CHƯƠNG III: CÓ VUA LÀM BẠN
Vào thời điểm mà tôi đang kể lại đây, chúng tôi hẳn đã ở đâu đó quá sáu mươi độ về phía tây quần đảo Gallipagos. Và khi đến được kinh độ mong muốn, chúng tôi bắt đầu chuyển hướng lên phía bắc, hướng về miền địa cực: chung quanh chúng tôi là một vùng biển rộng.
Nhưng về hướng tây, cách một ngàn dặm, trải dài từ bắc chí nam là một quần đảo hầu như bất tận, dân cư sống rải rác, nhưng ít được biết đến và đa phần là ít được lui lới, thậm chí là với cả các thủy thủ săn cá voi, những người hầu như đi khắp nơi. Khởi hành tại điểm kết phía nam của dãy quần đảo lớn này, gồm các đảo quen gọi là cụm đảo Ellice; rồi các hải đảo Kingsmill; rồi các cụm đảo Radack và Mulgrave. Tôi hình dung các đảo ấy chủ yếu là hệ thống rạn san hô, thấp và phì nhiêu, đầy những loại trái cây. Người ta nói rằng tiếng của dân ở đây rất gần với tiếng của dân trên các đảo Navigator, tổ tiên của họ chắc đã di cư từ đấy.
Với bấy nhiêu điều đã nói, tất cả những gì tôi thuật lại về các đảo ấy vẫn còn trong diện nghi vấn. Nhưng chỉ cần biết rằng chúng tồn tại đã là đủ, và rằng con đường đi đến đó nằm trên một vùng biển dễ chịu, trước mặt là gió mậu dịch ổn định. Quãng đường, tuy lớn, nhưng chỉ là sự kéo dài của mặt nước; một khoảng trống cần vượt qua bằng đường thủy, và lại bằng một con thuyền, nếu được điều khiển chính xác cũng có thể sống thọ hơn mấy con tàu lớn khi trời giông bão. Điều này là thật: thuyền săn cá voi là một trong những vật khéo léo nhất từng được con người chế tác.
Như vậy, tôi quyết tâm đặt chân lên một trong các đảo Kingsmill, cái gì đến thì cứ đến. Và tôi cũng quyết tâm không kém rằng một trong các thuyền của con tàu này sẽ đưa tôi đến đó. Nhưng tôi không hề có ý định đi một mình. Việc quan sát hẳn sẽ nhọc nhằn lắm nếu chỉ có mỗi một mình tôi phải lo mọi thứ, chẳng có gì sất ngoài đường chân trời trước mắt.
Bấy giờ, trong thủy thủ đoàn có một lão thủy thủ ra trò phết, ông Jarl; bao nhiêu tuổi chẳng ai biết, ngay cả ông. Tính theo niên biểu boong mũi thì quả là mơ hồ và lại thiếu sót vô cùng. “Cả đời lão,” Jarl thực thà nói, “lão đã sống từ ngày lão còn nhớ được.” Và quả thực, ai mà nhớ được ngoài ông ra? Cả với chính chúng ta, tất cả chúng ta dường như đồng sinh với tạo hóa. Vì lẽ ấy, thật khó mà chết trước khi chính cái thế giới này qua đi.
Ông Jarl người đảo Skye, một đảo thuộc quần đảo Hebrides. Thành thử bọn họ hay gọi ông là Ông Giời. Và dẫu ông không hề hải tặc về bề trong, nhưng ông trông như người Na-uy về bề ngoài. Bàn tay ông săn gân như tay gấu; giọng ông khản như bão gầm quanh đỉnh núi già đảo Mull; tóc ông vừa vàng vừa dài phất quanh đầu như hoàng hôn. Cả đời tôi chỉ muốn bấy nhiêu thôi, Jarl ơi, tổ tiên ông là những người Viking, biết bao lần dong buồm vượt biển Giéc-man và Ban-tích; những người đem gả các nàng Brynhildas bên Jutland và giờ đang nốc rượu mật trong đại sảnh Valhalla, và lấy vại gõ nhịp hát những bài tụng ca dân Scalds. A! những thiên anh hùng ca ấy chảy qua tôi!
