CHƯƠNG VI: TÁM TIẾNG CHUÔNG
Hẳn là mặt trăng phải cực kỳ e ấp, hoặc mọi việc tự nhiên diễn ra đúng lúc, hoặc cũng có thể bọn phiêu lưu ban đêm thường tra cứu lịch thiên văn; bởi sự thể là những lúc nữ thần Cynthia tỏ cho xem chiếc đĩa tròn trĩnh thì hiếm khi người ta dám làm điều gì táo bạo. Dẫu vậy, cũng không thể phủ nhận rằng vào những đêm sáng trăng, những tráp nữ trang và trái tim trinh nữ đã bị đào ngạch đột nhập và lục lọi, vì lý do gì thì đến cả Copernicus cũng chẳng nói được.
Hành tinh hòa nhã ấy đang vào quý cuối cùng của năm và trên chiếc sừng khuyết của nó tôi treo hy vọng sẽ rời khỏi con tàu không để lại một dấu vết.
Lúc bấy giờ, đang khi lặng lẽ vượt đại dương, chúng tôi vào khoảng thời gian mà các tay săn cá voi gọi là “phiên canh thuyền”. Nghĩa là, thay vì chia thủy thủ thành hai tốp vào ban đêm - cứ bốn tiếng thì có người thay phiên lên boong, thì ở đó có bốn phiên, mỗi phiên gồm một đội canh thuyền, “đội trưởng” (luôn luôn là thuyền phó) thì ta không tính. Về phần các sĩ quan, kế hoạch này mang đến giấc ngủ không gián đoạn - “trọn đêm” theo cách thường gọi và tất nhiên là làm nhẹ bớt nghĩa vụ của thủy thủ đoàn nhiều lắm.
Các thợ phóng lao đứng đầu đội canh thuyền và chịu trách nhiệm trên tàu khi phiên canh của họ kéo dài.
Lúc này, ông Viking - vốn là một thủy thủ vạm vỡ- kéo mái chèo ở phần giữa con thuyền mà tôi sẽ là người quan sát ở mũi thuyền. Chúng tôi gác chung một phiên cùng với ba người khác, gồm Mark, thợ phóng lao. Một người trong nhóm thủy thủ, tuy vậy, là một người tàn phế, vậy chỉ còn hai người để chúng tôi xử lý.
Đi tàu qua các vùng biển này, bạn có thể dong buồm cả mấy tuần liền vững vàng vô cùng, hầu như vô lăng lái chẳng nhích lấy một nan, quá ôn hòa và ổn định chính là những cơn gió Mậu Dịch. Đến đêm, phiên canh ít khi làm khó dễ người canh gác; nhất là khi một cánh buồm xa lạ hầu như là chuyện phi thường ở những vùng biển hẻo lánh này. Trên một số tàu, từ tuần này qua tuần nọ, bạn hoang mang chẳng biết khi nào thực sự đến lượt mình canh đêm; không ai để tâm chút gì đến chuyện đứng gác, trên giấy tờ tưởng là đảm bảo an toàn, nhưng hầu như ai cũng gật gù không hề lo sợ.
Nhưng một thợ săn cá voi chểnh mảng cứ việc cẩu thả trong phiên canh thuyền của mình, còn người đứng đầu thì phải ở nguyên vị trí trên boong lái, tới khi được đổi phiên theo đúng kế hoạch. Mà cơn ngủ gật chẳng chừa bất kỳ loại người nào, ngay cả Napoleon - đã chợp mắt bên viên lính gác của ông trong doanh trại phủ tuyết; cũng vậy, dù dưới vầng trăng phủ tuyết, hay vầng nhật thực gỗ mun, Mark, thợ phóng lao của chúng tôi, vẫn chợp một giấc như thường. Tạm gác lại phần việc vào đêm đầy ân phúc này, tôi nghĩ, để khi vào lúc buổi sáng trước phi vụ của chúng tôi, tôi sẽ để mắt xem kẻ nào có khả năng sẽ ngáng đường mình.
Nhưng để tôi đến gần hơn đoạn này của câu chuyện[14]. Những lúc ngoài khơi thường có các phiên “canh sói” (từ bốn giờ đến tám giờ tối), các thủy thủ còn khá năng nổ và hay đùa nghịch; tinh thần của họ còn dạt xa đến tận phiên đầu của những phiên “canh đêm” dài; nhưng khi “tám tiếng chuông” báo hiệu kết phiên (nửa đêm) thì sự tĩnh mịch bắt đầu bao trùm; nếu bạn có nghe một giọng nói nào, ấy chẳng phải giọng thiên thần đâu: nhưng hết thảy những tiếng la lên đều là những tiếng nguyền rủa đấy.
Vào lúc tám tiếng chuông, các thủy thủ trên boong, khi ấy được giải thoát khỏi những lo âu, bò ra khỏi các sào huyệt ngái ngủ của mình trong những áo khoác chẽn cũ rích hoặc các cuộn dây buồm, rồi chóng bước trở về võng, hầu như không làm đứt quãng giấc mơ, đang khi những lãn hán bên dưới uể oải lê lết lên thang để tiếp tục giấc ngủ của họ ngoài trời.
Vì những lý do ấy, biển không trăng nửa đêm quả là lúc để đào tẩu. Thành thử, chúng tôi khốn đốn cả một ngày trôi qua chẳng có việc gì làm; chờ đêm về, vào phiên canh-thuyền-boong-mạn-phải, mà chúng tôi chịu trách nhiệm, sẽ được gọi lên boong vào lúc tám chuông trọng yếu.
Cứ thế hai mươi bốn tiếng đồng hồ đã nhanh chóng lướt đi và “Bớ canh mạn phải, lên boong! tám chuông dưới kia rồi!” cuối cùng cũng làm tôi giật mình khỏi giấc ngủ không yên.
Tôi bật dậy khỏi cái võng của mình, và chắc là đã châm tẩu hút. Nhưng đèn boong mũi đã tắt ngấm. Một tay thủy thủ lão luyện đang nói chuyện về cá mập trong giấc ngủ. Jarl và bạn đồng gác cô độc của chúng ta thì đang dò dẫm mặc cho được cái quần. Và chúng tôi chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng ầm ù của những cánh buồm bất động trên cao; những đợt sóng vỗ vào mũi tàu và tiếng thở sâu của các thủy thủ đang say giấc nồng chung quanh.
[14] Trong thế kỷ XIX, các tàu áp dụng hệ thống canh gác mỗi ngày gồm năm phiên dài bốn tiếng đồng hồ và hai phiên cuối ngày dài hai tiếng đồng hồ; với Canh Đầu, hoặc Canh Đêm (20:00 – 0:00), Canh Giữa (0:00 – 4:00), Canh Sáng (4:00 – 8:00), Canh Trưa (8:00 – 12:00), Canh Chiều (12:00 – 16:00), Sói Một (16:00 – 18:00), Sói Hai (18:00 – 20:00); sau mỗi phiên canh sẽ có tám tiếng chuông thông báo kết phiên.
