favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Vintilă Horia: Chúa sinh ra ở nơi lưu đày

31/01/2026 02:37

Horia viết một dạng Nhật ký của Ovide ở Tomes, nơi nhà thơ bị Hoàng đế La Mã Auguste (Augustus) lưu đày: cuốn sách của nhà văn Rumani từng rất nổi tiếng vào đầu thập niên 60 của thế kỷ 20.

Như vậy, hai nhà thơ lớn thời Augustus trở thành đối tượng cho hai nhà văn lớn của thế kỷ 20: nếu Hermann Broch viết về những thời khắc cuối cùng, ngay sát cái chết, của Virgil, thì Horia dành cho Ovid nhiều thời gian hơn, khoảng chục năm cuối cùng của cuộc đời nhà thơ.

 

Năm thứ nhất

Tôi nhắm mắt lại để sống. Cũng là để giết. Ở điều này tôi mạnh hơn, bởi ông ta chỉ nhắm mắt lại để ngủ và ngay giấc của ông ta cũng không mang lại cho ông ta bất kỳ niềm an ủi nào. Bóng tối của ông ta đầy đặc người chết, những sự tàn nhẫn ám lấy ông ta. Tôi biết ông ta không thích sự nghỉ ngơi, giống tất tật những kẻ tai to mặt lớn trên trái đất. Nghỉ ngơi thì khiến ông ta phải một mình, với ý thức cùng các sám hối của ông ta, với nỗi nuối tiếc từng lúc nào cũng hành động ở tư cách kẻ hùng mạnh, tức là ở tư cách con người bị quyền lực của mình gây kinh hãi. Một lần, cách đây năm năm, tôi đã gặp ông ta tại đền thờ, vào buổi sáng, vừa ra khỏi giấc ngủ. Mắt ông ta đỏ quạch, phồng to vì mệt và ông ta không đủ can đảm nhìn chúng tôi, vì sợ người ta giải mã được nơi ánh mắt ông ta tên hay các đường nét những người đã hành hạ ông ta trong đêm. Người ta thờ ông như một vị thần, nhưng chẳng ai yêu ông ta. Bởi ông ta là tác giả Hòa bình chung [Pax Romana] và đã tạo ra đế chế lớn nhất mọi thời, nhưng ông ta cũng là tác giả của Nỗi sợ riêng, nỗi sợ của các kẻ khác và chính nỗi sợ của ông ta. Bão tuyết đang lay chuyển mái nhà. Biển rên rú đằng xa và những đợt sóng của nó, trong đêm, biến thành các con ma băng dài. Ngày mai người ta sẽ có thể đi dạo phía trên lũ cá và người hàng xóm nào đó cường tráng hơn tôi sẽ phải vạch một lối đi đến cửa nhà tôi, xuyên qua độ dày của tuyết, để tôi có thể ra ngoài. Tôi chưa từng bao giờ nghe tiếng hú như vậy, đi kèm với tiếng lách tách của tuyết đóng băng trên bề ngoài các bức tường. Quá ngoài chỗ tiếng hét sắc nhọn ào vào tôi như một gợn sóng kia, tiếng rên rỉ của biển dường chính là giọng của đêm, như thể thời gian có một giọng nói và cất nó lên tại một điểm duy nhất trên mặt đất: ở đây. Nhà tôi gần như dựa lưng vào những tường thành của thành phố và, chừng gió nhẹ đi, tôi nghe thấy tiếng chó sói tru, quá các bức tường. Chúng đói. Chiều nay người ta đã giết một con ngoài phố. Phát điên vì đói, con thú đã lao vào thành phố, chồm vào người sống đầu tiên mà nó gặp, một bà già đang đi chợ về, và đã xé xác bà ta trong nháy mắt. Tôi cũng đã chạy bổ tới khi nghe người ta la hét và kịp nom thấy con chó sói, bị một cây giáo đâm xuyên qua người, nằm trên nạn nhân của chính nó, giữa tuyết lấm máu. Tôi đã ngay lập tức nghĩ tới bà ta. Tôi đã không thể tự ngăn mình mong muốn bà ta cũng phải chịu một số phận giống thế, điều này thì, thật không may, chẳng thể nào, bởi chó sói có bao giờ đến Rome đâu. Nhưng một con sư tử thì hẳn sẽ có thể một đêm nọ thoát khỏi đám chuyên đấu thú, xâm nhập khu vườn cung điện hoàng đế và làm cái việc mà không con người nào tính tới giờ từng có đủ can đảm để làm...

