favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XXIX: NHỮNG THỨ HỌ PHÁT HIỆN KHI ĐẨY MẠNH VIỆC KHÁM TÀU, VÀ BIỆN PHÁP HỌ ĐƯA RA

          Xuống cabin cùng Samoa, tôi bảo chàng đi lùng cuốn nhật trình của tàu, bàn viết của thuyền trưởng và các hải cụ; nói ngắn gọn, bất kỳ thứ gì có thể làm sáng tỏ hành trình trước đây của tàu, hoặc phương tiện để dẫn hướng về nhà.

          Nhưng mọi thứ thuộc loại này gần như đã biến mất: nhật trình, thước đo góc, cùng các giấy tờ của tàu. Chẳng còn lại gì ngoài hộp đựng kính lục phân, thứ mà Jarl và tôi từng phát hiện dưới buồng cabin.

          Về vấn đề này, tôi lại đâm nghi, dẫu mơ hồ; rồi tôi dò hỏi anh Dân Đảo thật kỹ về sự biến mất của những món quan trọng ấy. Anh cho tôi hay rằng các hải cụ này đã được Annatoo lén mang lên boong mũi; và cũng tại quý phu nhân không biết mỏi mệt và tò mò ấy mà chúng đã bị sơ sịa tháo ra nhằm mục đích thanh tra khoa học. Phục hồi chúng là một việc bất khả; bởi lẽ nhiều bộ phận cố định đã mất, nào những kính màu, ống ngắm, và gương nhỏ; còn những bộ phận có thể tìm lại được thì đã quá đỗi móp bể đến độ hoàn toàn vô dụng. Trong nhiều ngày sau, lắm phen chúng tôi bắt gặp những mẩu của cây thước đo góc hoặc kính lục phân; nhưng chỉ là để than khóc số phận chúng.

          Tuy dẫu rằng cả kính lục phân lẫn thước đo góc đều khó mà có được, tôi đã nhanh chóng từ bỏ toàn bộ hy vọng tìm cho ra một chiếc thời kế mà, nếu vẫn còn chạy tốt, dù không kêu tích tắc thì ở mức độ nào đó vẫn có thể làm cho dùng được. Nhưng chẳng thấy có công cụ nào như vậy. Không: còn không hề nghe tới; chính Samoa nhận mình không hay biết gì.

Annatoo, tôi vừa hù vừa dỗ; tôi mô tả chiếc thời kế - một vật tròn, động đậy giống con cóc, phát ra tiếng kỳ cục mà tôi bắt chước theo; nhưng nàng chằng biết gì về nó. Liệu nàng có từng phát hiện ra nó mà Samoa không hay và đã phanh thây nó như thường chăng, không cách nào biết được. Thực vậy, về điểm này, nàng giữ một vẻ ngu si không thể uốn nắn, mà nếu quả thực nàng có phịa chuyện thì bản mặt trơ trơ của nàng đã thế chỗ cho thứ phỉnh phờ nơi môi miệng.

Nhưng lỡ đâu trong trường hợp cá biệt này nàng đã bị đánh giá bất công; bởi lẽ, như nhiều tàu nhỏ khác, con tàu Parki có thể không bao giờ sở hữu thứ công cụ đang nói đến. Do đó, toàn bộ ý nghĩ về việc đi tàu theo cảm tính trong khi chúng tôi càng lúc càng dấn sâu hơn vào hoang mạc nước tất nhiên phải từ bỏ.

Quyển hải trình cũng là một trong mớ đồ ăn cắp của Annatoo. Có vẻ nàng đã mang vào xưởng của nàng để ngẫm nghĩ. Nhưng sau khi tiêu khiển bản thân bằng cách đếm tới đếm lui những trang sách và phân vân làm sao từng ấy bề mặt riêng biệt lại có thể được cô đọng trong một chiếc la bàn nhỏ nhắn đến vậy, bất chợt nàng cảm thấy một nỗi ác cảm với văn chương và quẳng quyển sách xuống biển như thể món đồ vô dụng. Chắc hẳn nó đã chịu chung số phận của những tập sách nặng nề, chìm rất nhanh và rất sâu. Sau này liệu Camden và Stowe nào sẽ lao mình vì nó?

