Phiếm luận về chênh lệch đẳng cấp (tiếp tục)
Những chiến lũy của viện dưỡng lão, một cuộc cách mạng của tuổi già, Socrates - kẻ nổi loạn. Đây là một vấn đề hết sức thú vị, nếu suy nghĩ kỹ càng, vì từ xưa đến nay: các câu chuyện luôn được hình dung như thể giàu-nghèo cũng chính là già-trẻ. Người già sinh ra trước, nên tích lũy được nhiều của cải, và hết sức bảo thủ vì sợ sự thay đổi sẽ làm lung lay tường thành kinh nghiệm chồng chất của mình. Bọn trẻ, đám sinh sau đẻ muộn, tay trắng vì vừa ra đời và phải phụ thuộc vào gia đình, chúng bị ức chế bởi bộ khung thế giới lâu đời hơn chúng - bộ khung được làm bởi tay người khác, đám trẻ muốn ngôi nhà được xây bởi chính tay mình. Nhưng chẳng phải ở thế giới cổ đại, chính những người già mới là các nhà cách mạng. Lão Tử đã chờ lâu đến thế trong bụng mẹ, Khổng Tử đến 50 tuổi mới tri thiên mệnh, Socrates (như đã kể) bắt đầu thống lĩnh đám trẻ nổi loạn khi ông đã thành bậc thầy già, và cũng chính một ông già khiến Thích Ca nảy ý định rời bỏ đẳng cấp quý tộc của mình. Tuổi già có những ân sủng riêng của nó chăng, tôi tự hỏi. Tập thơ “Khách” của Nguyễn Chí Hoan là thế giới của một người già, đến cái tuổi mà thấy cuộc đời như dốc dựng ngược. Khi đó, các loài thực vật bất động trong mắt người trẻ, lại bừng bừng sức sống và sống mãnh liệt đến nỗi chúng như đang chuyển động trong mắt người già, cái cây còn sống nhanh đối với tuổi già. Ngoài ân sủng của sự chậm ấy - cái cảm giác vì say rượu mà lơ mơ ngủ giữa bàn nhậu, còn có ân sủng của sự nhẹ, tính nhẹ đến từ sự giải thoát khỏi mọi dục vọng vốn bó buộc mình từ khi chào đời, con người chưa bao giờ tự do đến thế và dũng cảm như thế. Đó chẳng phải là trạng thái mà Guy Debord mong ước những nhà cách mạng sẽ mang sao, cái chậm và nhẹ tuyệt diệu ấy, sự nghiêm trang của chính trị khiến những cuộc cách mạng thế kỷ 20 lao nhanh đến thế trên đường ray lịch sử, và do thế nên lại càng thêm nặng nề, càng nhanh thì càng nặng - đúng như công thức của Einstein. Sự trầm trọng và kịch tính của vở drama lịch sử không cho phép bất kỳ sai lầm nào, và do đó, sự hèn nhát nảy mầm để chuẩn bị cho sự bảo thủ quay lại ngai vàng, bóng ma của kẻ phản bội xua đuổi cơn mơ của người nghệ sĩ trong giấc ngủ của các lãnh chúa. Những nhà cách mạng ngủ nặng nề làm sao, nói như Naguib Mahfouz, họ ngủ dài như không được nghỉ ngơi, tất cả đều do sự nghiêm túc của hành động đã xua đi cơn mộng mị.
Tôi không ngờ vấn đề lại liên kết theo hướng đó: con người hiện đại bị ấu trĩ hóa, họ thiếu trưởng thành, và do đó họ không thể già đi. Ở thời Shakespeare, người ta vẫn còn Vua Lear để hiểu rằng vẫn còn có một cuộc bildung đầy khổ ải của tuổi già, ít nhất là không kém tuổi trẻ. Bây giờ, sau khi đã hết ảo tưởng của tuổi trẻ, người ta ôm cứng lấy nỗi tổn thương và cứ như thế không thay đổi gì nữa, họ đã cố hết sức ở tuổi trẻ, và đã sẵn sàng cho kỳ nghỉ dài suốt phần đời còn lại như một kẻ bảo thủ hạng nặng. Như những sếp của Kafka, họ dành phần đời còn lại để lì xì cho đám trẻ những luật bất thành văn của cuộc đời mỗi khi đến dịp. Có nghệ thuật của sự già đi, nghệ thuật của cưỡi trâu đi về phía Tây - của trời chiều hưu chiến lánh màu gặt. Những tác phẩm ấy đâu rồi, những tác phẩm sẽ chữa ta khỏi nỗi cay đắng vỡ mộng tuổi trẻ, để thúc ép ta bước vào tuổi già của dũng cảm và công chính, chúng đâu rồi, những minh triết của thế giới cổ đại - thứ khiến con người già nhanh đi thay vì giữ họ mãi tươi trẻ như các triết thuyết hiện đại. Tôi thấy ở khái niệm thế hệ của Ortega y Gasset, ở thơ Nguyễn Bắc Sơn và thơ Nguyễn Chí Hoan, có lẽ còn nữa nhưng tôi không biết.
