Ba thế kỷ đọc Oliver Goldsmith
Ông cha đạo ở Wakefield xuất bản năm 1766. Goethe, sinh năm 1749, đọc nó khi còn trẻ, qua Herder, trong khoảng thời gian ở Strasbourg. Goldsmith nhanh chóng trở thành tinh thần hướng lối cho Goethe. Goethe nhiều lần viết về cuốn sách ấy, chẳng hạn trong Dichtung und Wahrheit:
"Một mục sư Tin Lành miền quê có lẽ là đối tượng đẹp nhất cho một idyll hiện đại; giống như Melchisedek, ông vừa là giáo sĩ vừa là vua trong cùng một con người; [...] là người cha, là chủ của một gia đình, là người làm ruộng, và như thế hoàn toàn là một thành viên của cộng đồng. Đã được đặt, trên cái nền trần thế thuần khiết và đẹp đẽ ấy, thiên chức cao hơn của ông: ông được giao việc dẫn dắt con người đi qua cuộc đời, chăm nom sự giáo dưỡng tinh thần của họ, ban phúc cho họ trong tất tật những bước ngoặt lớn của tồn tại, dạy dỗ, củng cố, an ủi họ và, nếu sự an ủi không đủ cho hiện tại, thì đánh thức trong họ và bảo đảm cho họ niềm hy vọng về một tương lai hạnh phúc hơn.
Hãy hình dung một con người như thế, với những tình cảm nhân bản trong sạch, đủ vững vàng để không một hoàn cảnh nào có thể khiến ông chệch khỏi và nhờ thế đã vượt lên trên đám đông, nơi người ta không thể đòi hỏi một sự trong sạch và kiên định đến mức ấy; hãy ban cho ông tri thức cần thiết cho chức phận của mình cùng một dạng hoạt động vui vẻ, điều hòa thậm chí có thể gọi là nhiệt thành, bởi nó không bỏ qua một phút giây nào có thể dùng để làm điều thiện; ông đã được phú bẩm đầy đủ những phẩm chất ấy. Nhưng đồng thời cũng phải thêm vào đó giới hạn cần thiết: ông không những bị giữ lại trong một vòng tròn nhỏ, mà đôi khi vòng tròn ấy còn có thể thu hẹp hơn. Hãy ban cho ông sự nhân hậu, khả năng hòa giải, sự cương nghị, và mọi phẩm chất đáng quý nảy sinh từ một tính cách đã định hình; rồi phủ lên tất cả những điều ấy một tinh thần vui tươi biết thuận theo hoàn cảnh cùng một sự khoan dung mỉm cười trước những yếu đuối của chính mình cũng như của người khác - và ông cha đạo Wakefield tuyệt vời của chúng ta đã gần như được khuôn xong.
Việc tả lại một nhân vật như thế trong hành trình của ông qua muôn vàn sung sướng và đau khổ; sức hấp dẫn càng lúc càng tăng của câu chuyện nhờ sự kết hợp cái tự nhiên với cái kỳ lạ dị thường - tất cả khiến cuốn tiểu thuyết này trở thành một trong những cuốn hay nhất từng được viết. Ngoài ra, nó còn có ưu điểm lớn là hoàn toàn đạo đức, thậm chí thuần là đạo đức Kitô giáo: nó trình bày phần thưởng dành cho thiện ý và sự bền lòng chính trực, củng cố lòng tin vô điều kiện vào Chúa và chứng thực thắng lợi cuối cùng của cái thiện trước cái ác - mà tất cả những điều đó lại được thực hiện không hề có lấy một dấu vết của giọng giảng đạo rỗng tuếch hay kẻ cả. Tác giả tránh được cả hai điều ấy nhờ độ cao của tinh thần biểu lộ xuyên suốt dưới hình thức mỉa mai, khiến tác phẩm nhỏ này hiện ra trước chúng ta vừa minh triết vừa khả ái. Đốc tờ Goldsmith , chẳng thể nghi ngờ, có một cái nhìn rất sâu vào thế giới đạo đức, vào cả sức mạnh lẫn những yếu đuối của nó; nhưng đồng thời ông cũng có thể biết ơn chuyện ông là một người Anh và ghi nhận những thuận lợi mà đất nước và dân tộc đem lại cho ông.
