CHƯƠNG XXXI: LANG THANG ĐÓ ĐÂY
Ai cũng biết một niềm mê hoặc khi lang thang khắp nơi trong một tòa nhà cũ bỏ hoang, ở một miền đất ấm áp và mộng tưởng, nơi những đại sảnh trống tựa như vang lên cái tĩnh lặng, và những cánh cửa mở ra cót két như kẻ lạ bước chân; nơi cửa sổ, các cây trong vườn thọc vào những cành tối của chúng như cánh tay kẻ trộm đêm, và thi thoảng những chiếc đinh bật ra khỏi gỗ ốp chân tường, những con chuột lạo xạo phía sau như xúc xắc. Con người ta cứ ưa thích lang thang lên xuống trong những ngôi nhà ma ám như thế, và sẽ còn hay hơn nữa nếu nơi ấy bị ám bởi một câu chuyện kỳ khôi nào đấy.
Những lúc tĩnh mịch lơ mơ của một ngày đi biển vùng nhiệt đới, thường thì tôi có cái thú nhòm con tàu cướp biển bé mọn này, với thân tàu thảm thương đã chịu nhiều vết tích.
Và xét riêng về thú dạo bước thong thả cùng những cơn mơ màng tĩnh lặng thì tình cảnh của tôi lúc ấy gần như chẳng khác gì một mình đơn độc. Bởi lẽ Samoa, đôi lúc khá kín đáo, bận rộn với các suy nghĩ của riêng chàng. Và Annatoo hiếm khi phiền hà tôi mỗi khi nàng có mặt. Nàng miệt mài với những khúc vải calico và những ngọc ngà châu báu, những món đồ mà tôi cho phép nàng giữ lại, hầu cất đi cái tâm trạng khó chịu của nàng nếu có thể. Còn về phần ông Viking đế vương của tôi, ông là một người ít nói, trừ phi được gọi đích danh.
Ngoài ra, vì cần phải lái tàu Parki vào ban ngày, cho nên ở vô lăng lái phải có người đứng trực; con tàu nhỏ xíu, và tấm mắt cáo, mà ở đó người cầm lái đứng bên trên, được nâng quá cao, đến nỗi anh nhìn bao quát ra tận ngoài xà mũi tàu; cứ thế Argus đưa mắt nhìn biển, khi dẫn đường tàu chúng tôi đi. Còn những lúc khác, thì chúng tôi giao phó con tàu cho những làn gió lành giám hộ.
Khi đến lượt của tôi ở vô lăng lái - vì dù là chỉ huy, tôi thấy buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình với những người còn lại - hai mươi bốn tiếng một lần. Và không chỉ có Jarl và Samoa mới được giao bổn phận người giữ lái mà còn cả Lệnh Bà Annatoo, người đã trở nên khá thành thạo trong công việc này. Jarl luôn cho rằng sự hữu dụng của nàng có đôi chút hạn chế trong nghề lái tàu. Vì quá chú tâm đến một phần hình ảnh đáng yêu phản chiếu trên mặt kính của la bàn từ đặt phía trước, Annatoo đôi khi sao lãng bổn phận của mình và dẫn chúng tôi đi những bước nhảy ngoặt ngoẹo. Nàng cũng đâu phải, tôi tưởng, người phụ nữ đầu tiên từng khiến đàn ông ngả nghiêng.
Vì những điều đã đã nói trên, tôi có nhiều thời gian rỗi cho bản thân. Đôi lúc, tôi trèo lên cao và nằm ườn nơi các dây cáp xà buồm ngọn - một trong số những góc căng ở dây neo buồm - tôi nhìn toàn cảnh vùng biển xanh vô tận và tự hỏi người ta đang làm gì ở miền đất không xác định ấy, mà số phận đã dành cho một chỗ trong tâm trí chúng tôi. Hoặc khi thấy bớt trầm tư, tôi lang thang đây đó, chuyền qua dây chằng từ cột buồm này đến cột buồm kia, trèo lên các đỉnh cột, hoặc quanh quẩn đến các đầu mút xà buồm, khám phá bất kỳ nơi nào có chỗ đặt chân. Nó giống như leo khắp nơi trên một cây sồi già to tướng và nghỉ ngơi ở những gạc cây.
