất sắc mang lại hai giải thưởng và chút danh tiếng, ông đắm mình một cách có phương pháp vào một công trình quá mức đồ sộ, khiến ông khổ công suốt bốn mươi năm, gần như toàn bộ cuộc đời sáng tạo của ông, một công trình mà với ông là tương đương với đời mình. Suốt cả cuộc đời, vào năm 1930, ông xuất bản phần đầu của nó, không đem lại cho ông thứ vinh quang của Proust nhưng tạo ra sự ấn tượng của một tác phẩm có tầm quan trọng hàng đầu; không lâu sau đó, năm 1932, ông nhanh chóng cho ra đời tập đầu của phần thứ hai, như để cảnh báo về những biến động mà ông cảm nhận được hiểm hoạ. Sự thành công đã không đến với ông. Điều đã đến là sự rạn nứt với tương lai, sự nghèo, sự suy thoái của thế giới, và cuối cùng là lưu vong. Tất nhiên, ông không phải tác giả ngôn ngữ Đức duy nhất biết được những khó khăn của di cư. Những người khác còn bị đe doạ về mặt thể chất hơn, chịu đựng gian khổ khủng khiếp hơn. Musil sống nghèo khổ ở Geneva, hẳn rất cô lập (nhưng bên cạnh có Marthe Musil, vợ ông), song trong sự cô lập mà ông hiểu và phàn nàn về sau khi tìm thấy: trong ghi chép cá nhân, ông viết vào khoảng năm 1939: “Xung đột từ bên trong với những người bạn và kẻ thù của tôi; khao khát không ở đây cũng chẳng ở kia, nhưng tiếc nuối và than vãn, khi họ khước từ tôi ở đây và ở kia.” Không còn gì để nghi ngờ, suốt mười năm cuối đời - ước tính - ông thay đổi, không chỉ bởi các sự kiện mà còn vì tác phẩm của mình, cái mà bản thân nó cũng thay đổi, trong lúc ông đeo đuổi nó, chậm rãi, đồng thời khó nhọc giữ những đường nét vĩ đại của công trình ban đầu (dù thường xuyên bị chỉnh sửa). Tôi nghĩ không thể bỏ qua cái rắc rối sâu sắc đến với ông từ cuốn sách mà ông không hoàn toàn làm chủ, nó kháng cự ông ấy và chính ông cũng kháng cự, tìm cách áp đặt lên nó một kế hoạch mà có lẽ không phù hợp. Cái chết đường đột mà ông không tiên liệu được, luôn luôn cho mình hai mươi năm nữa, đã đến và khiến ông bất ngờ, vào khoảnh khắc đen tối nhất của cuộc chiến và của công việc sáng tạo của mình. Tám người đi cùng ông trong cuộc lưu vong cuối cùng ấy. Mười năm sau, khi một người bạn tận tuỵ, tiếp tục công việc của Mme Musil, xuất bản ấn bản hoàn chỉnh, ông được đón chào như đồng đẳng của Proust, của Joyce. Năm năm nữa trôi qua, và giờ nó được dịch sang tiếng Pháp. Không phải sự vô danh của ông, mà chính là sự mau mắn và rầm rộ từ danh tiếng của ông ấy đã suýt khiến tôi bất ngờ. Sự mỉa mai sau khi chết mà chúng ta tiếp tục gán cho Musil cũng không thể không âm thầm kinh ngạc trước điều đó.

            Ngay cả khi chúng ta chẳng biết gì về ông ngoại trừ những tiểu thuyết và bài báo được đăng, chúng ta sẽ ngay lập tức bị chiếm lấy, mê hoặc, đôi khi kinh ngạc trước nhân vật phức tạp ấy. Một ca khó, có khả năng phê bình những gì ông ấy yêu và gần gũi với những gì chính ông phủ nhận; trên nhiều phương diện, một người hiện đại, người đón nhận thời đại mới như nó vốn là và tiên liệu rõ ràng nó sẽ ra sao, một con người của tri thức, của khoa học, một đầu óc chính xác, và không thể chủ ý lên án những biến đổi công nghệ đáng kinh ngạc, nhưng đồng thời, một con người của thời đại trước, của nền văn hoá tinh tế, gần như một quý tộc. Nếu ông ấy hoạ một bức chân dung đầy châm biếm của Đế quốc Áo-Hung trước đây mà ông gọi là Kakania (đúng ra phải gọi là Cancanie)[1], chúng ta không nên cho rằng ông ấy cảm thấy xa lạ trước cái thế giới mục ruỗng ấy, một thế giới của nền văn minh lỗi thời vẫn có khả năng cho một cuộc đời sáng tạo mãnh liệt, thử nhớ lại sẽ thấy không chỉ Musil là một Cancanie, mà còn cả Hofmannsthal, Rilke, Freud, Husserl, Trakl, Broch, Schoenberg, Reinhardt, Kafka, và Kassner - chỉ những cái tên ấy thôi đã đủ cho chúng ta thấy rằng những nền văn hoá đang chết thường rất dễ sinh ra các tác phẩm cách mạng và những tài năng cho tương lai.