Gia đình mà ông dụng công khắc họa đứng ở một trong những bậc thấp nhất của sự sung túc thị dân, vậy mà lại tiếp xúc với những tầng lớp cao nhất; cái vòng tròn nhỏ hẹp của nó, vốn càng lúc càng bị thu hẹp , lại chạm tới thế giới lớn qua tiến trình tự nhiên và xã hội của sự vật. Con thuyền nhỏ ấy trôi trên những lớp sóng xao động của đời sống Anh; trong phúc cũng như trong họa, nó phải chờ đợi sự tổn thương hoặc cứu giúp từ hạm đội mênh mông đang dong buồm chung quanh nó."
Sáu mươi năm sau cuộc đọc Ông cha đạo ở Wakefield hồi trẻ, Goethe - lúc này đã ngoài tám mươi tuổi, gặp một nhà văn trẻ lặn lội đến Weimar tìm mình. Hai mươi năm sau, nhà văn ấy - đã thành danh - lại viết về Ông cha đạo - tất nhiên nhắc ngay đến bình luận của Goethe. Tên nhà văn ấy là Thackeray. Thackeray - một người Anh - đọc nhà văn được yêu quý nhất của đất nước mình qua con mắt của một người Đức.
Thackeray viết về Oliver Goldsmith trong bài giảng về các humourists lớn của thế kỷ 18:
"Ai, trong số hàng triệu người đã từng được ông làm cho vui thích, lại không yêu quý ông? Nhà văn Anh được yêu quý nhất - còn gì hơn một danh hiệu như thế đối với một con người! Một chàng trai trẻ hoang tàng, bướng bỉnh nhưng rất đỗi dịu dàng rời ngôi làng nơi tuổi thơ đã trôi qua trong những mơ mẩn êm đềm trong nỗi khát khao tha thiết muốn nhìn thấy thế giới rộng lớn ngoài kia và giành lấy danh tiếng cùng vận may - để rồi sau nhiều năm vật lộn khốn khổ, bị hờ hững và chịu cảnh nghèo, trái tim ông lại quay về nơi chôn nhau cắt rốn với một niềm tha thiết chẳng kém gì cái khát vọng đổi thay từng thôi thúc ông khi còn được trú ẩn ở đó; và ông viết một cuốn sách cùng một bài thơ chan chứa những hồi ức và cảm xúc về mái nhà - ông vẽ lại những người bạn và phong cảnh tuổi trẻ, làm cho Auburn cùng Wakefield đầy lên bởi những ký ức về Lissoy. Ông buộc phải lang thang, nhưng vẫn mang theo bên mình một di vật của quê nhà, chết với nó đặt yên trên ngực. Bản tính ông là bản tính của kẻ trốn học: khi được yên ổn thì khát khao thay đổi ; còn trên đường phiêu bạt thì lại ngoái về bạn bè và sự thanh bình. Ngày hôm nay ông dành để dựng nên một lâu đài không khí cho ngày mai hoặc để viết khúc ai ca cho ngày hôm qua; và ngay giây phút này ông đã muốn bay đi, nếu chiếc lồng và những tất yếu của đời sống không giữ ông lại.
