CHƯƠNG VIII: HỌ ĐUỔI THEO, VELIS ET REMIS
Và bây giờ ta sẽ nghe kể, khi bị cám dỗ bởi ma quỷ hay thiên thần, cùng một ngàn dặm cách đất liền, chúng tôi đã bước vào cuộc hải trình hướng về phía tây ra sao.
Xin nhớ cho, lúc chúng tôi bắt đầu phiên gác thì đã là nửa đêm; và đến lượt tôi cầm lái thì dĩ nhiên phải tìm cách tránh. Dựa vào một cái cớ có vẻ hợp lý, tôi thuyết phục được gã đồng gác cô độc đảm nhiệm việc này; nhờ vậy tôi vừa được rảnh tay, lại vừa khéo sắp xếp cho gã khuất mắt. Vì là một gã béo ú, tọng “bánh nho khô” như hạm và vốn được cho là con trai một lão nông dân, tôi chắc chắn hắn sẽ theo lối cũ và khởi sự gật gù bên vô lăng lái. Và về phần đội trưởng của phiên canh - thợ phóng lao - hắn thừa kế đống khoác chẽn cũ mèm làm tổ ngủ cho mình, ở mạn phía gió của cột buồm lái, được người tiền nhiệm để lại cho thật ấm thật êm.
Trời còn tối hơn so với chúng tôi dự tính, chẳng có lấy một vết trăng; và làn khói tím thẫm, đôi khi bắt gặp lúc dạ vãn gần đường xích đạo, đã che khuất hờ những vì sao.
Trong khi chờ tầm hai chục phút cho tới khi người cuối của phiên trước đi xuống, tôi ra hiệu cho Jarl, và chúng tôi cởi giày. Thế rồi ông tuột xuống boong mũi, và tôi thong thả đi từ đuôi tàu qua boong lái. Hết thảy đều tĩnh mịch. Ba lần tôi quơ tay trước mặt gã bị thịt đang say ngủ ngay vô lăng lái, và ngay giữa hắn và ánh đèn của la bàn từ.
Mark, thợ phóng lao, thì không hề dễ ngủ. Tôi sợ lại gần hắn. Tuy vậy, hắn nằm yên lặng; nhưng dù là ngủ hay thức thì cũng không thể chậm trễ thêm nữa. Liều cũng phải làm, khi thời gian thúc bách. Và khi đôi tai chúng ta như tai của những con chó săn chỉ điểm để bắt âm.
Chúng tôi vào việc, chẳng vội vàng nhưng nhanh gọn êm ru. Các trữ hàng nhiều loại của chúng tôi thì được kéo từ các chỗ giấu kín, rồi được đưa lên thuyền, treo trên mạn dưới gió của tàu, bên mạn hướng xuống biển, một điều không thể thiếu trong nỗ lực trốn thoát. Và dù vào lúc mặt trời lặn, con thuyền vẫn ở bên mạn xuôi gió nhưng, như chúng tôi đã lường trước, các buồm của tàu đã đổi hướng trong phiên canh đêm, cho nên mạn đã ở dưới gió[16].
Với nỗ lực khiêng thùng tô-nô nước đóng vụng và nâng nó lên thuyền, chúng tôi thấy, vì bị giàn dây níu cản trở, chẳng thể xong việc mà không gây ra tiếng động; đã vậy sẽ không tốt cho thuyền khi hạ thủy. Tuy vậy, vào giờ chót, một kế sách đã được nghĩ ra. Buộc một sợi dây dài vào thùng tô-nô, vốn đã được bịt kín hoàn hảo, chúng tôi thận trọng thả nó qua mạn tàu, thả đủ dây để đuôi tàu kéo theo nó cho chắc chắn, cũng để không bị va vào lớp đồng ở thân tàu. Đầu còn lại của dây thì chúng tôi cố định vào đuôi thuyền.
May thay, chỉ còn làm mỗi việc này là xong; còn về thùng tô-nô thì làm cản trở cho đường đi của tàu dưới nước, ảnh hưởng bộ phận lái đến nỗi hất tàu lên thấy rõ trong gió. Và vì làm cho bánh lái hoạt động, điều này nhanh chóng đánh thức gã bị thịt đang đóng quân tại đấy, nếu hắn còn chưa tỉnh ngủ. Việc chúng tôi thả thùng xuống biển thực ra lại giúp ích rất nhiều: nó làm giảm tốc độ tiến của con tàu - mà vốn dĩ suốt đêm cũng không mấy nhanh, do gió nhẹ. Nếu con tàu mà tiến nhanh, thì mọi hy vọng trốn thoát mà không buộc nó phải dừng lại trước tiên hẳn đã là chuyện điên rồ. Sự thể đã vậy, việc táo bạo duy nhất đêm ấy cũng đã làm xong, đó là hạ thủy khi con tàu hãy còn rẽ làn nước mặn, nhưng chỉ ở mức độ vừa phải.
