Valéry: Villon và Verlaine (phần cuối)
Villon, ban đầu mang cái tên François de Montcorbier, sinh ra tại Paris vào năm 1431. Mẹ ông, vì quá rách rưới không nuôi nổi con, trao ông cho một vị linh mục uyên thâm, Guillaume de Villon, thuộc cộng đồng Saint-Benoît-le-Bétourné, và có ở đó nhà của mình. Chính ở đây François Villon lớn lên, nhận sự dạy dỗ sơ đẳng. Bố nuôi của ông dường lúc nào cũng đầy từ tâm và thậm chí dịu dàng với ông. Mười tám tuổi, chàng thanh niên lấy bằng tú tài. Ở tuổi hăm mốt, trong mùa hè năm 1452, bằng cử nhân được trao cho ông. Ông biết gì? Chắc hẳn là những gì mà người ta vẫn biết nhờ đã ít nhiều chuyên cần theo các cua của Faculté des arts: ngữ pháp, (la latine), logic hình thức, tu từ học, (cả hai đều là theo Aristote, đúng như nhân vật đó được biết và được diễn giải hồi ấy); về sau sẽ thêm siêu hình học nào đó cùng một chút ít về các khoa học luân lý, vật lý và tự nhiên của thời kỳ.
Nhưng cái từ licence [vừa là cử nhân, vừa là sự phóng đãng] có hai nghĩa. Nhận được các loại bằng cấp xong là Villon bắt đầu sống một cuộc đời càng lúc càng tự do hơn và sớm nguy hiểm. Môi trường của các cờ léc hỗn tạp một cách lạ thường. Danh xưng cờ léc rất được tìm kiếm bởi tất tật những ai cảm thấy một ngày kia mình sẽ phải dính dáng đến công lý. Là cờ léc đồng nghĩa với có thể đòi được thẩm phán thuộc giới tăng lữ xử và bằng cách này thoát thứ luật định thông thường, vốn có bàn tay cứng rắn hơn nhiều. Nhiều cờ léc là những người có phong hóa xấu xa. Nhiều kẻ bất hảo trộn lẫn vào với các cờ léc, tự cho mình cũng là cờ léc; và đôi khi tại các nhà tù những bài học tiếng Latin dị thường được tổ chức nhằm cho phép một kẻ gánh tội nào đó tự nhận mình là cờ léc với mục đích đổi thẩm phán.
Villon, trong cái thế giới trộn lộn ấy, làm quen với các thể loại người tệ hại hơn cả. Ở đó chắc hẳn các quý nương không hề thiếu sức quyến rũ. Họ đã, điều này rất tự nhiên, đóng một vai trò lớn trong những ý nghĩ và những cuộc phiêu lưu của nhà thơ. Nhưng hẳn chẳng ai từng nghĩ rằng chàng trai ấy sẽ trao cho họ một phần nhất định của sự bất tử. Cả Blanche Thợ Vá Giày lẫn Margot To Béo hay giai nhân Heaulmière, Jehanneton Kèm Cặp Thiếu Nữ, rồi Katherine Thợ Làm Đăng Ten. Hãy quan sát tất tật những cái tên theo lối phường hội đó... Hẳn có thể nói tất tật các loại nghề đều đã phải hiến sinh những phụ nữ của mình cho nữ thần, và nghề thủ công thời Trung cổ theo lối không thể sai chệch dẫn đến các bất hạnh của cuộc sống hôn nhân.
*
Nhưng rồi sự trụy lạc cùng nhơ nhớp phát triển dữ dội. Ngày 5 tháng Sáu năm 1455, Villon giết người. Vụ việc được chúng ta biết khá rõ, bởi vì nó được thuật lại trong giấy miễn tội do Charles VII chuẩn y cho "maistre François des Loges, tên khác là de Villon, tuổi hăm sáu, hoặc quãng đó, người đã, vào ngày Lễ Chúa, ngồi trên một tảng đá bên dưới đồng hồ Saint-Benoît-le-Bien-Tourné, trên phố lớn Saint-Jacques tại thành phố Paris của chúng ta, và ở cùng một người tên là Gilles, linh mục và một phụ nữ tên là Ysabeau, và lúc đó là khoảng chín giờ".
