favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XXXIV: HỌ LÁI TÀU THẾ NÀO

          Khi chúng tôi rời chiếc thuyền Dê Biển để lên tàu brigantine, chúng tôi hẳn phải cách ít nhất hai trăm lý về hướng tây so với địa điểm mà chúng tôi từng bỏ tàu Arcturion trước đó. Còn chuyện chúng tôi đã đi xa tới đâu, là Bắc hay Nam của Xích Đạo, thì tôi không thể đoán chắc được.

          Nhưng việc chúng tôi không cách đường Xích Đạo được khoảng nào đáng kể có vẻ đã thật rõ ràng. Bởi vì trong những đêm sao sáng nhất, hoàn toàn không thấy dấu hiệu của các chòm sao cực, dù chúng tôi vẫn thường xuyên dõi theo cả đường chân trời phía Bắc lẫn phía Nam để tìm. Đối với những ai quen quan sát bầu trời ngoài biển, thì chỉ cần chênh vài độ vĩ độ thôi là có thể nhận ra sự khác biệt rõ rệt trong dáng vẻ của thiên thể gần mép trời.

Nếu giả thiết của tôi về kinh độ vào thời điểm đó là đúng, và tính cả phần đường ít ỏi đã đi được trên chiếc Parki, thì ta còn cách đất liền mình tìm khoảng một trăm hải lý nữa. Nhưng vì những lý do hiển nhiên, không thể nào xác định chính xác ta sẽ còn phải trôi bao lâu nữa trước khi thấy đất liền. Những đợt biển lặng, gió nhẹ và dòng hải lưu đã khiến mọi thứ thành ra bất định. Mà chúng tôi đã chẳng có phương pháp ước lượng tiến độ hướng về phía tây, ngoại trừ cái mà người ta gọi là Dẫn Đường Dự Tính[33] - tức là tính số hải lý đã đi mỗi giờ, có điều chỉnh theo những sai lệch ước đoán khỏi hải trình dự kiến, do tác động của các dòng hải lưu vốn ở vùng Thái Bình Dương này đôi khi chảy rất xiết.

          Bấy giờ, xét về nhiều mặt, chúng tôi thấy an toàn trên tàu Parki hơn là trên chiếc Dê Biển. Số người tham gia càng lớn, cảm giác về nguy hiểm càng giảm rõ rệt. Kẻ nào sắp tuyệt vọng lúc lạc lõng nguy nan thì được nên can đảm nhờ sự hiện diện của người khác. Nhờ được ở giữa bạn bè, sự bình tĩnh và an ủi càng tăng.

          Tuy vậy, trên tàu lại có nhiều nguồn cơn khó chịu và lo lắng mà khi còn ở trên thuyền săn cá voi chưa hề có. Quả thực, giữa chúng tôi và biển sâu lúc này là năm trăm tấm ván tử tế hợp thành một bè trên mẩu thuyền bồng bềnh của chúng tôi. Nhưng tàu Parki thì cần nhiều chăm sóc và lưu ý hơn, nhất là về đêm, khi một người canh tàu can đảm là điều không thể thiếu. Với chiếc thuyền săn cá voi trước kia, ta có thể liều lĩnh áp sát bãi cạn hay rạn san hô mà không sao; còn bây giờ, một sự bất cẩn hay liều lĩnh tương tự có thể khiến tất cả những ai có mặt trên tàu phải trả giá bằng mạng sống.

          Dưới ánh nắng vui tươi, dong buồm qua làn nước lấp lánh, tôi không mấy phiền hà vì những mối lo nghiêm trọng; nhưng khi màn đêm buông xuống, mọi chuyện lại hoàn toàn khác. Và những nỗi lo sợ, đúng ra là những nỗi khiếp sợ mà tôi cảm nhận được, đã tăng lên nhiều nhờ tính cẩu thả của cả Jarl lẫn Samoa, khi họ trực phiên đêm. Lắm phen tôi phát hoảng trối chết và căng mắt nhìn kỹ đường chân trời tối tăm, khi thức dậy từ giấc ngủ mơ màng tôi phát hiện người lái tàu, mà trong tay người này đây là sinh với tử, đang an giấc đứng tựa vào cần lái, ở đấy như một vật cố định, như một con rồng há mồm tạc xẵng nơi mũi tàu.

          Nếu không vì trên boong của những con tàu khác, chính tôi đã từng nhiều lần gà gục bên vô lăng lái mặc cho mọi đấu tranh, thì tôi cũng hầu như sẽ chẳng biết thanh minh ra sao cho sự bất ý này của các đồng bạn tôi. Dẫu vậy, tôi vẫn cho rằng chỉ riêng việc ý thức được hoàn cảnh của chúng tôi thôi cũng đã đủ để khiến bất kỳ ai tỉnh táo suốt đêm canh gác.

