favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XXXII: XIPHIUS PLATYPTERUS

          Dạo ấy, cảnh hiu quạnh trong cuộc hải trình của chúng tôi đã được dịu bớt nhờ một sự kiện đáng tường thuật.

          Kể từ khi đi khỏi Quần Đảo Vỏ Trai Ngọc, con tàu Parki đã luôn được những loài cá nhỏ bơi theo sau, làm cho biển trở nên sôi nổi dễ chịu, và chúng cứ theo đàn mà bơi dọc mạn tàu. Nhưng Jarl và tôi hoài công kiếm tìm giữa hàng ngũ của chúng loài Cá Thuyền nhỏ xanh thép bấy lâu nay vẫn đưa đường dẫn lối cho thuyền Dê Biển. Có lẽ từ khi Dê Biển được khô ráo trên boong tàu Parki, những nhà tiên phong tươi tắn nhỏ nhắn ấy đã lẩn mất dạng, sâu dưới làn nước mặn, đua dọc sát sống tàu.

          Nhưng đâu phải về Cá Thuyền mà lúc này chúng tôi hầu chuyện.

Vào một buổi sáng nọ, sự chú ý của chúng tôi hướng về một cuộc bạo động dưới nước. Hàng đàn những chú cá nháo nhào lao mình, phóng lên không trung trong nỗi khiếp sợ tột bậc. Samoa giải thích rằng kẻ tử thù của chúng, loài Cá Kiếm, hẳn đang theo sau chúng.

          Và xin cho tôi được nói đôi lời, rằng trong hết thảy những tên bá quyền, những kẻ khoác lác, những phường du côn, những bè giặc cướp, những vị Hector, những bậc quân ngư, những nhà du hiệp, những đảng cướp đường, những tay thích khách, những nòi cướp cạn, những người dũng sĩ, những đấng anh hùng bất tử bơi ngoài biển khơi, loài Cá Kiếm Ấn Độ đến nay là loài nổi bật hơn cả, tôi xin đề tặng chương sách này dành riêng để tả về chiến binh ấy. Khi làm như vậy, tôi chỉ noi theo cái tiền lệ theo đó những nhà chép sử và nhà sử học, người bạn Peloponnesia của tôi là Thucydides cùng những người khác luôn dành nhiều thời gian để tường thuật về những kẻ hủy diệt trứ danh, mục đích chắc hẳn là để giữ chúng làm mẫu mực cho thiên hạ.

          Loài cá được đề cập ở đây là một sinh vật rất khác với loài Cá Kiếm thường thấy ở Bắc Đại Tây Dương: lớn hơn về mọi mặt và lại còn là một chú tiểu đồng hăng hái hơn. Chú còn được gọi tên là Cá Kiếm Ấn Độ để phân biệt với một loài trùng tên mà ở trên có nhắc. Nhưng theo các thủy thủ ở Thái Bình Dương, chú thường được gọi là Cá Giáo, còn đối với những ai ham mê khoa học và ưa thích những cái tên đúng trong sách vở thì ta cứ biết, rằng giữa các nhà tự nhiên học uyên bác với nhau, chú được biết dưới cái tên lạ lùng là “Xiphius Platypterus”.

          Nhưng tôi xin miễn cho người anh hùng của tôi hết những biệt hiệu này và thay bằng một cái tên hay hơn nhiều do chính tôi tự đặt: xin thưa, Kỵ Mã. Và quả thực chú là một Kỵ Mã, có quy củ và tước hiệu hẳn hoi: một quý ông đích thực sống cùng một thời đại tươi đẹp với Black Prince Edward, khi hết thảy các quý ông thành danh nhờ lưỡi kiếm, trong khi thời nay, ngoại trừ Cá Kiếm, các quý ông đa phần được nhận ra nhờ đôi ủng bóng loáng và ba toong song.

          Một Kỵ Mã can đảm và vui vẻ chính là anh hùng của chúng ta, lên đường với thanh kiếm Tolodo dài luôn rút sẵn của chú. Chú sẽ chiến đấu với bạn lút cán, vì lưỡi kiếm bằng xương của chú chẳng bao giờ có vỏ. Bản thân chú đã mang nó từ khi mới sinh - phải phải, ngay vào lúc chú lao mình vào Cuộc Chiến Đời, cũng như chính chúng ta vậy, những người trần mắt thịt, vốn trần truồng và không bao chẳng bị lao vào thế giới này. Chính chúng ta lại là những vỏ kiếm của tâm hồn mình. Và thứ tâm hồn trút kiếm của bậc kỳ tài còn sáng hơn mã tấu của Saladin. Nhưng biết bao nhiêu người đã để mặc cho lưỡi kiếm của họ ngủ yên, đến khi chính nó ăn vào cả vỏ, và cả hai mục ruỗng thành từng mẩu sắt gỉ. Bạn có bao giờ được nhìn thấy những cồn vụn sắt của những mỏ neo Tây Ban Nha xưa và cả những cán neo của những con tàu chiến cổ dưới đáy Vịnh Callao chưa? Thế giới này đầy rẫy những Tháp xưởng quân giới cũ, những binh xưởng Venetia đổ nát và những trường kiếm han gỉ. Nhưng những chiến binh đích thực thì đánh bóng thanh kiếm của họ bằng những tia sáng ban mai, đeo kiếm trên những thắt lưng can đảm của mình, dè chừng những vết hoen gỉ như dè chừng kẻ thù, và nhờ những nhát đâm chắc nịch và cú stoccado mà các thanh thép của họ luôn được giữ cho thật bóng và thật bén, như những ngọn giáo Cực Quang xông pha khắp Greenland.