Khi ấy chợt xuất hiện một kẻ tên là Philippe Sermoise, hay Chermoye, linh mục, và maistre Jehan le Mardi. Theo giấy miễn tội, viết theo lời kể của Villon, không hề thêm lời phê bình, viên linh mục Sermoise kia gây chuyện cãi cọ với nhà thơ, thoạt đầu ông đáp lại nhẹ nhàng, đứng dậy để nhường chỗ... Nhưng Sermoise rút từ dưới áo chùng của mình ra một thanh gươm rộng bản và đánh vào mặt Villon "làm chảy rất nhiều máu; Villon thì, để tự vệ, mặc áo thụng và giắt ở thắt lưng của mình một thanh gươm ", rút nó ra và đâm vào háng Sermoise, "mà không hề nghĩ là đã đánh trúng người kia". (Lời biện hộ này rất đáng ngờ.) Vì dường như kẻ kia chưa chịu thua và vẫn đuổi theo ông, ông dùng một hòn đá ném thẳng vào mặt y, hạ gục y. Tất tật các nhân chứng đều đã bỏ trốn.
Villon chạy đến chỗ một thợ cạo nhờ băng bó. Viên thợ cạo, vốn dĩ phải viết báo cáo, hỏi tên người khách, Villon nói tên giả, Michel Mouton. Về phần Sermoise, mới đầu được đưa vào một nhà tu kín, rồi tới Hôtel-Dieu, y chết ở đó, hai hôm sau, "vì không được chăm sóc tốt". Kẻ giết người thấy là sẽ thận trọng nếu chạy trốn.
Vài tháng sau, thư miễn tội, từ đó tôi đã thuật lại vài điều, được đưa cho ông. Rất đáng để ý, việc biện pháp khoan dung đầy mau mắn ấy được dựa trên chỉ những lời nói và lập luận của Maître Villon. Không hề có điều tra. Lời biện hộ về tự vệ chính đáng được chấp nhận không bàn cãi. Lời khẳng định của đương sự, theo đó, kể từ sự cố đáng bực ấy, hành xử của mình là không thể chê trách, được tin luôn. Nhưng người ta không thể tự ngăn mình thấy câu chuyện khá đáng nghi; sự gây hấn của linh mục Sermoise không được giải thích, cái tên giả mà Villon nói với viên thợ cạo Fouquet, cuộc bỏ trốn của ông, sự biến mất của các nhân chứng - ngần ấy yếu tố đáng lo lắng trong vụ việc trên. Rất nhiều người khác đã lên giàn treo cổ vì những manh mối nhỏ hơn. Nhưng, xét cho cùng, chẳng việc gì chúng ta phải nghiêm khắc hơn nhà vua, người, "vì muốn bao dung, chứ không phải sự hà khắc", rời bỏ và tha thứ cho vụ việc - và "đến đó, văn bản nói, ra lệnh cho biện lý im lặng". Sự im lặng đó sẽ sớm bị phá vỡ.
*
Về tội ác thứ hai của Villon mà chúng ta biết, không còn lại bất cứ mối nghi nào, và tất tật các dự liệu có thể có mà Bộ Luật hình sự định nghĩa đều được viết ở đó. Chẳng thiếu gì ở đây hết: đấy là một vụ ăn cắp, thực hiện vào ban đêm, tại một nơi có người sống, có trèo tường, khoét ngạch, dùng chìa khóa giả, cả một bộ đồ nghề của trò đột nhập ăn cắp.
Villon, làm việc chỉ lối, đi cùng những kẻ trộm cắp nhà nghề, và các đồng phạm khác, lấy được năm trăm écu vàng thuộc collège de Navarre và được đựng trong một cái hòm để trong phòng chứa đồ thánh của nhà nguyện trường. Mãi hai tháng sau đó vụ trộm mới bị phát hiện. Chẳng gì kỳ lạ hơn những chi tiết trong cuộc điều tra được tiến hành bởi tay các nhân viên tra xét của nhà vua tại Châtelet. Tôi sẽ chỉ nhắc đến một chi tiết trong số đó.