Một tối nọ Samoa mang cho tôi một tay sách bốn gập dọc, đã ngả vàng, giấy có vân, quá bẩn và dính hắc ín mà anh đã tìm thấy trong một hốc tối ở boong mũi. Rõ ràng nó là một phần của quyển nhật trình đã mất; toàn bộ chữ viết trên đó vẫn đọc được nhưng không mang lại thông tin gì về vị trí giống với nơi tôi muốn đến.

Nhưng không thể không bị ấn tượng vì một sự cố bi thảm mà trang sách đã thuật lại rất vắn tắt, cũng vì hình minh họa đáng chú ý về sự kiện ấy bên lề trang. Hình vẽ này không còn đề cập nào ngoài những dòng sau: “Hôm nay, biển lặng, Tooboi, một trong số những người Lahina, xuống biển tắm và đã bị cá mập nuốt chửng. Ngay lập tức đã cho người cứu lấy cái túi đồ của hắn.”

Cái câu cuối cùng ấy có thể hiểu theo hai nghĩa. Đúng rằng ngay sau cái chết của người thủy thủ không bạn trên biển, thủy thủ đoàn thường nhắm lấy của cải của người ấy và chia chác chúng, dẫu áo quần của người đã chết ít khi được mặc trước cuộc hải trình tiếp theo. Chuyện này nghe có vẻ nhẫn tâm, nhưng các thủy thủ lý luận như sau: thà là chúng tôi còn hơn là thuyền trưởng. Vì chiểu theo luật, dù xoàng hay không xoàng thì vật dụng cá nhân của các thủy thủ, nếu mất mạng trên boong tàu, phải được giao phó viên sĩ quan ấy cất giữ. Nhưng vì các thủy thủ đa phần mồ côi hoặc bụi đời và người thân họ hàng họ chỉ nằm ở đôi chân đôi tay, hầu như chẳng bao giờ có bất kỳ người thừa kế theo luật nào có mặt để nhận di sản của họ, vốn chẳng đáng kế thừa mấy khi, như của Esterhazy. Từ đó, việc đưa bộ “quân trang” của người chết từ boong mũi xuống cabin thường đồng nghĩa với việc thuyền trưởng chiếm giữ nó. Dù có thế nào, trên những con tàu nhỏ dặm khơi, những chuyện như vậy đã từng xảy ra.

Vậy nên câu bên trên, trích từ nhật trình của tàu Parki, có thể thấy là ít nhiều mơ hồ. Khi ấy, tôi thấy nó thật lạ lùng, vì chiếc túi cỏ của anh thợ lặn tội nghiệp đâu thể nào chứa thứ gì đáng giá, họa là có khi anh đã giấu ở đấy vài viên ngọc Cleopatra, được tách bất chính khỏi những vỏ trai mang lên từ biển.

Bên cạnh mẩu tin được chép lại phía trên là một bản phác họa vẽ bằng bút mực về nạn nhân, bị hành hình cách tàn bạo hơn cả; đôi chân của người bạn đáng thương được tả trong tình cảnh bị nuốt giữa chừng; đôi tay bám chắc vào những chiếc răng của con quái vật, như thể oanh liệt quyết cứu cho được phần thịt của mình được chừng nào hay chừng ấy.

Nhưng hẳn viên thuyền trưởng tốt bụng đã phác lại đài tưởng niệm dành cho người quá cố bằng trọn cả tấm lòng, chừng là trong khi rỗi nhàn sầu hải sau cái tai họa ấy. Vài nét đã bị nhòe mất trên trang giấy, có vẻ là dấu vết của một hai giọt nước mắt mặn mà còn vương.

Từ nét hình vẽ là lạ thêm vào trong bản văn, tôi đi đến suy luận rằng người phác họa, lúc này lúc khác, hẳn đã từng tham gia vào công việc săn cá voi. Bởi trong các nhật ký của một số tàu săn cá voi, người ta thường dùng mực tàu để vẽ minh họa theo kiểu tương tự như vậy.