            Musil là một Cancanie - chúng ta không thể bỏ qua đặc điểm này; tương tự, trong cuốn sách của ông ấy, chúng ta không nên tự mãn với việc tìm kiếm tâm trí Musil trong những khám phá của nhân vật chính, mà cũng nên nhìn vào các chuyển động tương phản được các nhân vật khác thể hiện, đôi khi cường điệu nhưng không hề xa lạ với kiểu cảm thông mỉa mai của ông ấy. Toàn bộ lịch sử hoang đường và lố bịch của Chiến dịch Song Song - với vai trò là điểm cao trào của phần đầu cuốn sách - cho thấy không chỉ những nỗ lực của vài con rối trong giới thượng lưu nhằm ca ngợi sự cực thịnh của một Đế chế đang cận kề vực thẳm; mà còn mang một ý nghĩa nghiêm túc, bi kịch trong âm thầm: đó là tìm hiểu xem liệu văn hoá có thể đạt đến một giá trị tối hậu không hay nó không thể làm gì hơn là diễu hành một cách huy hoàng trong sự trống rỗng - mà nó bảo vệ chúng ta khỏi bằng cách giấu đi.

            Con người của quá khứ, con người hoàn toàn hiện đại, suýt là một tác giả kinh điển, dù cho ngôn ngữ của ông ấy được giữ tối giản và có một vẻ cứng cáp nhẹ và tinh tế, đôi khi cùng những hình ảnh khai mở, một nhà văn tuy vậy mà vẫn sẵn sàng dâng hiến mọi thứ cho văn chương (đến mức đặt ra cái lựa chọn bi đát: “tự sát hoặc viết”), nhưng đồng thời bắt nó phục vụ cho cuộc chinh phục tinh thần thế giới, trao cho nó các mục tiêu đạo đức, để khẳng định rằng sự biểu đạt lý thuyết của tiểu luận trong thời đại của chúng ta mang nhiều giá trị hơn biểu đạt thẩm mỹ. Giống Valéry and Broch, ông lấy từ kiến thức của mình về khoa học và trên hết là toán học một lý tưởng về sự chính xác, mà sự vắng mặt của nó sẽ khiến các tác phẩm văn chương gần như không thể chịu nổi với ông. Tính phi nhân của tri thức, tính phi nhân của học thuật tiết lộ với ông một đòi hỏi mà chính ông cảm thấy đồng điệu một cách nguy hiểm và cố khám phá ra những biến đổi nó có thể mang lại cho thực tại - nếu như cái thực tại của thời đại đã không tụt hậu so với tri thức của thời ấy cả một thế kỷ.

Chủ đề trung tâm

            Chủ đề trung tâm, nếu nó có trong cuốn sách kiểu phân cực ấy, được trình hiện cho chúng ta một cách chính xác ngay ở nhan đề, Der Mann ohne Eigenschaften [Người Không Phẩm Chất]. Cái tên ấy khó dịch sang ngôn ngữ của chúng ta [tức tiếng Pháp]. Philippe Jaccottet, xuất sắc trong vai trò một dịch cũng như một nhà văn, nhà thơ, chắc hẳn đã đắn đo. Gide đã đùa cợt đề xuất một nhan đề theo kiểu Gide, L’homme disponible [Người có sẵn]. Tờ báo Mesures khéo léo gợi ý cho chúng ta L’homme sans caractères [Người không tính cách]. Tôi nghĩ mình phải dừng lại ở bản dịch đơn giản nhất, gần với tiếng Đức nhất và tự nhiên nhất trong tiếng Pháp: L’homme sans particular [Người không cá tính]. Cách diễn đạt “người không phẩm chất”, dù tinh tế, tạo ra nhầm lẫn của việc không lập tức có nghĩa và làm mất cái ý rằng người đang được nói đến chẳng có gì đặc biệt - anh ta không có phẩm chất cũng chẳng có bản chất. Đặc tính của anh ta, Musil viết trong ghi chú, chính là chỗ anh ta không có gì đặc thù. Anh ta là bất kỳ ai, và sâu thẳm anh ta là người không có yếu tính, người không chấp nhận bị kết tinh thành một tính cách hay cố định trong một nhân cách bình ổn: một người thực sự tước khỏi chính mình, nhưng bởi anh ta không muốn thừa nhận là mình, cái tổng thể các đặc tính đến với anh từ bên ngoài, mà gần như toàn bộ nhân loại đều ngây thơ dựa vào để đồng nhất tâm hồn thuần khiết sâu thẳm của họ, thay vì thấy ở đó một thứ di sản ngoại lai, ngẫu nhiên và lấn áp.

