CHƯƠNG LXIX: CẢ ĐOÀN BÀN LUẬN, VÀ RÂU BÍM THUẬT LẠI MỘT HUYỀN THOẠI
Ở Valapee không thấy dấu vết của người con gái chúng tôi đang tìm, và cũng không mấy hài lòng với thái độ khúm núm của người dân và cả những trò xuẩn càn của Peepi chúa tể họ, chúng tôi sớm đi khỏi đảo.
Vậy khi chúng tôi dong buồm, Vua Media đã ban bố một sắc lệnh thân mật. Vua phán, rằng niềm vui hoàng gia của mình, ấy là suốt cuộc hải trình này ta nên tạm hoãn mọi cứng nhắc và lễ nghi trọng thể: không được tạm hoãn: không được để điều gì gây hại đến sự thoải mái của cả đoàn. Nhằm đẩy mạnh kế hoạch đáng yêu này, ông đã tháo bỏ các biểu tượng hoàng gia, cởi vương miện, cất quyền trượng, và đoan chắc với chúng tôi rằng ông sẽ không mang chúng trên người, trừ những lúc chúng tôi cập bờ, và sẽ mãi duy trì như vậy.
“Chẳng phải tất cả chúng ta đều là bạn và là bằng hữu sao?” ông nói. “Vậy để ta là bằng hữu và bạn bè. Ta thôi giương cung, và các người cũng như vậy.”
“Nhưng chẳng phải chúng ta là đáng tôn quý sao?” Babbalanja hỏi.
“Nếu sự tôn quý mà được tự do và tự nhiên thì cứ tôn quý ra sao tuỳ ý, miễn đừng cứng nhắc là được.”
“Vậy xin hãy như thế,” Babbalanja nói; “và, thưa chúa tể, bỗng tôi chợt nhớ mình thường có cái suy nghĩ, rằng hễ những ai toan ngự loan giá, thì những kẻ ấy đều ngu xuẩn và phù phiếm thay thảy. “Vậy, thưa chúa tể,” thoải mái bắt chéo chân chỗ ông nằm “đức vua đây, đấng cho vời các sứ giả của mình bằng một cái hất đầu uy nghi, chắc là vừa mới hết đau răng. Suy nghĩ này chắc sẽ làm vẹo cái cột sống rất bảnh sau lưng ngài ấy.”
“Cẩn thận đấy, ông! ở đây có vua đang nghe.”
“Xin bỏ qua cho, thưa chúa tể; tôi chỉ đang tranh thủ cái quyền miễn trách nhiệm đã được ban cho cả đoàn. Sau này, xin ngài cho phép một thần dân được nổi loạn chống lại sắc lệnh thân mật ấy của ngài, bởi tôi sẽ chẳng thoải mái như thế nữa đâu.”
“Nói hay lắm, Babbalanja; lại gần đây; ngay chỗ này, bắt chéo chân sát bên chân ta; ta thấy, tầm vóc của ngươi đã cao hơn được cả sải rồi đấy. Vee-Vee, mang bầu rượu ra cho chúng ta; thế, chuyền cốc ra cho mọi người. Nào, Yoomy, hát một bài!”
Và một bài, đã được hát.
Và cứ thế chúng tôi dong buồm; thích thú ngả mình trên những tấm thảm trải dưới mái howdah.
Cuối cùng, chúng tôi tiến đến gần một tảng đá, gọi là Pella, hay Vụ Trộm. Một vách đá cheo leo, xanh lục, bật khỏi nền của nó, và hắt một cái bóng như một cái hang lên đầm phá bên dưới, nước ẩm nhỏ long tong.
Băng qua vách đá ấy giống như là được tìm thấy chính mình, như mấy thợ săn biển nọ, vô tình ở bên dưới cái hàm há rộng của một con cá voi; nếuthứ mà ngoạm xuống, thì chỉ có nuốt chửng bạn vào mồ. Nhưng đã quen với tảng đá, các tay chèo của chúng tôi chỉ ngửa đầu để đón lấy những giọt nước sảng khoái, mát rượi từ đám rêu bên trên.