Những nhà điều tra triệu tập, ở tư cách chuyên gia, chín thợ khóa tuyên thệ, họ lập lời thệ đặc biệt, mà tên và địa chỉ đã được lưu giữ cho chúng ta trong hồ sơ vụ án. Họ tái lập hết sức chính xác những gì bọn trộm đã làm. Nhưng chúng đã chạy xa. Thật không may cho chúng, chúng bị phát hiện do những lời thiếu thận trọng của một kẻ lắm lời, đồng lõa của chúng, mà một cha xứ nghe được, tại quán rượu nào đó, nhắc tới vụ việc ở collège de Navarre. Vị linh mục kia, dường như ít được sinh ra cho phụng sự hơn so với cho việc thu thập thông tin giúp sở cảnh sát, tiến hành một cuộc điều tra được theo đuổi một cách đáng chú ý, nó dẫn thẳng tới François Villon. Villon vội vã chuồn về tỉnh.
Chúa mới biết cuộc đời ông trong quãng thời gian đó như thế nào!... Người ta tìm được ông lúc thì trong tù, khi lại trong mối quan hệ với hoàng tử nhà thơ Charles d'Orléans [tác giả câu "Partir c'est mourir un peu"], và chắc hẳn ở đây ở kia ông tham gia các hoạt động của đám Coquillard. Dẫu thế nào thì dường như ông đã phải vào nhà tù giám mục rất khắc nghiệt tại Meung-sur-Loire, có lẽ là sau một vụ trộm bình rượu lễ trong một phòng để đồ thánh. Giám mục của Orléans, Thibaud d'Auxigny, đã đối xử với ông bằng một sự hà khắc sẽ để lại cho Villon một kỷ niệm tàn nhẫn, phải nhúng nước và bị xích trong một hố sâu. Louis XI giải thoát ông, và ông quay về Paris, hỡi ôi! không phải để sống yên ổn ở đó. Tại đây ông tìm lại được các mối quen biết cũ, có những mối quen mới, và không hề tốt lành, mà sự giao du ném ông vào vụ việc phiền hà nhất trong đời ông. Hệ quả từ một cuộc ẩu đả, trong đó một viên chưởng khế phục vụ giám mục bị thương, Villon bị Châtelet kết án bị treo cổ và bóp cổ tại giá treo cổ Paris. Tha hồ mà đánh giá xem niềm vui mà ông tỏ ra lớn đến thế nào vào lúc Parlement, mà ông hướng đến xin phúc thẩm, chuyển thành án mười năm đày khỏi Paris thoát khỏi án kia, mà ông từng luôn luôn e ngại, mà ông mơ thấy đầy khủng khiếp, mà ông từng ca ngợi hết sức rùng rợn, hẳn ông đã sống những ngày của nỗi hoảng sợ to lớn, giữa sự tra tấn và hình ảnh đáng kinh hãi: người ông phất phơ trên giá treo cổ. Sự nhẹ nhõm mà ông cảm thấy, khi biết mình được an toàn tính mạng, đột nhiên khiến ông viết hai bài thơ: một bài ông gửi cho nhân vật gác cửa để tự khen ngợi vì đã xin phúc thẩm, bài còn lại thì cho triều đình, để cảm ơn. Ông huy động tất tật các giác quan của mình, tất tật các chi và cơ phận của mình:
Foie, poumon, et rate qui respire, [cả gan, phổi lẫn lá lách]
nhằm xướng lên lời ngợi ca triều đình!
Ông bèn rời Paris, sung sướng vì được giải thoát theo lối dễ dàng tới vậy.
Sau đó... Nhưng sau đó, chúng ta không còn biết gì nữa.
Khi nào, bằng cách nào Villon đã kết thúc?
Dites-moi où, n'en quel pays?
Chúng ta tuyệt đối không biết gì về điều đó.