            Nhưng ở đây chúng ta phải đi ngay vào ý thức của tác phẩm, chính xác là ý thức dưới hình thức của sự mỉa mai. Tính mỉa mai của Musil là thứ ánh sáng lạnh lẽo thay đổi một cách vô hình, liên tục, sự soi sáng của cuốn sách (nhất là phần đầu), dù thường khó nhận ra, không cho chúng ta an trú trong cái rõ ràng của một nghĩa chính xác, hay một nghĩa được cho biết từ trước. Chắc hẳn, trong cái truyền thống ấy của văn học Đức, nơi sự mỉa mai được nâng lên thành sự hệ trọng của một phạm trù siêu hình, cuộc điều tra châm biếm của người không cá tính không phải một sáng tạo tuyệt đối; hơn nữa nó đến từ Nietzsche, người khiến Musil đón nhận ngay cả khi chối bỏ nó. Nhưng ở đây, sự mỉa mai là một trong những trung tâm của tác phẩm, nó là mối quan hệ của nhà văn và bản thân nhân vật, một tương quan xuất hiện chỉ trong sự vắng mặt của toàn bộ các tương quan đặc tính và trong sự chối bỏ trở thành ai đó vì người khác và điều gì đó cho bản thân. Đây là một tài năng có chất thơ và một nguyên tắc có hệ thống. Nếu tìm kiếm nó trong các từ, người ta sẽ khó mà tìm thấy, hoặc thấy nó đã bị bóp méo thành các đặc điểm châm biếm. Nó đúng ra nằm ở trong chính cấu trúc của tác phẩm; nằm ở một số tình huống tự phản, trong sự vị rằng những suy nghĩ nghiêm túc nhất và các xung động chân thật nhất của nhân vật chính, Ulrich, sẽ tự diễn ra lần nữa  trong các nhân vật khác, nơi chúng khoác lên một khía cạnh vừa bi vừa hài. Vì thế nỗ lực gắn cái lý tưởng của tính chính xác với sự trống rỗng mà tâm hồn - một trong những trăn trở chính của Ulrich - mang như một đối trọng với vụ tình ái của Diotima, tâm hồn đẹp đẽ ấy, và Arnheim, một ông trùm công nghiệp quyền lực, tay tư bản mưu toan, và một triết gia duy tâm, mà Walther Rathenau chính là hình mẫu. Cũng vì thế, dục vọng thần bí của Ulrich và em gái được tái diễn và lặp lại đáng buồn trong những tương quan với Ulrich và Clarisse, các kinh nghiệm trực tiếp từ Nietzsche, kết thúc trong cơn cuồng loạn vô ích. Kết quả là các sự kiện, thay đổi từ dư âm này sang dư âm khác, không chỉ mất đi tầm vóc giản dị mà còn ruồng bỏ cả thực tại của chúng, và thay vì phát triển thành một câu truyện, hướng chúng ta đến trường chuyển động nơi các hành động diễn ra trong sự bất định của các tương quan khả dĩ.