Khách của Nguyễn Chí Hoan là câu chuyện của con người đương đầu với quá khứ cuộc đời mình, và thi nhân đã vượt qua nó với vẻ khinh thanh, không vương chút nào vị mật đắng, điều rất đáng lưu ý khi nhiều người cứ mãi chăm chăm nằm gai nếm mật đợi tuổi già, và do đó bộc lộ sự khả ố hoàn toàn lố bịch khi họ già thật. Để đạt được tuổi già, phải chiến thắng quá khứ của chính mình, kỳ công mà các nhân vật của Patrick Modiano luôn trong tình thế phải thực hiện. Một tình huống modianesque: một người hiện đang đinh ninh về một ý nào đó dựa trên kinh nghiệm quá khứ, nhưng đến một lúc, thấy một kỷ vật và y nhận ra mình đã nhớ nhầm. Modiano là một Proust có trí nhớ tệ, thường xuyên nhớ nhầm. Quá khứ không còn là tủ đồ để tiện tay lấy ra những vật quý, mà là một túi đen âm hiểm mà ta không biết trước thứ gì sẽ nhảy xồ ra. Quá khứ không thật thà và tĩnh tại, mà có lẽ, nó nham hiểm và náo động. Vô thức nham hiểm và quá khứ nham hiểm, điều có thể than phiền về Freud cũng tương tự điều có thể than phiền về Proust nếu so với Lacan và Modiano: vô thức quá hiền lành và quá khứ quá hiền lành, như thể một sân vườn mà người ta có thể dạo quanh nó.
Điều này rất quan trọng: khi viết về một nhân vật không hiểu chính bản thân mình lắm vì chưa trưởng thành - chưa già, cảm giác thường được dùng là nôn nao và bất an. Cảm thấy đất sụp đổ dưới chân mình, cảm thấy căn cước bị lung lay và sắp mất đi, nhân vật đó là một ông chủ Mỹ, một ông chủ Mỹ là một đứa trẻ có người cha nghiêm khắc kiểu Kafka. Cái ý thức là cái luôn nói mình thiếu, còn cái vô thức là cái luôn nói mình muốn, cuộc đời con người, theo tâm phân học, có lẽ chỉ là cố gắng bất lực trong việc phiên dịch từ vô thức sang ý thức, từ cái mình muốn sang cái mình thiếu. Khi một đứa trẻ khóc oe oe nói con muốn con muốn, chính người cha sẽ đưa đồ chơi cho thằng bé, như một sự áp đặt cái thiếu cho cái muốn. Với người Anh, cái muốn của nó được ý thức dịch thành luật pháp, với người Pháp thì sẽ là chính trị, đó là các hướng để ý thức dịch vô thức thành thực tại. Một đứa trẻ có người cha quá nghiêm khắc sẽ phiên dịch rất tệ cái muốn sang cái thiếu, và dẫn đến việc nó luôn tìm những thứ không thể làm thoả mãn nó. Một ông chủ Mỹ là người như vậy - theo Kurt Vonnegut. Và do đó, khi gặp một thứ mà vô thức thực sự muốn, ý thức lại không thể phiên dịch cái muốn ấy thành cảm giác mình đang thiếu đối tượng đó. Ông chủ Mỹ vừa khinh thường nghệ thuật vừa quyến luyến tác phẩm đó, ông ta cảm thấy nôn nao về danh tính, ý thức chao đảo trên lòng vô thức. Quá khứ từ thuở Plato được hiểu như là một thực tại rắn chắc ở nơi Ý Niệm, ta vào được quá khứ và có một món đồ ở đó. Cũng như ý thức luôn là ý thức về, nhưng vô thức và quá khứ của Modiano là vô thức và quá khứ không có đối tượng, ta biết mình quên nhưng chính vì thế lại không biết mình quên điều gì.