*
Cuộc đời ấy, nơi không thiếu những bóng tối, bừng nở trong bóng tối. Nhưng, ngay từ thế kỷ 16, tác phẩm của tên tội phạm đã được in; kẻ ma cà bông, tên kẻ trộm, kẻ bị kết án tử hình chiếm lấy vị trí ở một thứ hạng mà đã không ai cướp mất của ông, giữa những nhà thơ Pháp. Thơ của chúng ta, ngay từ sau ông, viện tới cổ đại, tự lập dựng trong một phong cách cao quý và tuyệt hảo theo lối hống hách. Đối với nó các phòng khách thì dễ chịu hơn so với các hang ổ và ngã ba đường. Villon, tuy nhiên, lúc nào cũng được đọc, kể cả bởi Boileau. Vinh quang của ông, ngày hôm nay, lớn hơn bao giờ hết; và nếu việc ông phạm tội, được chứng minh hoặc được phỏng đoán nhờ các tài liệu chân thực, hiện ra còn rõ nét hơn trước kia, phải thú nhận là nó làm tăng mối quan tâm tới tác phẩm hơn mức phù hợp. Sự quan sát văn chương và các cảnh tượng vào tất tật các thời kỳ cho thấy rằng tội ác có những sự thu hút lớn lao và thói tật chẳng phải là không khiến những người đức hạnh, hoặc đức hạnh một nửa, quan tâm. Ở trường hợp Villon, đấy là một thủ phạm cất tiếng nói, và ông nói ở tư cách nhà thơ hạng nhất. Và thế là chúng ta ở trước một vấn đề mà hẳn tôi sẽ nói có tính cách tâm lý học, nếu tôi biết thật ra từ đó muốn nói gì.
Làm thể nào có thể cùng tồn tại trong cùng một đầu óc hình dung về các tội lỗi, việc nghiền ngẫm chúng, ý chí hết sức kiên quyết về việc sự thực hiện chúng, với sự nhạy cảm mà một số tác phẩm cho thấy, mà chính nghệ thuật đòi hỏi, với ý thức mạnh về bản thân, thứ, không chỉ được biểu lộ ra, mà còn được tuyên bố và được diễn tả với ngần ấy chính xác trong Débat du Coeur et du Corps lừng danh? Làm thế nào mà kẻ bất lương kia, kẻ run lên vì sợ bị treo cổ lại có lòng can đảm khiến hát lên bằng những câu thơ đáng ngưỡng mộ những con ma bất hạnh được gió đung đưa ru và trật các khớp ở đầu sợi dây? Nỗi hãi hùng của ông không ngăn cản ông tìm các vần của mình, viễn kiến gớm ghê của ông được dùng cho những mục đích của thơ: nó được dùng cho một cái gì đó, thứ hoàn toàn không phải là những gì mà công lý hy vọng, khi công lý tự biện minh, chính nó và những hà khắc của nó, bằng cái mà nó gọi là sự răn dạy của các tội. Nhưng dẫu nó có treo cổ những người này, phanh thây những người khác hoặc cho nấu họ lên, thì vẫn xảy ra việc một tên tội phạm khá lớn, nhưng còn là nhà thơ lớn hơn so với tội phạm, viết ra các thể động xấu xa của mình, các thói tật của mình, các nỗi e sợ của mình, sám hối và ăn năn của mình, và từ hỗn hợp ghê người và thật thảm đó lấy ra những kiệt tác mà người ta biết.
Chắc hẳn, trạng thái của nhà thơ - nếu đó là một trạng thái - có thể được thông hòa với một tồn tại xã hội hết sức đúng quy định. Phần lớn, phần rất rất lớn, tôi xin đảm bảo với các vị điều này, từng hay đang là những con người khả kính nhất trên đời, và thỉnh thoảng còn là những người được vinh danh hơn cả. Và tuy thế...