            Giờ chúng ta đến với một khía cạnh khác của tác phẩm. Người không cá tính, người không muốn công nhận bản thân trong chính con người anh ta, người mà tất tật các đặc điểm cụ thể hoá bản thân khiến anh ta không có bất cứ đặc tính nào, không bao giờ gần gũi với những gì gẫn gũi nhất, không hề xa lạ với những gì ngoại tạo, chọn trở thành như vậy vì một lý tưởng tự do, nhưng cũng bởi anh sống trong một thế giới - thế giới hiện đại, thế giới của chúng ta - nơi các hành động cá biệt lúc nào cũng sắp tan biến trong sự hội tụ phi cá nhân của những tương quan, nơi chúng chỉ đánh dấu một giao điểm tạm thời. Trong thế giới ấy, thế giới của các thành phố lớn và những đám đông tập thể lớn, chẳng quan trọng khi một điều gì đó có thực sự diễn ra hay không và trong sự kiện lịch sử nào đó chúng ta tưởng mình là tác nhân và nhân chứng. Điều đã diễn ra vẫn chỉ là mơ hồ, và xét cho cùng chỉ là phụ, thậm chí rỗng: điều quan trọng duy nhất là tính khả dĩ của điều đã xảy ra vì thế cũng có thể không xảy ra; là ý nghĩa phổ quát và cái quyền của ý thức được đi tìm cái ý nghĩa đó, không phải ở điều gì (chẳng có gì đặc biệt ở đó), mà ở cái phổ của những khả năng. Cái chúng ta gọi là “thực tại” là một phi lai. Lịch sử, như cách chúng ta trình hiện nó với bản thân và cho rằng chúng ta đang sống trong nó, với chuỗi nối tiếp của những biến cố tuyến tính đều đặn, không chỉ biểu hiện mong muốn của chúng ta được dính lấy những điều chắc chắn, vào các sự kiện không thể bị nghi ngờ diễn ra theo một trình tự đơn giản mà nghệ thuật tự sự, thứ văn chương muôn thuở của các bà vú, làm nổi bật bằng cách tận dụng chính cái ảo tưởng quyến rũ ấy. Sự tự mãn kiểu tự sự ấy, trên cái khuôn mẫu của nó, hàng thế kỷ của những thực tại lịch sử đã được kiến tạo, Ulrich đã không còn khả năng cho điều đó. Nếu anh ta sống, thì đó là sống trong một thế giới của những khả năng chứ không còn là của các sự kiện, nơi chẳng có gì xảy ra và người ta có thể kể lại nữa. Hoàn cảnh kỳ lạ với nhân vật chính của một tiểu thuyết, còn kỳ lạ hơn với chính tiểu thuyết gia. Và bản thân nhân vật chính của ông ta có thật không, ngay cả với tư cách hư cấu? Song không phải anh ta còn hơn thế sao: cuộc thử nghiệm rủi ro, mà chỉ duy kết quả, bằng việc xác nhận với anh ta rằng anh ta là khả dĩ, rốt cuộc mới khiến anh trở nên thật, nhưng cũng chỉ như một khả năng?

Người khả dĩ

            Chúng ta từ từ bắt đầu nhận ra tầm vóc của công trình mà Musil đã duy trì suốt rất nhiều năm. Bản thân ông ấy đã nhìn ra nó một cách từ tốn. Ông ấy đã nghĩ về cuốn sách của mình kể từ khởi đầu thế kỷ, và chúng ta thấy trong ghi chép của ông các xen và tình huống được lấy từ cuộc chuyến phiêu lưu thời trẻ, mà chỉ xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm (ít nhất như cách mà ấn bản sau khi ông chết khôi phục lại cho chúng ta). Chúng ta không nên quên sự chín muồi chậm rãi ấy, cái cuộc đời mà đời ông ấy đã trao cho tác phẩm, và cuộc thử nghiệm kỳ lạ đã khiến cho sự tồn tại của ông ấy phụ thuộc vào một cuốn sách không có hồi kết, để rồi biến đổi nó bằng cách khiến nó từ nền tảng khó mà khả dĩ. Cuốn sách có tính cách tự truyện theo lối vừa hời hợt, vừa sâu sắc. Ulrich đưa chúng ta về với Musil, nhưng Musil đầy bất an gắn liền với Ulrich, sự thật của ông ấy chỉ có trong chính ông, người thích việc không có sự thật hơn là nhận lấy nó từ ngoại tại. Vì thế tồn tại một tiền cảnh nơi “người không tính cách” lạ lùng tái tạo các đặc điểm của “tính cách” mà ta có thể lại khám phá ra trong tác giả: sự thờ ơ mãnh liệt, khoảng cách ông đặt ra giữa những cảm xúc và bản thân, sự chối bỏ tham dự vào và sống bên ngoài bản thân, sự lạnh lùng mà cũng chính là bạo lực, sự chặt chẽ của tâm trí và sự kiểm soát nam tính, tuy nhiên, đi cùng với, một sự thụ động nhất định mà các tình tiết nhục cảm phụ trong cuốn sách cho chúng ta thấy. Người không cá tính chính vì thế không phải một giả thuyết từng chút một thành hình. Anh ta đúng ra là ngược lại: một hiện tại đang sống đã trở thành một ý nghĩ, một thực tại đã trở thành phi lai, một cá nhân dần dần khám phá ra cá tính của mình, mà cá tính ấy chính là không có cá tính, và cố mặc định rằng sự vắng mặt ấy, được nâng lên thành một cuộc truy tìm mà trong đó con người trở thành một hữu thể mới, có lẽ là con người của tương lai, con người lý thuyết, cuối cùng ngừng hiện hữu - để thực sự trở thành cái anh ta là: một hữu thể đơn thuần khả dĩ, nhưng mở ra trước toàn bộ các khả năng.