Lau những hạt châu lấp lánh trên râu, ông già Mohi xoay lại chỗ ông ngồi, ngay bên ngoài tán che, long trọng tuyên bố, rằng nhờ uống vào thứ nước này mà lắm kẻ đã được chữa khỏi tham vọng.
“Làm sao lại như thế, ông già?” Media hỏi.
“Bởi thứ nước này đã thấm qua tro của mười vua, xưa được chôn trong lăng mộ, sâu trong lòng tảng đá.”
“Các vua hùng mạnh, và lẫy lừng, chắc hẳn,” Babbalanja nói, “cốt của họ được xem là đáng lưu trong hũ quý hũ bền. Vậy, Mohi, xin cho biết tên và chiến công khủng khiếp của họ.”
“Than ôi! chỉ có lăng mộ của họ là còn.”
“Chẳng nghi ngờ gì, như nhiều người khác, họ đã dựng nên lăng mộ ấy cho chính mình. Tôi dám chắc, họ yên giấc đấy, ông già. Mà tôi cũng lấy làm nghi ngờ lắm, nếu như, tảng đá ấy mà nứt, thì ta có thấy nhìn tro cốt của họ chăng. Mohi, tôi không nghĩ các vua ấy có xương mà chôn.”
“Thế là, Babbalanja,” Media nói, “vì ngươi bóng gió rằng họ chẳng có hồn để mà lìa, nên ngươi gạt bỏ họ hết thảy; phủ nhận rằng họ thậm chí còn không tồn tại.”
“Mười ngàn lần thứ lỗi, thưa chúa tể, tôi nào thiếu lễ độ như thế khi tưởng nhớ những người khuyết danh đã chết mà danh tiếng tăm lẫy lừng. Nhưng dù họ có từng sống trên đời này hay không, thì lúc này hết thảy đều như nhau cả. Song, cứ cho rằng họ từng sống; thì, nếu cái chết là một cái chết câm chết điếc, thì một cuộc rước khải hoàn trên mồ mả của họ chẳng mang lợi lộc gì cho họ. Nếu được sinh ra trong ánh sáng thì Mardi hẳn sẽ là những kỷ niệm vặt vãnh nhất với họ. Hoặc, biết đâu chừng, các kỷ niệm của họ có khi là một sự mất trí nhớ hoàn toàn về những điều trần thế; và bản thân họ không phải là chính họ, như loài bướm chẳng phải ấu trùng.”
Yoomy nói, “Vậy thì Babbalanja, ông xem câu ấy là một ví dụ phù hợp cho sự thay đổi diệu kỳ sẽ xảy ra với con người sau khi chết ư?” “Không; vì phép loại suy có một kết quả không thoả đáng. Từ trạng thái nhộng, con tằm sẽ chỉ trở thành một con sâu bướm, vốn sẽ nhanh chóng chết đi. Tồn tại lâu nhất của nó là ở dạng một con sâu. Phù phiếm, tất cả đều là phù phiếm, Yoomy, để mà tìm trong tự nhiên cái bảo đảm thực chứng cho các nguyện vọng của chúng ta. Xuyên suốt mọi khu vực của mình, bà mẹ thiên nhiên có vẻ hứa hẹn một sự bất diệt của sự sống, thế nhưng là sự hủy diệt của tồn tại. Hoặc, như Bardianna xưa đã phán, nếu không chống lại chúng ta, thì tự nhiên chẳng dành cho chúng ta.”
Media đứng dậy, phán: “Babbalanja, ngươi đúng là đã coi thường cái sự cận thần; dám nói về giun về sâu với ta, một vị vua và một á thần! Để giữ cho được danh thơm tiếng tốt, với chủ đề của ngươi, ta đề nghị một chủ đề hợp ý hơn.”
“Xin thứ lỗi một lần nữa, thưa chúa tể. Và vì ngài muốn, chúng ta hãy bàn luận về chủ đề ấy. Trước tiên, tôi xin đưa ra một câu châm ngôn ai ai cũng biết, rằng ngay trong toàn bộ sự lưu danh hậu thế, sự lưu danh duy nhất, là thứ vô giá trị. Xin chúa tể tôi đừng mếch lòng. Đối với những tham vọng quý tộc, việc lưu danh mai này cũng có thể là thứ để ta liệu trước. Nhưng khi phân tích kỹ, cảm giác thương hàn ấy của họ có khi chẳng khác gì một tưởng vọng lung linh, thứ mà giờ đây, khi còn sống, họ được công nhận là những người sẽ nổi danh khi được phủ vải liệm, như khi còn thắt đai lưng.”