Thế mà Jarl, hậu duệ của các anh hùng và vua chúa, lại là một người cô độc, người thủy thủ không bạn trên sàn tàu, chỉ trung thành với gốc gác của ông ở chốn biển khơi mà ông nguyện sống đời. Nhưng chuyện đã như thế nào thì cũng sẽ mãi như thế ấy. Có người nông dân nào dám thề rằng mình không phải là hậu duệ của vua Alfred? Có anh chàng dốt nát nào dám quả quyết rằng máu mình chẳng liên can gì đến Homer xưa? Vua Noah, Chúa phù hộ ông! là cha của chúng ta hết thảy. Vậy hãy ngẩng cao đầu, hỡi những nô lệ thành Spartan các bạn, dòng máu tiềm tàng chảy trong huyết mạch của các bạn. Tất cả chúng ta đều có các quốc vương và nhà hiền triết làm bà con, các thiên thần và tổng thiên thần làm anh em họ; từ thời hồng thủy, các con trai của Chúa quả thực đã thành hôn với các bà mẹ chúng ta, những người con gái bất khả kháng cự của Eve. Như vậy, mọi thế hệ hòa lẫn với nhau: thiên đường và trái đất là một nhà: phẩm trật của các luyến thần trên các tầng trời cao nhất, các bệ thần và lãnh thần ngự trong hoàng đạo, các vong linh lang thang khắp không gian, các quốc gia và gia tộc, các đàn chiên và bầy thú trên trái đất, nhất loạt, về bản chất đều là anh em - ôi, đích thị chúng ta là anh em! Mọi sự đều có dạng nhưng đều trọn một; vũ trụ đều lấy xứ Giu-đê và Đấng Gia-vê làm đầu. Thế thì chúng ta đừng giật mình khiếp sợ nữa. Dưới một chế độ thần quyền, có gì mà phải sợ? Hãy bình tĩnh với cái chết như những kỵ sĩ kiệt sức ngủ trên yên ngựa. Hãy đón chào cả những hồn ma bóng quế khi chúng hiện lên. Hãy thôi những cái nhìn chòng chọc và nhăn nhó của chúng ta. Hình xăm trổ của người Tân Tây Lan không có gì ghê gớm, lối sống của người Tàu cũng không còn là bí ẩn. Chẳng có tập quán nào là kỳ lạ; chẳng có tín điều nào là vô lý; chẳng có kẻ thù nữa, mà sau cùng, ai muốn thì sẽ thấy một người bạn. Ở trên trời, sau này, người cha già tóc bạc Adam sẽ đón chào tất cả như nhau, và tinh thần huynh đệ sẽ ngự trị mãi mãi. Ki-tô hữu sẽ nắm tay Dân Ngoại và Do Thái; Dante tàn nhẫn quên đi các Hỏa Ngục của ông, bá vai với Rabelais béo; và thầy tu Luther bên bình rượu mật bàn luận về thời xưa cùng Giáo hoàng Leo. Khi ấy, chúng ta sẽ ngồi bên các bậc hiền nhân, ngày xưa từng ra luật cho dân Mê-đi và Ba-tư dưới ánh mặt trời; bên đồi sọ các đội trưởng trong Perseus đã la lớn, “Ra ngựa!” khi bị đánh thức bởi Tiếng Kèn Chót đang cất lên vì huấn lệnh; bên những thợ săn xưa - hàng thiên cổ trước đây từng săn nai sừng tấm trên chòm Lạp Hộ; bên những thi sĩ, từng hát ca trên Dải Ngân Hà khi Giê-su Đấng Cứu Thế được sinh ra. Khi ấy chúng ta sẽ không cắm đầu vào thứ chuyện gẫu nông cạn của những Magellan và Drake nữa mà sẽ lắng tai nghe những nhà du hành đã đi thuyền quanh đường Hoàng Đạo, những người đã vòng quanh Sao Bắc Đẩu như quanh Mũi Sừng. Khi ấy Stagirite[8] và Kant sẽ bị lãng quên và một quyển folio khác với quyển của họ sẽ được giở ra để mà học lấy khôn ngoan; thậm chí quyển folio lúc này đang mở với tử vi tới bây giờ còn chưa được giải mã, thiên đường của các thiên đường trên cao.
Ngôn ngữ của ông già Jarl không hề có tiếng bản địa. Thủy thủ thổ dân của các bạn đây quá mức giang hồ[9] với nó. Từ lâu đã đánh bạn với các thủy thủ mọi tộc người: dân Manilla, Anglo-Saxon, Cholo, Lascar, và Đan Mạch, chẳng chốc đã làm mòn đi mọi ấp úng tiếng mẹ đẻ. Ông đánh đắm bè đảng ông; đánh chìm quốc gia ông; ông nói thứ ngôn ngữ của thế giới, sảng khoái liến thoắng bằng Lingua-Franca của boong mũi[10].