Tôi nhắm mắt lại và tôi giết. Sao mà những xen ấy hiện diện đến thế, sống động hơn và rõ ràng hơn so với ngay cả kỷ niệm về buổi chiều vừa rồi! Tôi nhắm mắt lại và tôi sống.

Tôi là nhà thơ, ông ta thì chỉ là hoàng đế.

Điều buồn cười là, ở giữa niềm tuyệt vọng của mình, tôi không sao mà quen nổi với cái ý về thay đổi. Tôi ở đây từ khoảng chục ngày rồi; tôi đã rời Rome cách đây ba tháng, nhưng tôi đang ở Rome, và tôi thấy dường như mình chỉ cần kéo dài chút ít một ý nghĩ hay một hình ảnh là đã đủ để đổi chỗ và lại nhập vào nhịp cùng không gian quen thuộc của tôi. Chính vào khoảnh khắc này, khi viết những dòng này, tôi cảm thấy một mối nghi ngờ gớm ghê xâm chiếm. Rome thì ở xa, mãi đầu bên kia của trái đất và chẳng ý nghĩ nào có khả năng làm cho tôi đổi được chỗ. Rome như là quá khứ, mất đi vĩnh viễn, đã sống qua, tức là tách đi khỏi tôi như một thứ lạ thường mà người ta có thể tái tạo dựng bằng ý nghĩ và trí tưởng tượng, nhưng không còn trong tầm tay nữa. Quá khứ của tôi có một cái tên, nhưng được gì đây? Tôi khóc. Tôi sợ và tôi lạnh và các vị thần không tồn tại. Sự thật đó thành hình nơi chỏm những giọt nước mắt của tôi, giống những con ma băng trên bờ biển. Nó từng lúc nào cũng hiện diện bên trong tôi, nhưng tôi chưa từng bao giờ có thời gian, hoặc sức lực, để nghĩ nó. Cuộc đời tôi, cũng như các câu thơ của tôi, trái ngược với nó, bởi tôi đã sống bằng một ảo tưởng, tôi đã hát nó lên vì khoái lạc của những kẻ khác. Nhưng nếu tôi dám đọc lại Biến hình, thì làm sao mà không run rẩy trước sự trống rỗng mà cuốn sách ấy đã mở ra bên trong tôi, ngay vào cái thời tôi còn nói tới sự toàn năng của các vị thần! Sự tàn nhẫn của bọn họ nói về sự không tồn tại của bọn họ. Bọn họ là phản chiếu từ những nỗi e sợ của chúng ta và những gì mà chúng ta không dám làm mà không vướng sám hối. Bởi bằng cách nào mà các con người có thể sống sót được đây trước lòng thù hận, những thất thường và sự giống của các vị thần? Làm thế nào Prométhée lại khả dĩ cho được? Tôi là Prométhée, và tôi tồn tại. Tristes sẽ là nhan đề cuốn sách tới đây của tôi. Tôi sẽ tiếp tục nói dối, nhằm giành được sự tha thứ cho mình. Có lẽ ông ta sẽ đổi chỗ cho cuộc lưu đày của tôi và một ngày kia tôi sẽ có thể sống trên một hòn đảo của Hy Lạp, hoặc có lẽ là ở Sicile, gần Agrippa Postume và Julie. Những bài bi ca của tôi sẽ khiến ông ta nói: Ovide vẫn vậy, quỵ lụy và đầy mơn trớn, hắn sợ ta, ta có thể tha thứ cho hắn hoặc chọn cho hắn một chốn lưu đày êm dịu hơn. Nhưng ông ta sẽ không biết những dòng này, chúng nói đến một thay đổi khủng khiếp. Ông ta sẽ chẳng bao giờ biết là đã giúp tôi đến độ nào khi bắt tôi chịu đau đớn. Và nếu một ngày ai đó phát hiện được các ghi chép bí mật này, anh ta sẽ có thể nói là mình đã biết bộ mặt thật của Ovide.

Bão dần dà dịu đi. Tuyết dày tới nỗi phủ đầy cửa sổ. Ngôi nhà đã trở nên nóng ấm và thân thiết hơn. Lửa cháy trong lò. Tôi có rượu vang cùng đồ ăn cho nhiều tuần và tối qua tôi đã cho con chó vào nhà, vào lúc này nó đang ngủ dưới chân tôi và dỏng tai lên ngay khi tôi ho hoặc ngay khi tôi xoay trở người cho đỡ mỏi. Tôi đã đặt cho nó tên của ông ta. Tôi gọi nói là "Auguste", tôi cho nó ăn và, nếu muốn, đá đít nó.