Yoomy nói, “Babbalanja, vậy còn những việc lớn và việc tốt, mà các triết gia rất hay luận bàn ấy thì sao: chẳng phải thật dễ chịu khi tin rằng kỷ niệm về chúng sẽ sống lâu hơn chúng ta sao; và cả chính chúng ta nơi chúng?”
“Giờ tôi xin lên tiếng,” Babbalanja nói, “về thói háo danh; là thứ thậm chí đã nguôi đi, như cơn khát đã được dịu bớt giữa sa mạc, chẳng chờ cho được diễm phúc, mà chỉ mong được cái làm khuây khoả nhất thời; và là thứ chẳng câu nệ gì sất miễn là thoả được cơn khát. Nhưng để tôi nêu đại ý. Số là chưa đầy một tiếng trước, Râu Bím đã kể cho chúng ta nghe câu chuyện về quốc vương Ottimo ấy, người khi còn sống không hề có mùi, đã lấy làm vui sướng vô cùng trước viễn cảnh được xức dầu thơm và tẩm xác, khi ông qua đời. Nhưng chẳng phải Ottimo là con người ngông cuồng hơn hết thảy mọi người sao? Vì chẳng mấy ai ra lệnh cho tấm vải liệm của mình được kiểm tra chất lượng trước hạn. Họ còn lo âu hơn nhiều về chất vải của mấy tấm vải trải giường mà những chân những tay còn sống của họ tĩnh dưỡng ở đó. Và, thưa chúa tể, với một số ngoại lệ hiếm hoi, chẳng phải toàn thể Mardi, nhờ các hành động của nó, tuyên bố, rằng được khét tiếng lúc này thì tốt hơn rất nhiều, so với được danh thơm về sau hay sao?”
“Một suy nghĩ tầm thường, thưa chúa tể,” Yoomy nói. “Chẳng phải Bonja đáng thương, nhà thơ không được đánh giá đúng, đã tự an ủi lấy mình vì sự thờ ơ của những người đương thời, bằng các suy nghĩ khuyến khích về tương lai hay sao?”
“Nói đơn giản là ông ấy cứ việc nhớ về vụ thu hoạch huy hoàng những tuyên dương mà hồn ma của ông ấy sẽ thu hoạch về cho mình,” Babbalanja nói; “còn Banjo, — Bonjo, — Binjo nào, — tôi chưa từng nghe qua về người này.”
“Tôi cũng thế,” Mohi nói.
“Ta cũng thế,” Media nói.
“Con người đáng thương!” Babbalanja la lên; “Tôi lấy làm lo rằng vụ thu hoạch của ông ta còn chưa tới mùa.”
“Than ôi!” Yoomy la to; “ông ấy đã chết hơn cả thế kỉ trước rồi.”
“Nhưng nhân tiện anh nói về các nhà thơ không được đánh giá đúng, Yoomy,” Babbalanja nói, “Tôi nói thật với anh điều này được không?”
“Nói đi,” Mohi nói, vuốt râu.
“Cái người, mà hôm nay được mọi người đều nhìn nhận như một con số không, nếu sau này mà có được nhớ đến, thì chắc chắn hắn cũng sẽ được nhìn nhận tương tự. Bởi lẽ người ta có nhiều khả năng được đánh giá cao hơn khi còn sống so với việc bị đánh giá thấp khi qua đời. Và để bảo toàn danh tiếng của bạn, thì bạn phải chết.”
“Ông mà cũng có cái suy nghĩ gây nhụt chí thế ư. Nhưng hãy trả lời, rằng tôi nghĩ Vua Media cũng chỉ là một người trần mắt thịt như ông; thế bây giờ tôi để lại tiếng thơm cho đời thế nào đây?”