Điều gì làm nên sức quyến rũ trong thơ ông, trong văn phong và sự hài hước của ông? Những tiếc nuối dịu êm, lòng trắc ẩn tinh tế, nụ cười hiền hậu, sự cảm thông run rẩy, cả những yếu đuối mà chính ông thú nhận? Tình yêu của ta đối với ông một nửa là thương cảm. Ta trở về, nóng nực và mệt mỏi sau trận chiến của một ngày, và người hát rong dịu dàng cất tiếng hát cho ta nghe. Ai nỡ làm hại người nghệ sĩ lang thang hiền hậu ấy? Ông đã từng làm ai tổn thương? Ông chẳng mang theo thứ vũ khí nào - chẳng gì ngoài cây đàn mà ông gảy cho ta nghe; cây đàn ấy làm vui lòng cả người sang lẫn kẻ hèn, trẻ lẫn già, những viên chỉ huy trong lều trại, những người lính quây quanh đống lửa, hay đàn bà và trẻ nhỏ trong các làng quê, trước hiên nhà họ ông dừng chân, hát những khúc ca giản dị về tình yêu và cái đẹp. Với câu chuyện êm dịu ấy, Ông cha đạo ở Wakefield, ông đã tìm được lối vào mọi lâu đài và mọi xóm nhỏ của châu Âu. Không một ai trong chúng ta, dù bận rộn hay chai cứng đến đâu, mà chẳng một đôi lần trong đời đã trải qua một buổi tối cùng ông, và chịu khuất phục trước sức mê hoặc của thứ âm nhạc kỳ diệu ấy."
Lại thêm năm mươi năm nữa; người viết lời giới thiệu cho ấn bản 1900 của Ông cha đạo là một nhân vật hết sức bất ngờ: Henry James - lúc này đã ở tuổi ngũ tuần, đã rất thành công và đang chuẩn bị để lại toàn bộ thành công ấy sau lưng để lao mình vào thử thách cuối cùng - thời kỳ hay được gọi là "James muộn". James không hề nương tay với quyển sách rất được yêu quý ấy:
"Ông cha đạo ở Wakefield ném mình vào cảm tri của chúng ta bằng một sự nghèo nàn đến kỳ lạ về phương tiện, một sự thanh mảnh khiến người ta nghĩ đến một thứ trần trụi cổ sơ và góc cạnh. Chính cái vẻ nhòa nhạt ấy - giống như màu đã phai của một tấm thêu mẫu cũ, một cây đàn spinet cũ, hay mực của một lá thư cũ - lại là một phần tích cực, thiết yếu của sức duyên và bùa mê nơi nó. Nó là đứa con cưng được nuông chiều của văn chương chúng ta. Ta bám lấy nó như bằng chứng quý giá nhất rằng trong văn xuôi, chúng ta cũng từng đạt tới sự khả ái tối hậu. Bởi vậy mà cuốn sách biến mọi thứ chứa trong nó thành một trường hợp may mắn của miễn trừ và mê hoặc - một trường hợp của tính cổ điển vừa không gì lay chuyển vừa không thể nào giải thích thấu. Tất cả là nhờ giọng. Giọng ấy tuyệt diệu - và chỉ có thế, chỉ cần thế.
[...] Hai điều ấy - giọng dịu êm không che giấu của Goldsmith và vẻ khoái hoạt tuyệt đẹp trong lời văn ông - hòa vào nhau để tạo thành phong cách. [...] Phong cách của Goldsmith là bông hoa của cái mà tôi đã gọi là sự khả ái nơi ông; và sự khả ái ấy, gần như độc lập với mọi thứ khác, chính là cái đã làm nên chiến thắng của Ông cha đạo ở Wakefield.
Hầu như không có một khó khăn, thất vọng, nhục nhã hay cay đắng nào mà Goldsmith không từng biết một cách gần gũi, hết lần này đến lần khác; thế mà trái tim nặng trĩu đã đi qua tất cả những điều ấy lại tràn ra trong cuốn sách nhỏ này thành một thứ lạc quan tinh ròng - thành khí chất vui tươi, thành cảm năng tốt đẹp, thành một vẻ hài hước kỳ quặc mà, xét cho cùng, thường sắc nhọn hơn là ngây thơ. Chưa từng có một cuộc trả thù nào như thế đối với những kẻ tự cho mình là cao hơn và những kẻ ban ơn từ trên xuống. Tinh thần của cuốn sách vẫn nói với chúng ta về tất cả những cái giá phải trả để sinh ra nó: mọi thiếu thốn, đau đớn và nhục nhã, toàn bộ sự xấu xí của hoàn cảnh và bầu khí sống. Bởi thế ta đối xử với nó như với một đóa hoa hiếm và tinh tế mọc lên từ một mảnh đất thô ráp, cứng cằn."