          Trường hợp của Samoa, ngủ gục bên cần lái, thì thật là kinh khủng. Đôi ngọc mắt mèo của chàng chỉ hé mở; chúng hướng về phía ánh sáng la bàn, ánh lên giữa hai hàng mi như hai vành lửa. Lại còn cả vóc người khổng lồ và nét mặt man dã của chàng nữa.

          Vô ích khi tôi khiển trách, van xin, đe dọa: cái bệnh ngủ gật hàn hữu của các bạn tàu tôi đã tỏ ra vô cùng nan y. Cũng thật vô ích khi tôi nhắc cho ông Viking nhớ rằng ngủ trong phiên canh đêm trên một con tàu như của chúng tôi khác xa với sự vô ý tương tự trên boong tàu Arcturion. Trên Arcturion, vị trí của ta trên biển luôn được xác định rõ, cũng như khoảng cách đến đất liền; thế nên vào ban đêm các thủy thủ được ngủ gà ngủ gật, nhưng chủ yếu là vì thuyền trưởng biết rõ rằng có thể bỏ qua được sự thận trọng nghiêm ngặt.

          Tuy trong mọi vấn đề khác, Ông Giời tỏ ra là một người bạn đồng hành đáng tin cậy hơn cả, nhưng chỉ trong mỗi chuyện này thì ông lại trì độn, hoặc say sưa đến mức quái đản. Hoặc, biết đâu chừng, việc được một lần nữa thấy mình trên một con tàu hai boong đã khơi lại trong ông cảm giác về khoảng thời gian trước đây, khiến ông đắm chìm trong sự an toàn giả dối.

          Còn Samoa, chứng ngủ gật của chàng thuộc loại quyết ngủ cho bằng được: hoặc là thấy chiêm bao, hoặc là thấy tử thần. Anh chàng dường như hoàn toàn không ý thức về nỗi nguy hiểm mà chúng tôi phải đối mặt. Tôi thường cho anh man dã ngái ngủ xuống boong, và đích thân tôi lái tàu đến sáng. Sau cùng tôi có lý do ngủ ngày thật nhiều, để khi tối trời còn trực đêm cho thêm phần tử tế, dẫu rằng tôi đã cắt đặt Samoa và Jarl thường gác những phiên bốn tiếng mỗi người.

          Như trước đây đã có đề cập, phiên canh của Annatoo là ở vô lăng lái, nhưng chỉ là vào ban ngày. Và công bằng mà nói, tôi phải thừa nhận rằng nàng chu toàn rất tốt. Vì mặc cho khuôn mặt quyến rũ phản chiếu trên la bàn lờ mờ cuốn lấy những ghé mắt của nàng, suy cho cùng Annatoo rất nghiêm túc với việc lái tàu. Quả thực nàng lấy làm hãnh diện ở đấy lắm, luôn sẵn sàng khi tới phiên với độ chính xác tuyệt vời, đúng giờ xoay phiên không sai một giây. Đồng hồ của nàng là của chúng tôi, là vầng mặt trời. Về đêm, đó hẳn phải là ngôi sao chiếu mệnh của nàng, vì nàng thường hay chằm chằm nhìn vào một vị trí nhất định trên trời, như một người xem số trên mặt một tháp đồng hồ.

           Bằng thứ lý luận kỳ quái thế này thế nọ, nàng đã phỉnh phờ bản thân tin vào cái ý niệm, rằng hễ khi nào ai lái con tàu brigantine thì khi ấy người đó là thuyền trưởng. Vì lẽ ấy, nàng tự cho mình cái vẻ yêng hùng ở cần lái; với những cử chỉ ngông cuồng đưa ra những mệnh lệnh khó hiểu nào là điều chỉnh buồm, nào là rướn khỏi ra mạn tàu để xem chúng tôi đi nhanh cỡ nào. Toàn bộ điều này tiêu khiển cho ông Viking rất mực, lắm phen phát ra một trận cười, và là một trận cười to và sảng khoái: một hiện tượng đáng ký sự.

          Bấy nhiêu điều về Annatoo như vậy là để mào đầu cho điều tôi sắp nói. Khi thấy Jarl và Samoa ngủ gật ngủ gà,  buộc tôi phải thức canh tàu và chỉ có thể nghỉ vào ban ngày - chính lúc tôi thích được tỉnh táo hơn nhiều, tôi đã quyết định giao luôn cho Annatoo những phiên canh đêm ấy; nhiều lần nàng đã gạ gẫm lại cho tôi; cùng mắng nhiếc tật ngái ngủ của anh chồng nàng, dẫu hạn chế hết thảy mọi nghĩ ngợi về Jarl, người mà nàng đã trở nên quá mức thân thiện.