          Đá đánh lửa phát ra thứ ánh sáng làm điên tiết viên Kỵ Mã của chúng tôi. Chú núp bóng ở nơi sống tàu giao với đường chú đi và lao một mạch chúi đầu vào đấy, bằng thanh kiếm Andrea Ferrara của chú đâm bừa một cú gọn ghẽ hết mực, chẳng hiếm phen bị cụt mất nửa, như tên du côn bỏ dao găm trong nỗi sống còn kẻ thù mình.

          Có trường hợp một tàu Anh Quốc, tàu Foxhound, đã bị lưỡi kiếm đâm thấu phần đặc nhất của thân, là mũi tàu, xuyên hẳn qua những tấm tôn đồng và các thớ gỗ và nhô ra vài inch trong hầm tàu. Trên chuyến tàu về London, nó đã được người ta cẩn thận cưa và được đóng vào lớp gỗ ban đầu như một vật hóa thạch, nay vẫn được giữ nguyên. Nhưng đây chỉ là một cuộc tấn công tương đối vô hại của viên Kỵ Mã gan dạ. Trường hợp tàu Rousseau của Nantucket thì còn hiểm hóc hơn. Con tàu gần như bị đâm chí tử và kẻ tấn công nó đã rút kiếm. Chỉ bằng cách giữ cho các máy cọc cạch bơm thì tàu mới có thể xoay xở về được tới cảng Tahiti, “nghiêng mạn” và được một phẫu thuật gia tàu thuyền lấy hắc ín và xơ thừng mà băng bó vết thương. Tôi đã được gặp con tàu này ngoài biển, không lâu sau thảm họa ấy.

          Sau trận đấu thương đầy ác nghiệt, viên Kỵ Mã của chúng ta đã quân bị cho mình tại xưởng quân giới nào, đây là điều không hề dễ nói. Nhưng thật khổ cho chú nếu phải lao vào trong các trường đấu ấy, kiếm chẳng mang lẫn vũ khí đã tước, phó mạng cho một tên cá mập hèn hạ nào đó mà chú gặp.

          Bấy giờ, thấy rằng các bạn đi biển của chúng tôi, những chú cá nhỏ dọc mạn tàu, đã bị hành hạ ác liệt và giết thịt bởi những cuộc tập kích của viên Kỵ Mã cố chấp, ra sức săn chúng để dọn một bữa điểm tâm thịnh soạn, tôi định thay mặt chúng mà xen vào và bắt giữ kẻ thù.

          Với một lưỡi móc cá mập và dây câu, tôi đã thắng lợi và đưa quý ông can đảm của tôi lên tàu. Chú đáp boong gọn ghẽ, đập vào ván tàu bằng chiếc đuôi vạm vỡ, trong khi một thước rưỡi trước chú chìa ra thanh kiếm dễ sợ của mình.

          Với vai trò là người thắng cuộc, tôi được phép trói tay kẻ bại trận; thế là, nhanh chóng giải quyết chú và cưa đứt thanh Toledo, tôi lấy nó làm chiến tích. Thanh kiếm ấy có ba mặt, mỗi mặt hơi lõm như một thanh đoản kiếm, tầm ba inch tính từ gốc, rồi từ đấy thon dần thành một mũi nhọn.

          Và dẫu không được rèn ở Tagus hoặc Guadalquiver, nó vẫn nhô khỏi bề mặt cái  nét nhám gợn sóng và vảy nước mà chỉ các thanh kiếm đáng tin cậy của Tây Ban Nha mới có. Nó là một thanh kiếm có hương thơm - như vua Hồi cổ đại, ngát xạ hương do ma sát. Nhưng khác xa với lưỡi sắt ở Tagus hoặc Damas, nó cứng như họng súng trường của Crocket, chắc hẳn cũng chí mạng chẳng kém.

          Đã lâu tôi treo thanh trường kiếm ấy trên đầu võng của mình. Chẳng phải nó đã được ca ngợi thành truyện như thứ kiếm sắc của Bayard gan dạ, một viên kỵ mã khác ư? Thanh kiếm của hiệp sĩ hẳn cũng đã giết cả hai chục hoặc năm chục mạng; nhưng thứ vũ khí mà tôi có trong tay thì chắc chắn đã xiên và đâm hàng ngàn.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công