favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XXXVIII: BIỂN CHÁY

          Màn đêm, sau cảnh rời tàu Parki, đã trở nên đáng nhớ nhờ một cảnh tượng đặc biệt.

          Đang khi thiu thiu ngủ trên sàn thuyền, Jarl và tôi bất chợt bị Samoa đánh thức. Giật mình, chúng tôi trông thấy đại dương mang một màu trắng xanh, loá chói khắp nơi với những đốm sáng vàng. Nhưng cái sắc nước đang tỏa sáng khắp nơi ấy đổ một thứ ánh sáng tái nhợt lên thuyền, thế nên chúng tôi quay sang nhau nhìn như những hồn ma. Vì cách nhiều trượng ở đằng đuôi, đường rẽ nước của chúng tôi để vết thành một lằn bọt sáng ào ạt; trong khi đâu đó bên dưới mặt biển, vệt nước của những con cá mập hiện ra nhờ những dải màu lục phớt sống động, băng qua lướt lại với nhau từ mọi hướng. Ở đằng xa, và được phân bố theo đàn, nổi trên mặt biển như những chòm sao trên trời là vô vàn những Medusæ, một loài cá nhỏ, tròn, sặc sỡ, chỉ có thể thấy ở các vùng Biển phía Nam và Ấn Độ Dương.

          Bỗng chốc, khi chúng tôi đang chăm chú nhìn, vút cao trên không trung là một luồng phùn phụt những chớp lóe, đi kèm những tiếng thở sâu không thể nhầm lẫn của một con cá nhà táng. Chẳng bao lâu sau, vùng biển chung quanh chúng tôi phụt ra những đài phun lửa; và bạt ngàn những hình thù, phát ra một ánh chói lòa bên hông chúng, và đôi lúc ngẩng cao đầu khỏi mặt nước, và giũ những hạt lấp lánh, cho thấy vị trí cả một đàn lớn những con Cachalot trỗi lên từ dưới để nô giỡn giữa những cuộn sóng lân quang.

          Luồng hơi nước phụt ra sáng rực hơn bất cứ phần nào của mặt biển; có lẽ vì chất dịch phát quang vốn đã sáng, khi đi qua ống phun của cá nhà táng lại càng thêm rực rỡ.

          Chúng tôi sợ hãi tội độ, sợ rằng mấy con Thuỷ Quái ấy sẽ vô tình hủy diệt chúng tôi bằng cách tiến đến sát thuyền. Chúng tôi đã có thể tránh xa chúng; nhưng tất cả bọn chúng cứ bao quanh chúng tôi tứ bề. Tuy thế chúng tôi vẫn an toàn; vì khi chúng tôi rẽ làn nước xanh, đường sáng chói khác thường được vạch từ sống thuyền của chúng tôi có vẻ làm chúng nao núng. Chắc là bất giác phát hiện thấy chúng tôi, nhiều con đã lao thẳng xuống nước, hất những cái đuôi cáu bẳn lên cao trong không trung, khiến mặt biển càng thêm lấp lánh vì cú lao mình dữ dội của chúng.

          Hướng chính của chúng chắc cũng chung hướng với chúng tôi, về phía tây. Để tránh xa khỏi bọn này, rốt cuộc chúng tôi cũng đưa chèo và kéo về phía bắc. Khi làm vậy, chúng tôi bị một chú cá voi độc nhất đuổi theo, chắc đã nhầm chiếc Dê Biển với một con cá cùng họ cùng hàng. Mặc cho hết thảy nỗ lực của chúng tôi, chú cá càng lúc càng tiến gần, để rồi quẹt cái sườn sôi nổi của chú vào mép mạn Dê Biển, chỗ này chỗ kia để lại những dải dài chất trong suốt bóng loáng mỏng như tơ phủ lấy thân con Cachalot.

          Kinh hoàng trước cảnh tượng quá mới lạ, Samoa rụt người. Nhưng Jarl và tôi, đã quen với sự đồng hành thân mật của loài cá voi, thì dùng mái chèo đẩy nó cho xa khỏi thuyền: một công việc thường làm trong nghề săn cá.

          Khi được ở gần cá voi, đã hồi sinh nơi Ông Giời lâu năm tinh nhạy tất cả sự nhiệt thành trong thiên hướng táo bạo của mình. Dẫu bản tính có trầm lặng cỡ nào, một người thợ chuyên nghề săn cá voi cũng bộc lộ không ít niềm hứng khởi trong cuộc chơi trước mắt. Và cần phải có đôi chút thuyết phục mới ngăn Jarl khỏi phóng cây lao của ông: một hành động điên rồ trong tình cảnh này, và dĩ nhiên hoàn toàn vô ích. Nhưng “Ôi! Găm một cú thôi,” ông Viking của tôi la to. Và lại còn “Con tàu xưa của chúng ta giờ đang nơi nao?” ông nhớ nhung thêm vào.

          Nhưng tôi vui vô cùng khi con quái vật ấy rốt cuộc cũng rời đi, nhập lại với đàn, mà những phụt lửa cao ngất của chúng vẫn còn thấy được nơi chân trời đằng xa, hiện ra ở đấy như những ẩn hiện thất thường của Cực Quang.