Tối om. Đang là đêm, hay buổi chiều? Vẫn còn lính trên các tường thành chứ? Tôi không còn nghe được giọng của họ vào giờ đổi phiên gác nữa. Hẳn những người Gète sẽ có thể tận dụng tuyết xâm chiếm thành phố. Hẳn chúng cũng sẽ có thể chiếm nó bằng đường biển, chỉ đơn giản là vượt qua các bậc thanh những đợt sóng đã cứng lại. Nghe thì có vẻ lạ, nhưng tôi không sợ người Gète. Người ta đã bảo tôi là chúng rất sùng đạo và tin vào một vị thần duy nhất mà lúc này tôi không nhớ ra tên. Làm thế nào mà một vị thần có thể dùng con người mình làm đầy được cả một bầu trời? Nếu trời rỗng, như tôi vẫn nghĩ, thì vị thần ấy hẳn nhỏ xíu và chỉ có một mình giữa một sự im lặng và một sự cô đơn không thể chịu nổi. Vị thần duy nhất đó, xét cho cùng, hẳn phải giống tôi, ít nhất là ở khía cạnh này.

Tôi vẫn còn trẻ măng thì, tại Sulmone, vài tháng trước khi lên đường đi Rome, tôi đã dự cảm được khoảnh khắc của hé lộ kia. Tôi đang ở bên ngoài thành phố, trên một ngọn đồi gần như được vây quanh bởi một khoảnh của thác Avella. Em trai tôi đi cùng tôi. Chúng tôi đang cùng nhau quay về từ một cuộc dạo chơi dài tới ruộng nho của một trong những ông chú tôi. Đấy là vào khoảng đầu thu. Thỉnh thoảng chúng tôi dừng chân để hái vả chín trên các cành rủ xuống phía bên trên những bức tường các khu vườn. Buổi chiều tối yên tĩnh, vẫn còn nóng, những cái lá ô liu nhẹ nhàng lật ngược trong làn gió, để cho người ta nom thấy cái bụng ánh bạc của chúng, giống lũ cá nhỏ dưới một làn nước trong vắt. Tôi đang kể lại cho em tôi những câu chuyện thần thoại khá bậy bạ; tôi đang nói với nó, miêu tả rất kỹ, các mối tình của Vénus và của Mars, bởi tôi hay đọc sách và đã biết nhiều điều về những mối gần gũi của các vị thần và các con người. Nó im lặng lắng nghe tôi, dường như là bị ngây lóa, bởi những gì tôi biết. Vừa ăn vả, nó vừa nhìn về đằng sau, thường xuyên dừng lại để săm soi xung quanh, bằng cách ấy ngắt ngang mạch kể của tôi. "Nhưng em làm sao thế?" tôi hỏi nó. Nó đáp lại, ngạc nhiên trước sự gay gắt trong giọng tôi: "Nhắc đến các vị thần của chúng ta như vậy mà anh không thấy sợ à?" Tôi còn nhớ rất rõ những lời vuột ra khỏi tôi vào lúc đó: "Sợ gì cơ? Bởi vì các vị thần có tồn tại đâu." Em tôi im lặng nhìn tôi giây lát, đợi một lời giải thích, rồi khuôn mặt nó đỏ lựng lên như vừa ăn một cái tát và tức tối hét lên: "Không đúng, không đúng." Nó bắt đầu chạy về phía Sulmone, tôi đuổi kịp nó ở ngay gần thành phố, nơi, dựa lưng vào một gốc cây, nó khóc. Nó không đẩy tay tôi ra, bởi cả hai chúng tôi đều đang trải qua cùng khủng hoảng, mỗi người theo một cách riêng. Về sau này, tại Rome, chúng tôi đã nhập vào nhịp sống của các kẻ khác, chúng tôi đã quen với việc tin, nếu không phải vào các vị thần thì ít nhất cũng vào những thái độ của con người về phía các vị thần. Bằng không, hẳn chúng tôi sẽ không thể sống, tạo sự nghiệp, nhận thành công, làm tình với một phụ nữ trung thực hoặc một con điếm.