Kiên định với sứ mệnh của mình, Ông Giời rất ít học; chẳng biết gì về Salamanca, Heidelberg, hoặc Brazen-Nose; ở Delhi, chưa bao giờ lật được cuốn sách nào về Bà-la-môn. Với địa lý, môn mà thủy thủ lẽ ra phải tinh thông, bởi họ suốt đời lật đi lật lại quả địa cầu, Jarl tội nghiệp cũng thiếu sót đến đáng trách. Theo quan điểm của ông về vật chất, cái thế giới gồm đất và nước này được nặn thành hình như một cái bánh nhân mứt; đất liền chỉ là mép vỏ bánh còn thế giới nước thì nằm trọn bên trong. Bấy nhiêu đấy có lẽ là lý thuyết về vũ trụ học của ông bạn hiền Viking. Còn về những thế giới khác, ông già còn chẳng nghĩ tới; tuy thế nhưng cũng sánh ngang với Gio-an Kim Khẩu[11] đấy.
A, Jarl! con người trung thực tận tâm; quá thật và quá giản dị đến nỗi những hoạt động kín đáo của tâm hồn ông lại quá bí hiểm với những vận hành tinh vi của Spinoza.
Bấy nhiêu là đủ để nói về Ông Giời, bởi vì ông trầm mặc quá chừng, hiếm khi chịu bộc bạch bản thân.
Về phần tôi, gác lại mọi đồng cảm cao siêu, tôi thực sự yêu quý Jarl, bởi vì ông quý tôi; từ lần đầu gặp, ông đã gắn bó với tôi.
Đôi khi xảy ra chuyện một thủy thủ già như ông nảy sinh một sự gắn bó mạnh mẽ với một thủy thủ trẻ tuổi nào đấy, bạn tàu của ông: một sự gắn bó quá mức hết lòng, chừng hoàn toàn vô phương cắt nghĩa, trừ phi nó bắt nguồn từ nỗi cô đơn trong lòng, vốn sẽ rờ gáy phần lớn các thủy thủ khi họ già đi và ép họ ràng buộc với bất kỳ đối tượng chú ý nào. Nhưng dù có thế nào thì, ơi ông Viking của tôi, cảm tình tự ý của ông là lòng kính trọng cao quý nhất mà tôi từng nhận được. Và thú thực, chính điều đó khiến tôi nghĩ tốt về mình, thấy mình ít nhiều xứng đáng với lòng tận tụy của ông, hơn là những lời khen rào trước đón sau của những cái đầu có học thức hơn.
Trên biển, trong tình huống cộng sinh giữa anh em thủy thủ, ai nấy đều lộ diện con người thật của mình. Để tìm hiểu về bản chất con người, chẳng có trường lớp nào sánh bằng một con tàu. Tiếp xúc giữa người với người thì quá gần và quá liên tục để sự phỉnh phờ có dịp tung hoành. Tính cách của anh là cái quần anh mặc - không thể giấu. Vô ích thay mọi nỗ lực giả vờ những tố chất anh chẳng có, hoặc giấu đi những tố chất anh sở hữu. Mong muốn ẩn danh, dù có hấp dẫn đến đâu, cũng là điều không tưởng. Vì thế, trên mọi con tàu tôi từng đi, tôi luôn bị gán cho cái danh hiệu phòng rã đông. Không phải - để tôi nói nhanh - là tôi thọc tay vào thùng hắc ín với cái vẻ làm cao, hay là leo lên thừng chão với dáng uốn éo kiểu Chesterfield. Tôi chưa từng vượt mặt nghề của mình, mà nghề thì tôi đã trải qua không ít. Tôi có cái ngực thật là nâu rám và tay thật là cứng, thủy thủ đặc hắc ín nhất trần đời. Và chưa bao giờ có bạn tàu nào trách tôi là chểnh mảng hay kiểu cách quý tộc gì, kể cả khi công việc đưa tôi lên tận đỉnh cột buồm chính hoặc tận đầu mút trục buồm tam giác giữa trận gió chửi sói đầu sói trán.