Mỗi khi nhìn thấy cá voi nhưng không bắt được, các thủy thủ biểu thị bằng một nét đi viền hình chiếc đuôi của loài sinh vật, với phần thùy đuôi rộng và cong của nó. Nhưng trong những trường hợp con cá voi bị săn và giết chết, nét viền ấy được tô đen; mỗi hình là một con cá voi bị giết; khi lật trang nhật trình, ta thấy hiện ra những đối tượng nổi bật, cùng với đôi ba nhận xét mở đầu. Thế nên thật vô cùng lẫm liệt khi thấy ba bốn, thậm chí năm sáu hình vẽ như thế nối tiếp nhau: minh chứng rằng bấy nhiêu con cá khổng lồ đã phun lên làn nước cuối cùng trong ngày hôm đó. Và viên thuyền phó có nhiệm vụ giữ sổ sách của tàu thường lấy làm tự hào về độ sắc sảo sống động của những chiếc đuôi do mình vẽ; song, nói thật, lắm kẻ trong số các họa sĩ này chẳng phải Landseer[28].

Sau khi hoài công đi tìm trong cabin những vật phẩm mà chúng tôi cần có nhất, chúng tôi khởi sự khám phá hầm tàu, nơi chúng tôi còn chưa bước vào. Ở đây, chúng tôi tìm thấy một số lượng đáng kể những vỏ trai ngọc, dừa, và dư dật những thùng tô-nô nước sạch, những lá buồm và dây neo dư dùng và hơn năm mươi mấy thùng bò muối và bánh quy. Dù những vật thể vừa nhắc đến kia chẳng có gì lãng mạn, tôi vẫn dừng lại ngắm chúng hồi lâu, chìm trong một cơn mơ màng. Trên mỗi đầu thùng đều in dấu tên một địa danh ở nước Mỹ, mà tôi rất quen thuộc. Bởi chính từ nước Mỹ, phần lớn các loại nhu yếu phẩm trên tàu được chuyển sang để cung cấp cho số ít con tàu khởi hành từ quần đảo Hawaii.

Bấy giờ đã thấy quen thuộc với con tàu Parki trên bất kỳ phương diện có thể tìm hiểu, tôi lui tới boong mũi và triệu tập Samoa, Annatoo, Jarl, nghiêm túc thông báo cho họ.

Tôi nói rằng không có điều gì cho tôi sự thỏa mãn lớn hơn là ngay lập tức quay trở lại nơi đã diễn ra cuộc tàn sát và trừng phạt nghiêm khắc những kẻ gây ra nó vẫn còn sống. Nhưng vì cả thảy chúng tôi chỉ có bốn người và vị trí của những hòn đảo ấy hoàn toàn xa lạ với tôi; thậm chí nếu có biết thì cũng không thể nào tiếp cận được vì chúng tôi không có bất kỳ dụng cụ hàng hải nào; ta nhận thấy khá rõ rằng toàn bộ suy nghĩ về việc trở về nơi ấy hoàn toàn vô nghĩa. Lý do cuối cùng ấy đã ngăn chúng tôi đi đến quần đảo Hawaii, nơi con tàu thuộc về, dẫu rằng như vậy là nước đi khôn ngoan nhất, vì nếu thành công, ta sẽ được giao trả lại con tàu xấu số cho các chủ tàu của nó.

Nhưng xem xét mọi khía cạnh, có vẻ tốt hơn cả, tôi thêm, là cẩn thận duy trì con đường về hướng tây của chúng ta. Đây là đường dễ nhất vì chúng ta đã luôn có ngọn gió thổi từ đuôi tàu, và dù chúng ta có thể chẳng có nhiều hy vọng đến được một vị trí bất kỳ đã được định sẵn trước đó thì vẫn có một niềm chắc chắn khả quan rằng nếu cứ trôi đủ lâu, sớm muộn gì cũng sẽ gặp được một hòn đảo nào đó để nghỉ ngơi lấy lại sức; từ đó, nếu thấy cần, sau này chúng ta có thể lên tàu đi đến những miền đất dễ chịu hơn. Thế rồi tôi nhắc cho họ nhớ rằng miễn là chúng ta cứ giữ biển thì vẫn luôn có triển vọng được gặp một cánh buồn thân thiện nào đó; trong trường hợp ấy, mối lo âu của chúng ta sẽ không còn nữa.