Một suy tư dừng lại một chút ít ở nhà thơ, và được áp dụng để tìm cho anh ta một chỗ đúng trong thế giới, sớm bị bối rối với cái loại không thể định nghĩa này. Các vị hãy tưởng tượng một xã hội được tổ chức chặt chẽ - tức là một xã hội mà mỗi thành viên nhận được từ nó tương đương cho những gì mà người đó mang đến cho nó. Công lý hoàn hảo này loại bỏ tất tật những con người có phần mang tới không thể tính được. Phần mang tới của nhà thơ hoặc nghệ sĩ không như vậy. Nó là số không đối với những người này, rất lớn đối với những người khác. Không hề có các tương đương khả dĩ. Như vậy, những con người ấy chỉ có thể tồn tại trong một hệ thống xã hội đủ tệ để những điều đẹp nhất mà con người từng làm, và chúng, quay ngược lại, làm anh ta trở thành người đúng nghĩa, có thể được tạo ra. Một xã hội như thế chấp nhận sự thiếu chính xác của các trao đổi, mưu mẹo, bố thí, và toàn bộ những gì nhờ đó một Verlaine đã có thể sống mà không cần nhờ, giống Villon của chúng ta, tới các cổ tức được phân bổ bởi các hiệp hội những kẻ bất lương, sau khi đã được nẫng vào ban đêm, nhờ trò đào tường khoét ngạch, ở những cái hòm của các phòng để đồ thánh giàu có.
*
Tôi sẽ không dông dài về cuộc đời của Verlaine: nó ở quá gần chúng ta, và ở đây tôi sẽ không mở lại hồ sơ, thứ, từ phòng lục sự của tòa án ở Mons, đã đến nằm ngủ (chẳng phải là không có vài lần bật dậy) tại Thư viện hoàng gia Bruxelles, giống hồ sơ của Villon đã chuyển từ những cái tủ của Parlement sang những cái tủ của Lưu trữ quốc gia. Villon ở cách chúng ta khá xa: người ta có thể nhắc tới ông như tới một nhân vật trong truyền thuyết. Verlaine!... Biết bao lần tôi đã nhìn thấy ông đi qua trước cửa nhà tôi, đầy thịnh nộ, cười to, chửi thề, dùng một cây gậy to tướng cho người tàn tật hoặc ma cà bông nhiều đe dọa giộng mạnh xuống đất. Làm sao mà tưởng tượng được rằng cái kẻ sống lần hồi kia, đôi khi có dáng vẻ và lời lẽ hết sức tàn bạo, bẩn thỉu, vừa gây lo lắng vừa khiến người ta thương cảm, thế nhưng lại là tác giả của những âm nhạc thuộc thơ tinh tế hơn cả, những giai điệu ngôn từ mới hơn cả và gây nhiều cảm động hơn cả trong ngôn ngữ chúng ta? Toàn bộ thói tật khả dĩ đều đã tôn trọng, và có lẽ gieo rắc, hay phát triển nơi ông, quyền năng sáng tạo đầy dịu ngọt kia, biểu đạt của sự dịu dàng, của nhiệt hứng, của tĩnh tâm êm dịu kia, mà chẳng ai từng trao đi như ông, bởi chẳng ai từng biết như ông che giấu hay hòa trộn các nguồn của một nghệ thuật lỗi lạc, cực rành tất tật các điểm tinh tế của những nhà thơ khéo léo nhất, trong những tác phẩm có vẻ bề ngoài thật dễ, với tông giọng ngây thơ, gần như con nít. Các vị hãy nhớ lại:
Calmes dans le demi-jour
Que les branches hautes font...
Đôi khi, những câu thơ của ông làm người ta nghĩ đến một sự ngâm lên các lời cầu nguyện được thì thầm và định nhịp rất rõ tại sự dạy dỗ giáo lý; đôi khi, chúng có một sự hờ hững đáng ngạc nhiên và được viết bằng thứ ngôn ngữ suồng sã hơn cả. Đôi khi ông có các thí nghiệm về vần luật, như trong cái bài lạ thường ấy, Crimen Amoris, bằng những câu thơ mười một âm tiết. Vả lại, ông đã dùng gần như tất tật các kiểu thơ khả dĩ: kể từ câu gồm năm âm tiết cho tới câu gồm mười ba âm tiết. Ông đã sử dụng các kết hợp kỳ dị hoặc bị bỏ rơi từ thế kỷ 16, những bài thơ theo các vần chỉ giống đực, hoặc chỉ toàn giống cái.