Tất cả bây giờ đã sẵn sàng: các cần trục đung đưa, các dây buộc lỏng ra, và con thuyền treo lơ lửng; khi ấy, nắm lấy các đầu dây pa-lăng, chúng tôi lặng lẽ bước lên thuyền, mỗi người một đầu. Trọng tải của thùng tô-nô phía đuôi tàu giờ kéo con tàu theo chiều ngang, để cho các sợi dây pa-lăng của tàu căng cứng. Nó rung lên như một con cá heo. Song, chẳng sợ tiếng ùm văng lên khi con thuyền ào xuống nước, chúng tôi rời khỏi tàu gần như lặng lẽ như hơi thở rời khỏi thân xác. Nhưng việc này không bàn tới, và chúng tôi lập kế hoạch sao cho phù hợp.
“Sẵn sàng hết chưa, Jarl?”
“Sẵn sàng.”
“Có người xuống biển!” Tôi gào qua chiếc la bàn; và những sợi dây thừng trượt như chớp khỏi bàn tay phồng rộp của chúng tôi cùng một cú lao mạnh con thuyền vỗ vào lưng biển. Một cú quay và lao giật, một lực kéo căng khủng khiếp trên các pa-lăng khi chúng tôi chìm vào rãnh sóng, được chiếc thùng tô-nô kéo giật lại, và con dao của chúng tôi cắt đứt các dây pa-lăng - chúng tôi không mạo hiểm tháo ròng rọc - các mái chèo đã sẵn sàng, và con thuyền đổi hướng, với mũi thuyền ở mạn dưới gió.
“Có người xuống biển!” bấy giờ có tiếng la từ mũi đến đuôi. Ngay lập tức chúng tôi nghe tiếng thình thịnh và la hét bàng hoàng của các thủy thủ, khi họ lao ra khỏi những cơn mơ vào bóng đêm bí hiểm.
“Có người xuống biển! Có người xuống biển!” Lòng tôi cắn rứt khi nghe tiếng thét kinh sợ của con người văng vẳng từ vòm trời đêm.
“Hạ lái!” được thuyền phó nhanh chóng thốt ra. “Chằng lại xà buồm chính! Nhanh chóng ra thuyền! Chuyện này là thế nào? Một người xuống biển rồi? Được lắm! Cứ chờ đấy, lên các thuyền còn lại!”
Trong lúc đó các thủy thủ vừa gào vừa kéo căng các dây căng buồm.
“Cắt! Cắt hết! Hạ thấp xuống! Hạ thấp xuống! các thủy thủ mất bình tĩnh gào lên, những người đã vọt sẵn vào các thuyền.
“Dừng tàu, và giữ vững mọi thứ,” thuyền trưởng la lớn, rõ là vừa phóng lên trên boong. “Một thuyền đi theo đủ rồi. Phục vụ đâu! Soi đèn từ cột đỉnh buồm lái. Bớ thuyền! Bắt được tên đó chưa?”
Không có tiếng trả lời. Giọng ấy vang ra từ một đám mây; con tàu trông mờ mờ như một bóng ma. Chúng tôi đã thôi chèo, và lúc này tay liền tay kéo sợi dây thừng buộc chiếc thùng tô-nô, cũng được chúng tôi cũng nâng lên thuyền liền sau đó, chúng tôi trở lại với các mái chèo.
“Chèo đi! Chèo đi, các anh em! Và đưa hắn về!” lần nữa thuyền trưởng gào lên.
“Dạ, dạ, sếp ơi,” Jarl trả lời theo quán tính, “chèo cật lực hết sức sếp ơi.”
Và chúng tôi đã chèo, đến chừng chẳng còn nghe thấy gì từ con tàu ngoài tiếng nhôn nhao rối ren; và, chốc chốc, tiếng gào khản của lão thuyền trưởng, đã quá xa để nghe ra.
Lúc này chúng tôi giương buồm đón làn gió nhẹ; thẳng vào bóng đêm và chết điếng ở mạn dưới gió, chúng tôi vừa chèo vừa giong buồm tới khi hừng đông ló dạng.
[15] Tiếng Latin, nghĩa là hết tốc lực.
[16] Trong chương V và chương VI, ta đã biết con thuyền trong tầm ngắm của Taji là ở đằng mũi thuyền, bên mạn phải; vậy trong chương này, ban đầu mạn phải của tàu là mạn xuôi gió (thổi hướng lên trên), đến khi vào phiên canh đêm thì gió đã đổi hướng, cho nên lúc này mạn phải là mạn dưới gió (thổi hướng xuống biển).
