favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG IV: CUỘC TRÒ CHUYỆN TRÊN MÂY

          Ông Giời có vẻ là một thủy thủ nghiêm chỉnh và ngay thẳng đến độ, phải thú thật, dẫu cho ông mến tôi, thì tôi cũng có nhiều mối nghi ngại không biết ông có sẵn lòng chung sức trong công việc vốn sặc mùi thoái lui đạo đức này không. Nhưng cân nhắc hết thảy, tôi thấy quyết tâm của tôi cũng chẳng đến nỗi tội lỗi gì cho cam; và còn về phần xúi giục một người khác tham gia với mình thì, quả thực, là một sự đề phòng không thể thiếu, đến mức có thể gạt bỏ mọi băn khoăn khác.

          Thành thử tôi quyết mặc sức mở lòng mình với ông. Và để làm việc ấy một cách đàng hoàng, tôi trèo lên tận nơi ông đang đứng gác - một mình như con hải âu cổ lỗ - trên đỉnh cột buồm mũi, trông ra những con cá voi chẳng bao giờ thấy

          Phải nói, đứng lơ lửng trên một que gỗ cao cả trăm bộ, trong nhiều giờ liền, khi con tàu lướt vun vút giữa đại dương, cũng giống như ngồi trong một khinh khí cầu băng qua eo biển Manche. Cứ ngỡ như Manfred, bạn nói với các đám mây: bạn có tình cảm quý mến với mặt trời. Và khi Jarl và tôi chuyện trò trên ấy, hút những “tẩu đất sét” lùn, bất kỳ con mòng biển nào lướt qua hẳn cũng lầm chúng tôi với các Tôn Ông Blanchard và Jeffries, xã giao bập mấy hơi Bagdad sau bữa tối, nối kết với Calais, qua ngả Thiên Đường, từ Dover. Ông Jarl thực thà, tôi kể tất: cuộc nói chuyện với lão thuyền trưởng, gợi ý bóng gió trong những lời cuối cùng của lão, quyết tâm chắc nịch của tôi để mà bỏ con tàu này bằng thuyền cùng với phương tiện mà tôi nghĩ để tiến hành công việc. Rồi tôi nảy ra những nguyên nhân xui khiến, lập thành những mong đợi dễ chịu, mang đi theo gió dưới mạn đến những hòn đảo ngập nắng.

          Ông chăm chú lắng nghe; nhưng làm thinh hồi lâu đến nỗi tôi suýt tin rằng ở ông Jarl có gì đó quá sức với tôi và khả năng hùng biện của tôi.

          Sau cùng ông cũng rất thẳng thừng tuyên bố rằng kế hoạch này đúng là một kế hoạch điên rồ; ông chưa bao giờ biết thứ gì như thế trừ ba lần trước đây; và luôn luôn, chẳng ai hay tin gì về những kẻ chạy trốn. Ông khẩn khoản xin tôi hãy từ bỏ cái ý định đó đi, đừng có như thằng con nít, dừng lại và suy ngẫm, kiên trì với con tàu, và cùng nó về nhà như một người đàn ông. Thật vậy, ông Viking của tôi nói chuyện với tôi như một bậc cha chú.

          Nhưng tôi bịt tai chẳng thèm nghe lấy một lời, xác nhận rằng ý tôi đã quyết, và rằng vì ông từ chối đi cùng tôi, và tôi chẳng thích làm bạn với ai khác, nên tôi sẽ tự mà đi một mình còn hơn là chẳng làm chi sất. Về điều này, nhận thấy quyết tâm của tôi không thể thay đổi, ông thề thốt rằng ông sẽ cùng tôi kinh qua chông gai hiểm trở.

          Cảm ơn, Jarl! ông đích thị là một người bằng hữu sẽ dốc sức đánh vật hầu thuyết phục một kẻ yêu thích lỗi lầm; nhưng thất bại thì ngay lập tức biến cuộc vật lộn ấy thành một cái ôm thân tình.