Nếu người ta muốn cứ khiên cưỡng mà so sánh ông với Villon, không phải ở tư cách nhân vật vướng lao lý và được ban cho một hồ sơ tư pháp, mà ở tư cách nhà thơ, thì người ta tìm được - hay, ít nhất, tôi tìm được, bởi đây chỉ là ấn tượng của tôi - tôi kinh ngạc thấy rằng Villon (bỏ đi phần tự vị), ở một số chỗ, là một nhà thơ hiện đại hơn Verlaine. Ông chính xác hơn và đẹp đẽ hơn. Ngôn ngữ của ông thấy rõ là vững hơn: Le Débat du Coeur et du Corps được dựng bằng những lời đáp sắc nét và nghiêm khắc như thể do Corneille viết. Và ông có rất nhiều lối nói không còn bị quên nữa, trong đó lối nói nào cũng là một tìm tòi thuộc típ các tìm tòi cổ điển... Nhưng, trên mọi điều, Villon có vinh quang của tác phẩm thực sự lớn ấy, Testament lừng danh, hình dung dị thường, hoàn chỉnh, và Jugement Dernier, được nói ra về những người và những vật bởi một con người, ở tuổi ba mươi, đã sống quá nhiều. Tổng thể các bài thơ dưới hình thức những bố trí của di chúc đó thuộc vào hàng La Danse Macabre và Vở kịch con người, các giám mục, ông hoàng, đao phủ, kẻ cướp, gái bán hoa, bạn đồng hành trong trụy lạc, ai cũng nhận được phần của mình. Tất tật những người từng làm điều tốt cho nhà thơ, tất tật những người từng cứng rắn với ông, đều ở đó, được cố định hóa bởi một cú đánh, một câu thơ lúc nào cũng chung quyết. Và trong cấu tạo kỳ lạ ấy, giữa các chân dung cụ thể, nơi những tên riêng, những hỗn danh, thậm chí địa chỉ người được nói ra, những bài ba lát đẹp nhất từng được viết ra được sắp đặt, như các hình tượng chung hơn. Độc thoại quen thuộc bị ngắt ngang trước chúng. Sự thú tội biến thành ode và cất cánh bay. Hô ngữ, vốn thân thuộc với Villon, trở thành phương tiện trữ tình, và hình thức của tra hỏi, hết sức hay gặp ở ông:
Mais où sont les neiges d'antan?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Le lesserez la, le povre Villon?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Dictes-moy où, n'en quel pays?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Qu'est devenu ce front poly,
Ces cheveulx blonds, sourcilz voultyz?...
v.v..., được tạo ra bằng sự lặp, và nhất là bởi âm sắc, một yếu tố của quyền năng hết sức cảm động. Ông là nhà thơ Pháp duy nhất từng biết cách lấy được từ điệp khúc các hiệu ứng hùng mạnh và với quyền năng tăng tiến.
Về phần Verlaine, khi nói với các vị (mạo hiểm rất nhiều, gánh lấy cho tôi rất nhiều nguy cơ), rằng đối với tôi ông dường ít tính văn chương hơn Villon, tôi không muốn nói ngây thơ hơn; họ không ngây thơ hơn so với nhau, không ngây thơ hơn La Fontaine; các nhà thơ chỉ ngây thơ khi họ không tồn tại. Tôi muốn nói rằng thứ thơ riêng của Verlaine đó, của La Bonne Chanson, của Sagesse và phần sau, đặt giả định, ở ánh mắt đầu tiên, ít văn chương dồn tụ lại hơn so với thơ của Villon, vả lại đấy chỉ là một vẻ bề ngoài: người ta có thể giải thích cảm giác này bằng nhận xét sau đây: một người ở vào khởi đầu của một thời đại mới trong thơ chúng ta và ở cuối nghệ thuật thơ của Trung cổ, nghệ thuật của các phúng dụ, của các luân lý, của các tiểu thuyết hay của các câu chuyện mộ đạo. Villon, theo cách nào đó, được hướng lối về phía thời kỳ rất sắp nơi sự sản xuất sẽ phát triển với đủ ý thức về chính nó và cho chính nó. Phục hưng là sự sinh ra của nghệ thuật vì nghệ thuật. Verlaine thì hoàn toàn trái lại: ông đến với, ông ra khỏi, ông đáo thoát từ Parnasse, ông ở, hoặc nghĩ mình ở vào kết cục của một ngoại giáo thuộc cảm năng. Ông phản ứng chống lại Hugo, chống lại Lecomte de Lisle, chống lại Banville; ông hòa thuận với Mallarmé, nhưng Mallarmé và ông là hai cực điểm đã chỉ xích lại gần nhau do riêng một điều, ấy là từng có gần như cùng các tín đồ và gần như cùng các địch thủ.