          Chị Calmuc trực phiên đêm đầu tiên thật đáng ngưỡng mộ, nếu không nói là quá mức tỉnh táo. Chỉ lái tàu không thôi cũng không đủ tận dụng được đầu óc linh hoạt của nàng. Đôi lúc nàng cần phải vội chạy từ cần lái để kéo dây buồm mũi[34] thêm một cái, ngay đầu mút dẫn xuống các mép mạn gần đó, sau đó bồi dưỡng bản thân bằng một hai hớp nước và một cái bánh quy, rồi nàng tiếp tục lái tàu, đầy tự mãn trong cương vị của mình. Cứ mỗi tiếng vỗ bất thường của buồm lại có một cú giậm mạnh xuống boong tàu hầu thông báo sự việc cho đoàn thủy thủ hốt hoảng. Nhận thấy sự không biết mỏi mệt như vậy của nàng, tôi sẵn tiện thuyết phục nàng đứng trực luôn cả hai phiên thay cho Jarl và Samoa; và khi nàng ở vô lăng lái thì tôi mới cho phép bản thân mình được chợp mắt trên một chồng buồm cũ trải ra trên boong lái vào mỗi tối.

          Chính Ông Giời là người thường khuyên răn tôi “dừng tàu” mỗi đêm để ngăn đà tiến của tàu tới khi trời sáng, một kế hoạch mà dưới những hoàn cảnh khác hẳn có lẽ đã cho phép tất cả mọi người được ngon giấc. Nhưng như đi như vậy sẽ rất khinh suất. Bởi vì khi tàu không tiến về trước thì các dòng hải lưu dồn dập mà chúng tôi gặp phải sẽ tiếp tục cuốn chúng tôi về phía đông; thêm nữa, trái với kinh nghiệm trước đây, gần đây các dòng chảy này có vẻ đã đổi chiều, một hiện tượng tuyệt nhiên không hề hiếm gặp trong khu vực lân cận đường Xích Đạo ở Thái Bình Dương. Và đấy là thứ đã kéo dài chuyến đi về phía tây của chúng tôi quá đỗi. Thậm chí dưới một luồng gió vừa phải, đôi lúc tôi còn tưởng rằng sức gió đã kháng lại lực cuốn của những dòng hải lưu, cho nên cứ tưởng là tàu đi được kha khá, trong khi thực ra hầu như chúng tôi chỉ ở yên một chỗ trên biển.

Các dòng hải lưu xích đạo của các vùng Biển Nam có thể xem như là thứ bí ẩn nhất trong số những điều bí ẩn. Từ đâu mà chúng đến, đến đâu, nào có ai hay? Xin nói cho chúng tôi biết, quy luật tiềm ẩn nào đã điều chỉnh luồng chảy của chúng. Mặc những lý thuyết nào gán cho chúng là một tiến trình hầu như đồng nhất từ đông sang tây, chịu tác động của các ngọn gió hướng về phía đông của đường Xích Đạo và là tác động thêm vào của những dòng Tia, những dòng hải lưu này luôn luôn chuyển dịch. Chu kỳ xoay của chúng cũng không thể nào căn cứ vào hoặc dự đoán được.

Nhưng dù có khó xác định nguyên nhân cụ thể cho các dòng đại dương đến đâu, ở bất kỳ nơi nào trên thế giới này, ta cũng đã thấy rõ một trong số tác động tốt của chúng. Và dù điều sắp nói có lẽ ai cũng biết, vẫn đáng đặt câu hỏi rằng liệu người ta đã thực sự đánh giá đúng tầm quan trọng của nó hay chưa. Ở đây tôi muốn nói đến sự hòa trộn và thanh lọc liên tục của nước biển nhờ các dòng hải lưu.

Vì cái gọi là chất muối đặc trưng giúp thanh lọc nước biển - theo lý thuyết thông thường - cũng đáng bị nghi ngờ. Và cũng khó thể phủ nhận rõ ràng rằng chính những chất muối ấy có thể làm nước biển nhiễm bẩn, nếu không nhờ sự lưu thông mạnh mẽ của các phần tử nước do dòng chảy tạo ra. Các thủy thủ biết quá rõ rằng một xô nước biển được để ngoài nắng trong một vùng khí hậu nhiệt đới sẽ nhanh chóng trở nên rất khó chịu, một điều vốn không xảy ra với nước mưa.

Nhưng tôi không hề xây dựng lý thuyết. Bằng cách lật lại vấn đề, biết đâu một lý thuyết sẽ được phát triển từ phát biểu trên, và cũng xin cho tôi thêm rằng sự khó chịu của nước biển để ngoài nắng có lẽ, ở mức độ không nhỏ, nảy sinh từ chất phân huỷ của động vật.

 

[34] Cần lái là một cán bằng gỗ, hoặc bằng sắt dùng để điều chỉnh hướng tàu, ở một số tàu lớn sẽ có gắn thêm bánh nan hoa cũng được gọi là vô lăng lái; cần lái ở nằm ở boong lái, trong khi dây buồm mũi nằm ở boong bên kia của tàu.

[35] David và Goliath trong 1 Samuel 17.

Thêm vào giỏ hàng thành công