CHƯƠNG XL: CHA VÀ CÁC CON
Thấy rằng bỏ chạy là vô ích, các Dân Đảo lại dừng xuồng, và một lần nữa chúng tôi cẩn thận tiến đến gần; đích thân tôi hô lớn bảo họ đừng sợ; còn Samoa, với tính hài hước lạ lùng của chủng tộc chàng, cho rằng chàng biết mỗi người trong bọn họ từ khi còn bé tí.
Chúng tôi tiến lại gần, chỉ còn cách họ chừng hai, ba thước rồi dừng lại, khiến họ phần nào bớt hoảng hốt. Buộc chặt một chiếc khăn lụa Tàu đỏ vào mái chèo dài, tôi vẫy. Một tràng pháo tay sống động, cùng nhiều lời cảm thán nhiệt liệt.
Đang khi còn vẫy khăn, tôi nói thầm với Jarl cho chiếc thuyền nghiêng hẳn về phía xuồng, được thực hiện rất khéo, đưa mũi tàu, nơi tôi đứng, cho gần những người Dân Đảo hơn. Đoạn tôi thả tấm vải lụa giữa họ và các Dân Đảo, khi bắt được nó, lập tức trao ngay cho ông già hiếu chiến mang ná, người - khi ấy đang ngồi - trải nó ra trước mặt ông, trong khi số còn lại vây chung quanh, liếc vội món quà tuyệt vời, rồi liếc về phía những quà tặng còn tuyệt vời hơn.
Ông già ấy là người đứng đầu của đoàn người này. Và Samoa khẳng định rằng ông ắt phải là một thầy tế của đất nước nơi những người Dân Đảo thuộc về, rằng chiếc xuồng không gì khác ngoài một trong những chiếc xuồng thánh của họ, đang trên một cuộc hải trình cúng tế nào đó. Hết thảy điều này chàng suy ra từ mũi tàu giống bàn thờ, và trên đó không có phụ nữ.
Quyết dàn hoà với ông thầy tế, tôi thả vào xuồng một chiếc khăn lụa khác trong khi Samoa lớn tiếng bảo rằng chúng tôi chỉ có ba người và đến trong hòa bình. Trong lúc ấy, ông già Aaron[36] buộc chặt hai tấm vải lụa chéo vai, như một dải ca rô vùng Cao Nguyên, ngồi xếp bằng và đưa mắt nhìn chúng tôi.
Đó là một cảnh tượng lạ kỳ. Ông thầy tế già, như một cuộn da cũ, trên người phủ khắp những biểu tượng chữ tượng hình, tôi dám chắc, còn khó giải nghĩa hơn bất kỳ thủ bản tiếng Phạn nào. Và trên vầng trán rộng của ông, những nếp nhăn khắc sâu là những ký tự còn bí ẩn hơn mà không Champollion[37] hoặc nhà du mục nào có thể giải mã được. Ông trông già như những ngọn đồi cao niên; mắt trũng nhưng sáng, và đầu bạc như đỉnh Mont Blanc.
Những người còn lại là một bọn trẻ trung và dễ coi: nước da của họ như màu rượu Gold Sherry, tất cả bọn họ đều xăm trổ theo cùng một kiểu: hai sọc chéo rộng trên ngực và lưng; dài xuống thắt lưng, như quân trang lính bộ binh. Mặt họ đầy biểu cảm và miệng họ toàn răng đẹp, đến nỗi chỉ cần hé môi là như trai ngọc hé miệng. Được đánh dấu khắp người theo lối Tahiti những hình tròn nhỏ màu xanh, chấm ở giữa với một vết đỏ son, cặp đùi nâu rắn chắc của họ chẳng khác gì giăm bông Westphalia lấm chấm bụi đỏ Cayenne.
Nhưng quả là một tương đồng tuyệt vời trong đặc điểm của tất cả mọi người. Có phải họ sinh cùng một lứa? Sự tương đồng ấy càng tăng nhờ những dấu vết đồng nhất của họ. Nhưng rồi lần lần ta biết rằng họ là những đứa con của cùng một cha; và người cha ấy, ông già Aaron, chắc chắn nương tựa vào những đứa con của mình như một vị tướng già vào những chiến tích thời trẻ.
Họ là con của nhiều bà mẹ, và ông đang truyền dạy cho họ làm thầy tế[38].
[36] Mượn hình ảnh Tư tế Aaron trong sách Exodus
[37] Jean-François Champollion (1790 – 1832) nhà ngữ văn học và Đông Phương học người Pháp
[38] Tư tế Aaron và các con trai trong sách Numbers 3, 1 – 4