Đối với một thủy thủ, dây nhợ trên tàu là cả một công trình nghiên cứu. Và với tôi, mỗi sợi thừng tàu Parki được săm soi với thích thú vô vàn. Những kiểu đi dây lạ lẫm trên giàn dây níu, các vòng dây chằng, các thừng kê chân, các dây thắt đôi, các mắt thừng flemish, các thừng nhỏ - hết thảy khoáng dã của hệ thống thừng chảo mang những đặc điểm rõ nét về nguồn gốc con tàu.
Nhưng có lẽ những giờ dễ chịu nhất đối với tôi chính là những khi tôi dành để duỗi mình trên chồng buồm cũ, trên đài buồm mũi; lười biếng gật gù theo cái lắc lư nhè nhẹ của con tàu.
Thường xuyên tôi xuống cabin, đâu đã năm chục bận khám phá các tủ khóa và các buồng ngủ để tìm thứ gì là lạ. Và nhiều lần, với ánh sáng le lói, tôi bước vào hầm tàu tối như bước vào những lăng và những mộ; và luồn lọt giữa những góc ẩm ướt bên các thùng tô-nô, lách vào những hốc xa nhất.
Đôi lúc, trong những chui nhủi hầm ngầm ấy, tôi phát hiện tạp nhạp những chỗ giấu đồ kỳ quặc của Annatoo, nơi các món lỉnh kỉnh được bí mật giấu gọn, những thứ nàng say mê. Quả thật, không ít phần của thân tàu tựa như một mỏ những đồ bị lấy cắp khỏi lòng tàu của chính nó. Tôi tìm thấy một chiếc mũ bảnh bao của thuyền trưởng, được giấu gọn ghẽ trong phần rỗng ở giữa cuộn dây buộc buồm, được che phủ theo kiểu thương tâm nhất bằng một đống thừng cũ; và cạnh đó, trong một chiếc thùng tô-nô, tôi phát hiện vài khúc phải calico nguyên tấm, buộc chặt thành khối lớn bằng một sợi thừng hầu như đủ chắc để giữ cột buồm.
Gần với thứ ánh sáng vô tình mà, khi cửa hầm đã bị tháo, yếu ớt rọi vào khu hầm tàu này, là một chiếc thùng cỡ đại[31] ở boong đáy, mất nắp như Charles Đệ Nhất mất đầu. Và trong đấy một tấm thảm được trải tử tế để nghỉ ngơi, một khám phá đã giải thích cho cái thứ đã luôn luôn tỏ ra bí ẩn. Chẳng hiếm phen Annatoo thuộc vào những món mất tích ấy; và dẫu rằng, từ mũi đến lái, chúng tôi vẫn phải gọi inh ỏi cho nàng xuất hiện và cho những người bạn lo lắng của nàng được nguôi nỗi lao tâm khổ tứ, quý phu nhân vẫn biệt tăm biệt tích, yên lặng và vô hình như ma. Nhưng được lúc vui vẻ, nàng sẽ bí ẩn xuất hiện hoặc được thình lình trông thấy đang lặng lẽ thơ thẩn trên boong mũi, như thể nàng đã luôn ở đó từ muôn đời.
Có hỏi han cũng vô ích, “Nãy giờ bà ở đâu, Annatoo dễ thương?” Bởi nàng chẳng đáp được lời dễ thương nào.
Nhưng từ nay vấn đề đã được sáng tỏ. Nơi đây, trong chiếc thùng tô-nô lặng lẽ dưới hầm, Annatoo có thói quen cuộn mình một góc, như con rắn sọc cuộn mình dưới đá.
Liệu nàng có canh chừng những của nả bí mật quanh quất đâu đây: liệu nàng có ở đây thực hiện nghi thức sám hối như một nữ tu trong buồng riêng hoặc bị xui khiến bởi những thế lực vô hình trong không trung[32] - chẳng ai nói được. Còn bạn?
Quả thực, những kiểu cách của nàng như kiểu cách của loài cánh cụt khó hiểu khi xây những chiếc tổ khó hiểu của chúng, gây hoang mang cho toàn bộ giới khoa học và khiến bậc hiền triết ra ngớ ngẩn.
Bí nhiệm thay Annatoo! Người nào sẽ giải nghĩa được nàng?
[30] Nguyên văn rovings alow and aloft, rovings là một thuật ngữ hàng hải, mang nghĩa một hành động đi dây ròng rọc, và alow and aloft có nghĩa là căng tất cả các lá buồm trên tàu.
[31] Thùng chứa với dung tích 500 lít.
[32] Ý nói các thế lực ma quỷ trong Ephesians 2, 2