Toàn bộ điều này tôi nói bằng một giọng nhẹ nhàng, cương nghị của một người thuộc bậc trên; bởi tôi muốn lập tức khẳng định vị thế tối thượng của mình mà không để ai nghi ngờ. . Bởi vì nếu không thì Jarl và tôi thà bỏ con tàu ngay tức khắc, còn hơn là ở lại trên boong chịu đựng cái thói đồng bóng kỳ cục của Annatoo, thông qua Samoa sẽ có lúc gây ảnh hưởng. Nhưng tôi đoan chắc về ông Viking của tôi, và nếu Samoa tỏ ra dễ bảo thì chẳng có gì phải sợ quý phu nhân của chàng.

          Và vậy là trong lúc tuyên bố, tôi đưa mắt ngó chăm chăm vào chàng; bằng cách ấy mà tôi hiểu ra rằng dẫu lúc này đã chịu phục tôi, chàng cũng vẫn cứ là một người, dẫu không hẳn toan tính điều gì hiểm độc, vẫn có thể có cơ hội đóng một vai xấu. Nhưng lòng dũng cảm của chàng và danh dự man dã của chàng như vốn có, tôi không một chút hồ nghi. Với một con trâu hoang như chàng, đã được thuần hóa dưới cái ách hôn nhân, tôi không thể không tưởng tượng rằng nếu chẳng có lý do nào khác, thì ít nhất việc có thêm chúng tôi trên tàu hẳn cũng khiến chàng  cảm thấy đỡ khổ trước sự bạo chúa của vợ mình.

          Phải nói rằng, với một anh chồng mái mổ, Samoa vẫn là một người trông cực kỳ dữ dằn. Và suy cho cùng tôi cũng thích chàng, giống như ta thích thú một con chiến mã hung hăng có bờm nhếch nhác, như Alexander trẻ tuổi thích thú với con ngựa Bucephalus; thứ ngựa hoang, khi đã vuốt ve rồi, thì cậu ta cũng chỉ yên tâm khi vẫn còn giữ chặt dây cương. Nhưng chuyện về Samoa, xin hẹn kể thêm sau.

          Đường của chúng tôi đã định và quyền chỉ huy của con tàu mặc nhiên được nhường cho tôi, điều cần làm tiếp theo là đặt mọi thứ về đúng chỗ của nó. Những lá buồm tả tơi đã được thay bằng những lá buồm mới, được kéo lên từ phòng cất buồm bên dưới; ở nhiều chỗ, dàn dây neo buồm trọng yếu đã được đi dây; các ròng rọc được buộc lại; các dây chằng và giàn dây níu bị chùng đã được căng. Tất cả mọi sự, chúng tôi hầu như mang nợ cây đinh nhọn không mệt mỏi và khéo léo của ông Viking, mà ông dùng như một vương trượng.

          Nhà xí của tàu Parki nhỏ bé vì thế cũng được dọn kỹ lại lần đầu tiên kể từ cuộc tàn sát, chúng tôi đem lại cho con tàu vẻ ngoài mới toanh và căn vuông các xà buồm cho xinh xắn, con tàu duyên dáng lướt đi; ông già Jarl thực thà thì ở vô lăng lái, thận trọng dẫn hướng tàu đi như một người cha nuôi tận tụy.

          Khi tôi đứng cạnh ông như một thuyền trưởng hay đi lên xuống boong lái, tôi cảm thấy không ít quan trọng khi đảm nhận công việc như vậy lần đầu tiên trong đời, làm chỉ huy của một con tàu ngoài khơi. Những hoàn cảnh mới mẻ chỉ làm tăng thêm cảm giác này: những vùng biển hoang dã và xa xăm nơi chúng tôi đang rẽ sóng; tính cách đoàn thủy thủ của tôi, và cả ý nghĩ rằng, trên thực tế, tôi vừa là thuyền trưởng, vừa là chủ sở hữu của con tàu mà mình đang điều khiển.

 

[28] Sir Edwin Henry Landseer (1802 – 1873) danh họa nổi tiếng với những bức tranh về các loài động vật.

[29] một kiểu vòm nhọn

Thêm vào giỏ hàng thành công