            Sự châm biếm của Musil hữu dụng với kế hoạch của ông ấy. Đừng quên rằng cái tên [người không cá tính] đặt cho Ulrich, như một sự sỉ nhục, từ người bạn thời niên thiếu của anh ta, Walter (cũng là tên một người bạn niên thiếu của Musil), người ở thời điểm cuốn sách bắt đầu được viết, không còn là bạn của ông nữa. Một người không có cá tính? Cái gì cơ? Clarisse hỏi, ngô nghê mỉm cười. Câu trả lời rất đúng điệu mỉa mai của Musil: Nichts. Eben nichts ist das! - “Không gì cả, chính xác là không gì sất!” Và Walter nói thêm: “Có hàng triệu những kẻ như thế thời nay. Đúng cái dạng mà thời đại này sản sinh.” Bản thân Musil không tán thành đánh giá ấy, nhưng cũng không phản đối. Người không cá tính vì thế không chỉ là nhân vật chính tự do khước từ bất kỳ giới hạn nào và, khi từ chối yếu tính, cảm thấy rằng mình cũng phải từ chối sự tồn tại, và thay thế bằng cái khả dĩ. Anh ta là người tầm thường đầu tiên của các thành phố lớn, người có thể bị hoán đổi, người chẳng là gì và trông chẳng giống thứ gì, người “Bất kì” tầm thường phi nhân, một cá thể đã không còn cá biệt nhưng lẫn vào với sự thật lạnh lẽo của cái tồn tại phi nhân. Ở đây, Musil của thời đại đã qua không ngần ngại phê phán Musil của hiện tại, người, tin vào tính phi cá nhân của khoa học và trong sự xa lạ với chính hữu thể của mình, can đảm cố tìm ra trong cái hư vô rằng ông ấy - Không gì cả, chính xác là không gì sất - cái nguyên lý của một thứ đạo đức mới và khởi đầu của một con người mới.

            Ông ý thức được tính nguy hiểm của cuộc tìm kiếm ấy, như việc mà tôi đã nói trước đó, ông không tách số phận của mình ra khỏi những Cancanie đi trước, điều mà những nỗ lực của ông chỉ có thể dẫn đến chỗ suy tàn, và cũng là sự suy tàn tất yếu của chính ông. Dẫu vậy, nếu ông tiếp tục tiến lên, trong một nỗ lực hùng vĩ để theo đuổi, ngay cả với tư cách là một tiểu thuyết gia, con đường thử nghiệm táo bạo nhất, thì đó là bởi nỗi kinh hãi của ông trước ảo tưởng và trăn trở về sự chính xác. Ngay từ trước năm 1914, ông đã thấy sự thật lên án thế giới của mình, và ông yêu thích sự thật hơn bất kỳ điều gì. Điều kỳ lạ là chính từ tình yêu cho sự thật mà ông đã phát triển một ý niệm và một dục vọng trong suốt sự nghiệp ngắn ngủi với vai trò kỹ sư, nhà logic học, toán học, và suýt là một giáo sư tâm lý học, cuối cùng khiến ông trở thành một con người của văn chương, người đã đánh cược mọi thứ vào cú ra đời táo bạo của một cuốn tiểu thuyết - và của cuốn tiểu thuyết mà, xét trên các khía cạnh yếu tính, có thể hoàn toàn được coi là huyền nhiệm.

(Còn tiếp)

 Hoàng Hiền dịch


[1] Từ của Musil, dựa vào ký hiệu K.u.K (Kaiserlich ung Königlich, đại diện cho chế độ quân chủ kép của Đế quốc Áo-Hung) được Chính phủ Đế quốc Áo sử dụng. Blanchot ám chỉ đến đến lời đồn đại không ngừng (le cancan - từ tiếng Pháp) nên tự đề xuất thành Cancanie.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công