CHƯƠNG LXIII: ODO VÀ CHÚA TỂ CỦA NÓ
Giờ là lúc để đi sâu vào mô tả hòn đảo này và chúa tể của nó.
Bắt đầu với Media: là một quý ông ga lăng và là một vị vua. Ông xuất thân từ một dòng dõi đẹp tướng. Trong gia phả vô tận của ông, thần thánh xét hàng thập phân, các vua vô số, cùng các anh hùng, tù trưởng, thầy tế đông đảo. Mà ông cũng không phải đích thân đi tạo ấn tượng sai lầm về nguồn gốc của mình. Ông không phải là hậu duệ xa xôi của người lùn, là kẻ thấp hèn nhất trong dòng giống đang đà suy thoái. Ông đứng như một cây cọ; quanh đầu cột lá ô rô chẳng rũ xuống tao nhã những mái tóc mềm, cho bằng những lọn tóc trên vầng trán cao quý của Media. Tay ông khỏe để vung dùi, hoặc để ném lao; và thật uy lực, tôi thiết nghĩ, quanh vòng eo người thiếu nữ.
Vậy là bấy nhiêu điều về Media. Giờ ta bàn đến đảo của ông.
Cuộc dạo chơi khoan khoái của chúng tôi đã cho thấy bản thân nó là một thế giới tròn, nhỏ nhắn; đầy vẻ đẹp như một khu vườn; chìm trong những vườn cây mê hoặc; được tưới tắm bởi những dòng suối chảy khắp; và được phủ lá luống cọ viền quanh, có rễ hút dinh dưỡng từ nước. Và tuy rằng có rất nhiều ở các khu vực khác thuộc Quần Đảo, thế nhưng ở Odo lại chẳng có lấy một trái mít bột nào. Một chi tiết đáng chú ý, ta có thể thấy ở những vùng này, nơi các đảo nằm san sát nhau, thế mà lại quá khác nhau về thổ nhưỡng, đến độ, có một số loại trái cây thì phát triển tốt ở đảo này, và xa lạ ở đảo kia. Nhưng đảo Odo trứ danh vì những trái ổi, mang hương vị sánh ngang một đôi môi mới hôn; và cũng trứ danh vì những trái nho, mà cốt nho của nó đã khiến cho bao nhiêu người cười và bao nhiêu người khóc.
Ngoài khu vực đông dân nơi Media ở, còn có những cụm dân cư khác ở Odo. Tầng lớp cao hơn đang sống, tản mác, trong các hộ gia đình riêng biệt; nhưng họ không phải là các ẩn sĩ. Một số vùi mình giữa lòng những lùm cây râm mát, rung rinh trong gió. Số khác, thích ở một nơi gần biển, sống bất di bất dịch ngoài bờ cát trong những chiếc lồng tre nhỏ; để khi sáng ngày họ đã ùa ra với những tiếng kêu vui tươi, và đằm mình vào bồn nước mát lạnh, với mép bồn bọt sóng là ngưỡng cửa nhà họ. Số khác nữa thì như những chú chim, làm tổ giữa những góc rừng trong nội địa được dựng trên cao; để mọi thứ bên dưới, và xanh mờ, bạc nhược trải dốc trái tim đập rộn ràng của đảo.
Các tù trưởng và các nhân vật lỗi lạc vui vẻ ấy đã sinh sống như thế. Còn các dân thường, gồm các nông nô, và các Helots, các nô lệ chiến tranh tù đày, sống ở những nơi kín đáo, khó tìm. Một nơi mà, với người ngoài, toàn bộ hải đảo trông vô tư và xinh đẹp. Nhưng sâu trong các hẻm núi và khe đá, các thụ tạo ấy sống trong các hang động hôi thối, trong hang thú, chứ chẳng phải nhà người; hoặc họ xây cho mình những cái chuồng từ cành cây mục — bởi họ cấm không được bén mảng đến những cây còn tươi tốt — mà khúc ruột mốc của chúng chứa đầy sâu bọ. Lo lắng sẽ bị mắc một loại ôn dịch nào đó, xuất phát từ cái nơi dơ dáy này, nên các tù trưởng ở Odo hiếm khi đi qua con đường ấy; và đi tham quan trong những nơi ở xanh tươi của họ, rồi rót rượu, và hái quả từ những rừng cây ăn trái tốt nhất, tự hỏi làm sao bọn người bẩn thỉu ấy lại có thể chui rúc trong bùn nhơ, và trưng ra mấy bộ mặt vàng bủng như thế. Nhưng họ có khi nào đem tổ ấm đến cho người khác bao giờ; họ có bao giờ ra sức mà kéo người ta khỏi chỗ bùn nhơ ấy; họ chẳng rộng cửa mở vườn cây ăn trái; cũng chẳng can ngăn những lệnh phán đám người làm thân trâu ngựa này vào chỗ đang sống mà như đã chết rồi. Đúng là thảm cảnh! để thấy những Helots vai rộng, còng lưng trong các hầm: do con người đào nên, nhóm ba, và đồng tâm: hầu như bao quanh đảo này. Và ở trong đấy, được nuôi bằng thứ đất mùn nhớp, và đọng sương tự nhiên bởi trời, và bởi mồ hôi đắng của con người, mà những củ Khoai Môn bổ dưỡng ấy phát triển rất mạnh.