Babbalanja cân nhắc hồi lâu rồi nói, “Khắc nó, thưa chúa tể, khắc cho thật sâu lên một tảng đá nặng, rồi thả cho nó chìm, úp mặt xuống biển; bởi những nền biển sâu không thể thấy được thì lâu bền hơn những đỉnh núi hiện ra tỏ tường.”
Dong buồm qua Pella, chúng tôi thấy mặt ở bên kia của nó; và an vị trong một kẽ nứt trên cao, là một ngư phủ cô đơn; cô độc như một con hải cẩu trên một tảng băng trôi; sợi dây câu bất động của người này thì ở dưới nước.
“Người kia băn khoăn gì về mười vua vậy nhỉ,” Babbalanja nói.
“Mohi,” Media nói, “ta nghĩ còn có một truyền thống khác liên quan đến tảng đá này: hãy kể cho chúng ta nghe.”
“Thời xưa các linh thần và người khổng lồ, từng sống ở những vùng đất khô cằn, cách đó không xa so với rạn san hô xa nhất của chúng ta, thế nhưng từ khi bị chìm xuống đại dương, một băng tiểu yêu ác độc, đố kỵ, dáng cao chừng cả mấy fu-lông, với những cánh tay dài vô hạn; những kẻ cứ chốc chốc lại ném những cái nhìn thèm thuồng lên các hòn đảo ngập hoa của chúng ta. Chúng đã ham muốn từ lâu; đến chừng cuối cùng, chúng lội qua biển, bước trên rạn san hô, chiếm lấy hòn đảo gần nhất, lăn hòn đảo nhỏ ấy, tới lối ra gần đó.
“Nhưng nhiệm vụ ấy không hề dễ dàng, và rạng đông đã khiến chúng phải bất ngờ ngay trong cuộc trộm cắp trắng trợn; đang khi gây ra cho vùng đất dấu yêu một cuộc dâng trào và lộn nhào gan góc. Mặc hòn đảo đáy chổng lên trời và lơ lửng giữa chừng, các vườn cây thì ở dưới nước, các nền đất thì ở trên cao, chúng nhanh chóng chuồn mất; trong khi vội vàng quá mức, thì đã bỏ rơi một tên đồng phạm, vất vả vô ích để giải phóng bàn chân của nó bị kẹt dưới vùng đất lộn ngược.
“Tên đồng phạm đáng thương ấy bấy giờ gào lên một tiếng thét, như để đánh thức thần Upi, hay vị thần Cung Thủ, đang duỗi mình trên một tảng mây dài phía Đông; đã đã ngay lập tức quyết định lấy kẻ chậm chạp bất đắc dĩ ấy làm gương. Giật lấy cây cung, ngài bắn một mũi tên. Nhưng do bắn lố điểm đích, cây cung đã xuyên thấu mũi đất trên cao của mọt hòn đảo lân cận; tạo thành một cái vòm ở đó, vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Mũi tên thứ nhì, song, đã hoàn thành nhiệm vụ của nó: tên khổng lồ đã chết và chìm sóng soài xuống đáy.”
“Và giờ thì,” Mohi thêm, “nhìn qua mép mạn, và bạn sẽ thấy di hài của hắn đã hóa đá thành những sườn san hô trắng.”
“Kìa, chúng đấy,” Yoomy nói, nhìn xuống nước chỗ chúng lấp lánh. “Một truyền thuyết kỳ khôi, nhỉ Râu Bím.”
“Rất thú vị,” Media nói.
“Dẫu có như vậy,” Babbalanja nói. “Nhưng có khi chúng ta đã phí thời gian mà nghe câu chuyện này; vì dẫu chúng ta có biết đi chăng nữa thì nó cũng chẳng làm chúng ta khôn hơn.”
“Đừng yếm thế,” Media nói. “Không có sự gì tiêu khiển gì là phí thời gian cả[6].”
Đăm chiêu một lúc, Babbalanja đáp, “Thưa chúa tể, câu châm ngôn ấy có lẽ nó luôn đúng; nhưng nếu như đã nói câu này thành sáu từ, thay vì sáu tiếng, thì ngài đã thốt ra một câu hay hơn và sâu sắc hơn.”
[6] Nguyên văn “no pastime is lost time”