          Biển giữ được độ sáng của nó khoảng ba tiếng đồng hồ, khi được nửa khoảng thời gian ấy thì bắt đầu mờ đi, và ngoại trừ những ánh sáng yếu ớt thất thường do những con cá lao nhanh dưới nước, hiện tượng này cuối cùng cũng hoàn toàn biến mất.

          Trước đây, có lần tôi được chứng kiến một vài triển lãm về lân quang hải dương, cả ở vùng Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương. Nhưng không có gì có thể sánh với cảnh tượng được chứng kiến đêm ấy. Ở Đại Tây Dương, rất hiếm khi có khu vực nào phát sáng, trừ các đỉnh sóng; và chúng đa phần xuất hiện khi trời ẩm ướt, âm u. Trong khi đó, ở Thái Bình Dương, mọi lần tôi từng thấy đều chỉ là những mảng sáng lục lờ mờ, mà mặt biển xung quanh vẫn tối đen. Chỉ trừ hai lần ngoài khơi bờ biển Peru, khi tôi bị gọi dậy khỏi võng lúc nửa đêm bởi tiếng hô hoảng “Tất cả thủy thủ, mau lên boong! Đổi hướng tàu!” Và khi chạy lên boong, tôi nhìn thấy mặt biển trắng toát như tấm vải liệm; chính vì thế mọi người lo sợ tàu đang tiến vào vùng nước cạn.

Các thủy thủy rất thích những điều kỳ thú và thích kể lại chúng. Tôi cũng từng nghe được từ các lão bạn tàu nhiều phát biểu khôn ngoan về hiện tượng nói trên. Do thiếu viện lẽ triết học có cơ sở, người này bác bỏ ý niệm ngông cuồng của một trong số bạn bè hàng hải của tôi - một triết gia chẳng kém gì ông Viking - rằng ánh phát quang của biển là do bầy tiên cá khuấy động mặt nước, mái tóc vàng óng của chúng, lúc bị giật tung và rối bời, sẽ phát sáng làm rực lên sóng nước; tôi xin tiếp tục ghi lại những thuyết đáng tin cậy hơn.

          Faraday, biết đâu chừng, có lẽ đã quy hiện tượng này thành một điều kiện điện từ đặc biệt trong khí quyển và chỉ xuất hiện trong khí quyển mà thôi. Nhưng ở đây, người bạn khoa học của tôi sẽ bị phủ nhận chắc nịch bởi các thủy thủ sáng dạ, những người mà, trong chừng mực nhất định, lại quy nó thành sự xuất hiện của một lượng lớn chất động vật thối rữa, vốn đầy khắp biển khơi.

          Và xem ra cũng không phải là điều vô lý khi cho rằng, chính nhờ cách ấy mà chất lỏng ấy trở nên tích điện phát quang. Ta múc một thùng nước từ đại dương lân quang, và ở trong thùng ta vẫn còn thấy những vệt lửa; nhưng khi để yên một lúc thì hiện tượng này đã sớm lắng đi. Giờ ta đổ nước dọc boong tàu thì một dòng lửa chảy xuất hiện, do sự khuấy động mới làm nó lại bừng sáng. Ta đổ nước khỏi thùng, trong thùng vẫn còn những hạt lấp lánh ngoan cố bám vào trong chốc lát, và thành thùng tựa như đang bốc cháy.

          Nhưng suy cho cùng, sự bốc cháy bề ngoài của biển ấy không thể nào hoàn toàn được tạo ra nhờ chất chết trong đó. Có những loài cá đang sống phát lân quang; và trong những điều kiện nhất định, nhờ liên tục phát tán các hạt sáng li ti, chúng góp phần rất lớn vào hiệu ứng ấy. Đấy là ta còn chưa xác định trường hợp này đúng với nhiều loài cá mập, cá mực và nhiều loài khác thuộc các bộ có vây - hàng vạn động vật thân mềm siêu nhỏ, thường bơi trong tầm dây dọi, mà có lẽ chỉ riêng chúng cũng đủ để nhóm lửa làn biển mặn.

          Song những điều ấy chỉ là các ức đoán: có khả năng, nhưng chưa chắc chắn.

          Sau chuyện khoa học, ta bàn chuyện tình cảm.

          Một nhà tự nhiên học người Pháp cho rằng ánh rực rỡ ban đêm của đom đóm mục đích là để thu hút con khác giới; rằng loài côn trùng khéo léo phát sáng thân nó để làm đèn hiệu dẫn đường tình yêu. Như thế: đậu trên mép lá, và chờ chàng Leander của nàng, đang đến tung cánh vỗ hương hoa, một nàng côn trùng Hero nào đó sẽ thắp đuốc cho người tình thanh nhã của nàng.

          Nhưng than ôi, tam bận than ôi cho bầy cá lửa nhỏ nhắn tội nghiệp nơi biển khơi, có sức tỏa sáng nhưng lại làm đèn hiệu cho kẻ thù, dẫn đường cho sự hủy diệt của chúng.

Thêm vào giỏ hàng thành công