Lao động nhọc nhằn là định phận con người; nhọc nhằn đầu óc, hay nhọc nhằn đôi tay, hay nỗi thống khổ còn lớn hơn cả, nỗi thống khổ và tội ăn không ngồi rồi. Nhưng một khi con người làm việc vất vả và thí mạng mình cho các chủ nhân nắm giữ mạng sống của họ — thì, thì, tâm hồn gào lên, và từng gân máu vỡ toác. Những nông nô tội nghiệp này cũng vậy. Và chẳng mấy ai trong số họ lựa chọn khác ngoài tỏ ra là những kẻ thú tính.
Giờ đây ta cần nói, liệu Odo không phải là vùng đất của niềm sung sướng thuần khiết, và dồi dào không vơi? — Odo, trong nơi ẩn náu của nó những đứa con chối bầu sữa mẹ, chẳng có nguồn dưỡng chất nào bởi đấy chảy ra. — Odo, trong những rừng cây tối tăm, ám ảnh thâm sâu, khi băng ngang qua thì bạn nghe những tiếng kêu thảm thiết nhất, và những giọng nguyền rủa Media. Ở đó, con người bị roi vọt; tội của họ, là tội dị giáo; tội dị giáo ấy, là Media chẳng phải á thần. Vì điều này mà họ thét lên. Trước đây cha ông họ đã từng thét lên; cha ông họ, những người, bị tra tấn, đã nói rằng, “Chúng tôi lấy làm hạnh phúc được kêu rên, để con cái của con cái chúng tôi sẽ được vui mừng.” Thế mà con cái của con cái họ đã kêu gào. Nhưng, cả những người này, cũng vọng lại tiếng các thế hệ trước, và lớn giọng thề nguyền, “Cái hố đào cho chúng tôi sẽ cho thấy nấm mồ kẻ khác.”
Nhưng ta hãy cho qua toàn bộ chuyện này. Để nhìn ngắm, và để rong chơi khắp nơi nghỉ ngơi, Odo có vẻ là một vùng đất hạnh phúc. Những cây cọ vẫy chào — dẫu rải rác đâu đó bạn nhận thấy một cây khô héo và tê dại; những đóa hoa bừng nở — dẫu những đóa đã chết thì héo tàn thối rữa; những ngọn sóng chạy dọc bờ biển trong vui sướng — dẫu khi sóng rút, đôi khi chúng để lại những xương xẩu lẫn với vỏ sò.
Nhưng ngoài những điều này ra, khắp đảo chẳng thấy dấu hiệu nào của cái chết. Liệu người ở Odo đã sống từ ngàn đời? Liệu suối nước Ponce de Leon đã từng ở đấy? Bởi lẽ khắp đảo, bạn chẳng thấy những hàng ngũ nấm mồ, chẳng thế hệ nào bị gặt ngã nơi luống cày. Ở Odo, chẳng một quan thái thú lòng chai dạ đá nào lại nằm ngủ dưới một văn một chí cao quý; chẳng có lời cầu requiescat-in-pace[46] nào chế nhạo một tội nhân bị đoạ đày; chẳng một memento-mori[47] nào khuyên răn người ta sống khi họ còn có thể. Nơi đây Cái Chết giấu đi đầu lâu của nó; và đem giấu dưới biển, mộ phần chung ở Odo. Chẳng phải bụi đất trởi về với bụi đất, mà bụi đất trở về với biển khơi; chẳng phải xe tang mà là xuồng đưa linh cữu. Vì hễ ai chết trên đảo này đều được đưa ra rạn san hô bên ngoài, và ở đó mà được chôn cùng cha ông của cha ông họ. Thành thử mới có ý nghĩ, rằng vào những đêm giông tố, khi chung quanh các hải đảo, cao vút trên trời, là khối mây và bọt của rạn san hô trắng ấy, rằng đó đây, cứ ríu rít trông và trực, cho hàng vạn những người đã lấp mộ dưới biển khơi.
Nhưng tại sao lại có những lễ tang chìm dưới nước ấy?
Odo chỉ là một hải đảo nhỏ, và người sống phải nhường chỗ cho người chết, và thuộc địa nhỏ nhoi của Sự Sống bị những vị gia chủ khốc liệt của Cái Chết trục xuất; như các bộ lạc hung dữ Tamerlane lan khắp các đồng cỏ cắm lều của người Khan?
Và giờ đây, điều tiếp theo, những người Dân Đảo nói rằng: “Sao lại gieo sự mục nát vào mảnh đất mang lại sự sống cho chúng tôi? Chúng tôi chẳng muốn hái nho của mình trên những nấm mồ. Đất này là một bình hoa, chứ chẳng phải bình tro.”
Họ nói rằng Oro, đấng tối cao, đã dựng một nghĩa trang ngoài biển.
Và còn nấm mồ nào vinh quanh hơn? Liệu Mausolo được chôn cất trác tuyệt hơn? Hay những ngọn đèn nơi nhà nguyện đã cháy trước lăng Charlemagne, tỏ ra tráng lệ, hơn hết thảy những vì sao, đã sáng rực phía trên người thủy thủ đắm tàu?
Nhưng thôi không nói chuyện chết chóc nữa; con người nhún vai, và chẳng yêu người đồng bạn của mình; dẫu chẳng mấy chốc nữa đây tất cả chúng ta rồi cũng sẽ là bạn bè với họ.
[46] Tiếng Latin: mong cho linh hồn đã qua đời được nghỉ ngơi bình an
[47] Tiếng Latin: hãy nhớ, phận người phải chết