Đối với tôi, và trong sự đọc của mình, do họ cứ chăm chăm tôn thờ tương lai, nên dân tộc Mỹ cứ luôn trẻ trong mắt tôi. Dù biết trước là nó sẽ suy đồi đến thế ở thời kỳ Mạ Vàng, tôi vẫn bị tinh thần Mỹ quyến rũ, nhất là khi đọc Melville viết về số phận của dân tộc Mỹ. Thay vì có một cội nguồn chung trong quá khứ như các dân tộc cực lục địa, người Mỹ nối kết nhau bằng một viễn kiến tổ quốc ở tương lai, người Mỹ tiến lên trong lịch sử như đi về nhà. Trong “Jacket trắng”, Melville kể chuyện tàu Mỹ đua với tàu Pháp, và đang đua thì tàu Mỹ lạc đường đến một vùng biển kỳ lạ, như một phúng dụ cho việc vấn đề không phải là vượt qua châu Âu, mà là tìm một con đường khác, sứ mệnh dân Mỹ là phải đi con đường chưa ai từng qua lại.
Nhưng càng đi xa, có một vấn đề gắn liền với bản tính con người xuất hiện: sự tích luỹ. Các triết gia của rừng như Thoreau hay Emerson, họ càng tụng ca cái ngây thơ hay cái bản tính con người đến đâu, thì họ càng có bấy nhiêu ác cảm với sự tích luỹ (cả tài sản và kiến thức). Emerson thấy những chồng sách phủ đầy bụi thật khả nghi, và Thoreau quá lời khi tụng ca sự hoang dã của con bò rừng băng sông. Với họ, dường như sự tích luỹ sẽ giết chết tinh thần Mỹ, khiến Mỹ giống châu Âu.
Sự tích luỹ này dẫn đến một tầng lớp giàu có; điều ấy bình thường thôi, miễn là tầng lớp này đừng có khuynh hướng quý tộc. Ở Những người châu Âu, Henry James cho những người Mỹ giàu không quý tộc đụng độ với những người châu Âu quý tộc nhưng nghèo, và hẳn ông đã thầm cầu nguyện đừng để có cuộc hôn phối tạo nên những người vừa giàu có vừa quý tộc. Khi Edith Wharton được gọi là Jane Austen của Mỹ, người đầu bị John Dos Passos ghét, người sau bị Mark Twain ghét, thì đó là sự chứng nhận nước Mỹ cuối cùng cũng có cho mình một tầng lớp quý tộc. Dĩ nhiên, quý tộc Mỹ có những đặc thù riêng ứng với số phận Mỹ mà tôi đã đề cập trong bài Ba đường đời.
Sự chăm chăm về phía tương lai này còn in đậm lên trường phái triết học của ông anh trai Henry James. Đọc Trường phái Thực dụng của William James, tôi thấy một trường phái triết học cho phép các sự thật trái ngược nhau cùng tồn tại, một trường phái triết học rất phù hợp với đất nước của sự nhập cư với hàng trăm tôn giáo và nền văn hoá khác nhau đổ về, cứ để chúng trong những căn phòng khách sạn riêng biệt. Một thứ triết học rất cao bồi - nhân vật lùa các đàn gia súc về đúng chuồng, khi chỉ thấy những gì thay đổi tương lai là quan trọng và đáng để luận bàn, khi chỉ thấy những tư tưởng dẫn đến kết quả khác nhau thì mới khác nhau, hãy để họ tin những điều họ tin miễn là họ có thể sống chung với nhau. Lối sống của người Hồi và lối sống của người Kitô là như nhau nếu họ đều no đủ và không gây hại gì, các sự thật khác nhau có thể đồng đẳng với nhau. Một luận điểm rất hay của William James là cuộc tranh luận về nguồn gốc loài người đâu có giá trị gì, là Chúa tạo hay vượn tiến hoá thì cũng đâu thể thay đổi được gì, toàn bộ bút mực xoay quanh Darwin nên dành cho cuộc tranh luận về kết cục của vũ trụ và cũng là kết cục của loài người. Nếu vũ trụ này thật sự sẽ hết nhiệt và sụp đổ, thì loài người cần thay đổi các thiết chế của mình khác với hiện tại, cũng như cần thay đổi nếu thật sự có ngày phán xét. Còn việc loài người từ đâu ra thì cũng đâu buộc ta phải thay đổi điều gì, dù là quy định hành chính nhỏ nhặt nhất.