Có phải đã sắp hết mùa đông không? Tôi không chắc lắm về điều này. Ở vùng đất này người ta chẳng thể tin vào gì hết. Dẫu thế nào, thì mặt trời kìa. Hai bàn tay tôi lại có thể cử động. Tôi đã phải bỏ rơi các ghi chép bí mật của mình, bởi trời quá lạnh không viết được. Tôi đã làm con gấu trong vòng một tháng, bầu bạn với "Auguste", con chó của tôi. Nhưng biết bao nhiêu điều đã xảy ra! Dokia đã được bổ vào phục vụ tôi.

Cô vẫn còn hờ hững, mới chỉ biết vài từ tiếng Latin, vài từ Hy Lạp và dạy cho tôi tiếng Gète, ngôn ngữ của cô. Có lẽ cô hăm lăm tuổi và sống gần Tomes, tại khu người nghèo, tức là những người bản xứ, quá các tường thành. Buổi sáng, khi bước vào, cô có dáng vẻ của một con thú, kín mít trong bộ da cừu trùm lấy cô. Hẳn cô có thể đẹp, nếu ăn vận như Corinne. Giữa những người Gète, chắc chắn cô được coi là một giai nhân, với mái tóc màu hạt dẻ, cặp mắt sâu tìm cách tỏ ra nghiêm khắc. Nghiêm khắc đối với tôi, tên La Mã chinh phục, hay chỉ đơn giản là người đàn ông, bởi có một câu chuyện đàn ông trong cuộc đời cô và tôi sẵn sàng đặt cược một nghìn sesterce rằng cô góa hoặc bị bỏ rơi và cô có, hoặc từng có, một đứa con. Tôi đã tìm hiểu về cô ở chỗ viên centurion Honorius, thỉnh thoảng tôi nói chuyện với anh ta. Cô không phải là nô lệ và, theo những gì tôi đã có thể hiểu được, cô phục vụ người La Mã những việc nhỏ nhặt và cho họ thông tin về các ý đồ của người Gète. Chắc chắn cô làm cho người Gète những việc lớn bằng cách cho họ thông tin về những gì cô có thể biết liên quan đến các ý đồ của người La Mã. Hết sức nghiêm túc giống tất tật những kẻ man rợ vẫn còn chưa đến được với sự tế nhị của nụ cười và sống nơi các cực điểm thô sơ của sự nghiêm trang và của sự vui tươi ồn ào; cô im lặng làm công việc hằng ngày của mình, như thể lúc nào cũng có điều gì đó để trách cứ tôi. Làm sao mà yêu được sự câm lặng đầy hờn dỗi đó? Làm sao mà không yêu cô cho được? Nhưng sự dạy dỗ của Nghệ thuật yêu vô ích trước mẩu đá hoa cương vốn dĩ chưa từng bao giờ được mài nhẵn dưới một cái vuốt ve kia.

Đôi khi Artémis tới gặp tôi, những lúc cô không có khách ở nhà, bởi tôi không thể sống thiếu phụ nữ. Honorius đã không khó khăn gì hiểu tôi ngay và chính anh ta là người đã giới thiệu cô cho tôi. Cô là người Milet, ít nhất thì mẹ cô là người Milet. Khi cô bước vào, ngay lập tức tôi nhớ đến chuyến đi của tôi sang Hy Lạp, cùng người bạn Cneius Pompeius Macer của tôi, ở ngưỡng tuổi trẻ. Chính tại Athens tôi đã quen với Artémis thứ nhất. Tôi đã kể cho cô cuộc phiêu lưu xa xôi ấy và cô bảo tôi, vừa nói vừa dùng hai bàn chân lúc nào cũng cháy bỏng của mình chà xát hai bàn chân băng giá của tôi: "Cái tên đó mang lại may mắn." Cái tên đã mang lại cho cô may mắn nào? Chỉ cần tí chút là cô hài lòng, như tất tất gái điếm. Có lẽ cô tự nhủ, trong những khoảnh khắc cô độc của mình: "Hẳn lẽ ra mình đã có thể còn tệ hại hơn thế." Nhưng người ta có thể tệ hại hơn thế như thế nào? Một kẻ lưu đày. Câu trả lời đã không bắt phải đợi lâu. Tôi vẫn khó nhọc lắm thì mới viết được. Các ngón tay đã đánh mất thói quen cho việc ấy. Nhưng, chừng nào đến mùa xuân, rồi một ngày tôi sẽ kể câu chuyện khốn khổ của Artémis, nữ nhân may mắn.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công