Vậy thì, do đâu mà lại có tên gọi khó chịu ấy? Bởi đúng là nó khó chịu, tất nhiên. Đó là vì trong tôi có điều gì đó không thể giấu được; lén lút hiện ra trong cuộc đa âm hàn hữu; ngoài ra còn một cuộc bàn luận khó hiểu ở bàn ăn; những bóng gió xa xôi, thiếu thận trọng về áp phe Văn Chương; và cả những chuyện vặt vãnh khác nữa.
Nhưng nói thế này cũng đủ: trong thủy thủ đoàn của Arcturion đã lan truyền một lời đồn mơ hồ rằng vào một giai đoạn nào đó trong đời, tôi từng là một “công tử”. Nhưng Jarl dường như còn đi xa hơn. Ông chắc phải xem tôi là người thuộc Gia tộc Hanover cải trang hoặc có lẽ là Charles Edward Người Giả Dạng đội mũ mà, giống như Người Do Thái Lang Thang, còn chưa kịp lên đường đi đây đi đó. Dẫu sao đi nữa, lòng trung thành của ông cũng cực độ lắm. Không cần phải nhờ vả, ông đã là người thợ giặt và thợ may của tôi, thậm chí còn là một chuyên gia; và khi giờ ăn đến nhưng tôi phải đứng canh ở đỉnh cột buồm hoặc ngay bánh lái thì ông mang đồ ăn cho tôi giữa đám “nhóc tì” ở boong mũi bằng vẻ chuyên cần không mệt mỏi. Vì nhiều tảng “bánh” ngon mà tôi mắc nợ công chăm sóc của ông Viking. Như vua Sesostris, tôi được một quốc vương phục vụ. Song nói chung, ơn nghĩa cũng có qua có lại. Vì xin biết cho rằng, nói theo cách hàng hải, chúng tôi là bồ.
Giờ thì chuyện bồ bịch giữa các thủy thủ xem như tình huynh đệ tồn tại giữa một cặp đồng môn (chung bồ) ở cùng nhau. Đấy là một mối Fidus-Achates, một liên minh thế công thế thủ, một mối đồng hợp tác giữa các rương đồ và hố xí, một mối liên kết yêu thương và thiện chí, và một cuộc thay phiên bênh vực người vắng mặt. Quả thực, những kỷ niệm hàng hải của tôi nhắc tôi về tạp nhạp những thứ bồ bịch lười nhác, vô tích sự, vô lợi lộc và đáng ghét; cái thứ bồ bịch mà vào giờ ăn thì ngâm đến tận phút cuối cùng trong đám “nhóc tì” còn thằng bạn bất hạnh của nó thì đang ở tít trên các xà buồm; thứ bồ bịch giả đò vụng về với kim la bàn và ngại ngùng đắn đo khi phải thọc tay vào xút; thế là anh bồ khờ phải làm hết mọi việc cho đồng đội, còn anh bồ khôn thì đóng vai cộng sự đang ngon giấc trên võng. Đi đời cái lũ bồ bịch ấy!
Song le tôi van cùng ông, này Jarl thực thà, giả như tôi cứ là anh bồ khôn mãi. Xin chớ để bụng, giả như ông có mang tấm vải của tôi đem đi may, lại lấy lòng bác ái Sa-ma-ri[12] mà vá những nơi đã rách cùng trút kim rót chỉ vào những chỗ rạch kinh khiếp nhất mà tôi đây chẳng may phải chịu, mà ông quen gọi là “những đồ vải nhẹ;” Nhưng chẳng phải chính ông đã từng tuyên bố tỏ tường, rằng thảy những điều ấy,cùng nhiều điều khác, ông sẽ làm cho tôi, chẳng kỳ cái đê tay lạ lùng, khoét từ răng ngà con cá voi ru? Xét cho phải: chớ thì tôi có thể nào giành được khỏi bàn tay khư khư của ông cái áo của chính tôi đây, một khi ông đã đem nó mà ủ nước muối giấm cho mềm, trong cái chum rộng của ông, cái thùng không nắp ấy ru? Ông đã biết tường tận, này Jarl, rằng những sự ấy là thật; và tôi buộc phải nói điều này, để phủi đi mọi nghi ngờ rằng tôi từng có ý định lợi dụng lòng tốt của ông.
Bây giờ ông Viking là của tôi, tôi nghĩ, khi tôi tìm kiếm một người đồng bạn; và chỉ ông Viking mà thôi.
[8] Tên hiệu của Aristotle.
[9] Nguyên văn cosmopolitan.
[10] Boong mũi là nơi các thủy thủ sinh hoạt.
[11] Chrysostom.
[12] Luke 10, 29 – 37