Cùng thời với Melville, ta cũng có một nhân vật cứ khăng khăng dân tộc mình là dân tộc Chúa chọn, là một dân tộc trẻ sẽ gánh vác vận mệnh thế giới, đó chính là Hegel và thế giới Giéc-manh. Nhưng khác với dân tộc Mỹ - từ trẻ đến trưởng thành, ở dân tộc Đức, tôi chỉ thấy câu chuyện từ trưởng thành đến già, khi họ phải vượt qua các dục vọng và ẩn ức tuổi trẻ, hai bậc thầy của câu chuyện này là Thomas Bernhard và Ingeborg Bachmann. Tôi chưa vội kể về Thomas Bernhard vì còn phải chờ đọc Thầy cũ. Tôi sẽ kể về những thông dịch viên của Ingeborg Bachmann trước. Có cosmopolitan của các dân tộc trẻ và cosmopolitan của các dân tộc già, giấc mơ cosmopolitan của các dân tộc trẻ là quốc tế ngữ, tức là: từ mớ hỗn độn ngẫu nhiên của lịch sử, người ta sẽ đẽo gọt và chỉ giữ lại những phần hợp lý nhất, để tạo thành một ngôn ngữ lý trí nhất (ít ngoại lệ nhất), một giấc mơ Babel mới. Cũng như chính ngôn ngữ ấy, nhân loại dùng nó sẽ là nhân loại lý trí nhất, và họ sẽ trông y hệt nhau. Có cuốn sách kể về người Babel, về giai đoạn ngay trước khi thảm hoạ xảy ra, về một hệ ngôn ngữ hoàn hảo đến mức không còn chỗ cho nghĩa bóng, và việc dùng sai chỉ có thể do cố tình (tội dùng sai từ bị phạt roi, có miễn cho người điên). Sách kể tiếp, sau khi phá huỷ tháp Babel, Chúa phân ly con người bằng cách bãi bỏ hình phạt roi này và lấy đi quyển từ điển. Nhưng, có một dòng ghi chú nguệch ngoạc bí hiểm bên lề sách, việc bãi bỏ hình phạt roi, là để phá huỷ tháp Babel, và Chúa không buồn lấy quyển từ điển. Tôi tin dòng ghi chú này, vì ai cũng biết, Chúa có riêng một quyển từ điển chỉ toàn là những câu chuyện, đã dùng một lần trong tuần Sáng Thế.
Trở lại với giấc mơ cosmopolitan của các dân tộc già, như ngôn ngữ văn chương Ingeborg Bachmann, người ta sẽ chuộng cách học nhiều ngôn ngữ nhất có thể, và không phải một con người đoan chắc vào lý trí của mình, con người cosmopolitan của Ingeborg Bachmann là con người lạc lối bơ vơ không nhà. Đúng như câu chuyện về một ông vua khi đã về già thì từ bỏ tất cả để sống lang thang. Sự vô định mà nhiều bạn văn của tôi từng gọi là không bám vào đâu, chính thế, đó là sự nhẹ và chậm mà chỉ khi thực sự đã già thì con người ta mới đạt đến. Thomas Bernhard cũng là một Proust, nhưng là một Proust khi đi dạo quanh khu vườn ký ức thì nhận ra mình bị dị ứng phấn hoa, một Proust mà mỗi ký ức thay vì là một thoáng nồng nàn thì lại là một vết kim châm. Thomas Bernhard cố quên nhưng không thể quên, dòng thác bùn của quá khứ cứ đổ ào ào lên đầu lên cổ ông, kỷ niệm thảm hại này kéo theo kỷ niệm thảm hại khác. Thay vì lên men như rượu vang, nó lại thối ung như trứng. Ngôn ngữ cũng thế, nó không phải là căn nhà có nệm êm chăn ấm, nó cũng nham hiểm như quá khứ, nó đầy định kiến và tội ác. Để dùng nó, người ta hoặc là lang thang giữa nhiều ngôn ngữ như Ingeborg Bachmann (và yêu sự ngây thơ của mỗi loại ngôn ngữ) hoặc là phải im lặng như Thomas Bernhard. Đó là thứ cosmopolitan duy nhất mà các dân tộc đã già tận hưởng được.
Nếu không, các dân tộc già sẽ lên men lố bịch như các thế phẩm của Bruno Schulz, ngược lại với sự chưa chín đầy ấu trĩ của Gombrowicz ở nước Mỹ, hãy đọc Đừng để ngày trôi đi của Saul Bellow.
Viên Trường