          Nhưng giờ sự thận trọng lão thành của ông đã nhập cuộc. Đưa mắt nhìn ra xa khoảng nước vô biên bên dưới, ông hỏi các đảo đang bàn ấy còn cách bao xa.

          “Một ngàn dặm không kém.”

          “Thế thì, thuận ngọn gió mậu dịch, và một con thuyền có buồm, thì cả chuyến đi mất mười hai ngày, nhưng còn các đợt biển lặng và dòng hải lưu, có thể mất cả tháng, nhiều khi hơn.” Nói xong, ông lắc đầu, và mái tóc vàng của ông chảy thành dòng.

          Nhưng tôi cố hết sức để xua tan đi những mối nghi ngại ấy, rốt cuộc ông cũng nhân nhượng. Ông đoan chắc với tôi rằng có thể tin tưởng ông mà phó thác cả sống thuyền sâu nhất.

          Được ông Viking bảo đảm cho, tôi thấy thả lỏng hơn và cẩn thận cân nhắc cách thực hiện tốt nhất phi vụ táo bạo này.

          Chẳng có thời gian mà phung phí nữa. Mỗi giờ trôi qua lại đưa chúng tôi càng lúc càng xa khỏi khỏi vĩ tuyến mong muốn để theo lộ trình hướng tây của chúng tôi. Thế là, khẩn trương nhất có thể, tôi hoàn thiện các kế hoạch và truyền đạt chúng cho Jarl, người đã đưa ra nhiều gợi ý - các dự kiến khả năng tương lai.

          Kể cũng lạ, chỉ tới khi ông Viking với vẻ mặt hối tiếc nhắc thì tôi mới nhớ ra một hoàn cảnh vô cùng hiển nhiên cũng gọi là đáng lo. Chúng tôi phải chuồn đi mà không có hải đồ hoặc thước đo góc; dẫu, như cũng sẽ thấy ngay, một chiếc la bàn tất nhiên là ngoài tầm với. Hải đồ, chắc chắn, tôi chẳng lấy làm lo lắm; nhưng thước đo góc thì tuyệt nhiên không thể thiếu được. Vì thế này. Khi chúng tôi bắt đầu, chúng tôi phải biết chính xác vĩ độ; và dù trong chuyến đi về hướng tây ấy, chúng tôi có bị trôi lệch lên phía bắc hay xuống phía nam, thì cũng không thể nào sai lệch đến mức không chạm được vào một trong vô số đảo thuộc chuỗi quần đảo kéo dài nhiều độ vĩ, cả hai bên đường xích đạo, và trải ra ngay trên tuyến hải hành của chúng tôi.

          Vì cùng một lẽ tương tự, chuyện trên đường đi của mình, chúng tôi có biết được kinh độ của mình mỗi ngày hay không cũng không quan trọng lắm, vì chẳng có đất liền giữa chúng tôi và nơi muốn đến. Vậy còn gì rõ ràng hơn nữa, rằng nếu chúng tôi kiên nhẫn giữ đúng đường hướng về phía tây thì rồi thế nào chúng tôi cũng phải đến được nơi muốn đến?

          Còn về những chướng ngại như những chỗ nước nông và đá ngầm, nếu có gặp phải, chúng cũng chẳng dọa được chúng tôi. Trên một chiếc thuyền có mức chìm cách mặt nước vài tấc, chỉ một người canh gác lơ mơ cũng tránh được mọi nguy hiểm về điểm này. Trong mọi trường hợp, điều này nghe cũng đủ xuôi tai, chưa kể lòng tôn thờ mê tín của ông già Jarl với mấy món dụng cụ hàng hải, và những phản đối triết lý có lẽ đã được thúc đẩy bởi một môn đệ thông thái rởm của Mercator.

          Rất thường, như châm ngôn có câu, những điều giản dị nhất lại là những điều gây sửng sốt nhất, cả vì chính sự giản dị của chúng. Cho nên đừng ấp ủ những lo sợ, không thì chúng ta đã nói với vầng mặt trời lặn:  “Này hoa tiêu già, hãy là người dẫn đường cho chúng tôi!”

 

Thêm vào giỏ hàng thành công