Được rồi! phản ứng này, ở Verlaine, khiến ông tự tạo cho mình một hình thức hoàn toàn đối lập với hình thức mà những hoàn hảo đối với ông đã trở nên chán ngắt... Đôi khi, hẳn có thể nghĩ rằng ông dò dẫm giữa các âm tiết và các vần, và ông tìm biểu đạt nhiều tính nhạc hơn cả của giây phút. Nhưng ông biết rất rõ điều mình làm, và thậm chí ông còn tuyên xưng nó: ông ban bố một nghệ thuật thơ, "de la musique avant toute chose" [nhạc tính trước hết] và, cho điều đó, ông thích tự do hơn... Nghị định này rất nhiều ý nghĩa.
Người ngây thơ ấy là một kẻ nguyên thủy có tổ chức, một kẻ nguyên thủy như chưa từng bao giờ có nguyên thủy, và hoạt động như một nghệ sĩ hết sức khéo léo và rất có ý thức. Chẳng ai, trong số những người nguyên thủy chân thực, giống với Verlaine. Có lẽ người ta từng đặt ông vào chỗ chính xác hơn lúc coi ông, vào quãng 1885, là "nhà thơ suy đồi". Chưa từng bao giờ có nghệ thuật nào tinh ròng hơn nghệ thuật ấy, nó đặt giả định là người ta chạy trốn một nghệ thuật khác, chứ không hề đi trước nó.
Verlaine, giống Villon, rốt cuộc buộc chúng ta phải thú nhận rằng các bê bối trong hành xử, cuộc vật lộn với cuộc đời cứng rắn và thiếu chắc chắn, tình trạng tạm bợ, những kỳ lưu trú tại các nhà tù và bệnh viện, chứng nghiện rượu quen thuộc, sự giao du với cùng đáy, thậm chí tội ác, hoàn toàn không bất tương thích với những tinh tế tuyệt diệu hơn cả của sản xuất thơ. Nếu tôi muốn triết lý về điểm này, thì ở đây sẽ cần nói rõ rằng nhà thơ không phải là một con người đặc biệt có tính cách xã hội. Trong chừng mực anh ta là nhà thơ, anh ta không bước vào bất cứ sự tổ chức hữu ích nào. Lòng tôn trọng các luật dân sự chết đi ở ngưỡng của hang ổ nơi các câu thơ của anh ta được hình thành. Những người lớn nhất, Shakespeare cũng như Hugo, từng rất thích tưởng tượng ra và làm cho sống động các sinh thể trái luật, các kẻ nổi loạn trước mọi uy quyền, các tình nhân ngoại tình, từ đó họ biến thành các anh hùng và các nhân vật gây nhiều thiện cảm. Họ kém thoải mái hơn nhiều những khi nghe thấy tán dương đức hạnh: những người đức hạnh, hỡi ôi! là đám xấu thói. Nỗi khinh bỉ kẻ bourgeois, mà những người lãng mạn đã tạo lập và là thứ chẳng phải là đã không tạo ra một số hệ quả chính trị, xét ở sâu xa, được thu về nỗi khinh bỉ cuộc sống hợp luật.
Vậy thì, nhà thơ mang một ý thức xấu nhất định. Nhưng bản năng về luân lý sẽ luôn luôn ẩn thân vào một chỗ nào đó. Người ta thấy rõ ở những kẻ vô lại tồi tệ hơn cả, tại những chốn gớm ghê hơn cả, xuất hiện trở lại quy tắc và được ban bố những thứ luật rừng. Ở các nhà thơ, bộ luật chỉ gồm độc một điều khoản, nó sẽ là lời cuối của tôi:
"Nếu không muốn chịu tội chết trong thơ, luật của chúng ta nói thế, thì hãy có tài năng, thậm chí là... hơn vậy một chút."
