CHƯƠNG XXI: CÓ NGƯỜI!
Chầm chậm, chập chờn, buổi sáng đã rạng ở đằng Đông, lộ ra con tàu hai cột buồm tiêu điều dựng nặng nề qua làn nước, uể oải chịu thụi bên dưới mũi tàu. Khi tung vó từ biển này qua biển kia, chiếc Dê Biển trung thành của chúng tôi, như một chú chó trung thành, vẫn nhảy nhót sát bên, bị cột vào bao lơn chính bằng dây buộc thuyền của nó. Thi thoảng nó tụt một đoạn xa phía sau rồi lại được đẩy nhờ một ngọn sóng như chớp dội tới, cho đến khi được thắng dây cương, trở lại theo sau.
Khi làn ánh sáng xám nổi lên, chúng tôi lo lắng nhìn kỹ các đặc điểm của con tàu, từng chút từng chút một chúng hiện ra rõ ràng hơn. Mọi thứ giờ dường như kỳ lạ hơn lúc chỉ thấy mờ mờ trong màn đêm tối xỉn. Các cột chống sườn tàu hoặc các trụ ở hai bên mạn là những cọc thô, vẫn còn vỏ cây. Thành tàu chưa sơn, làm từ một loại gỗ sẫm màu, trông thật dị giáo và xa lạ. Cần lái là một cành cây to vẹo cổ, gấp khuỷu, thọc xuyên qua boong lái, như thể tự thân cây đã nhanh chóng đâm rễ dưới hầm tàu. Hộp la bàn thì được che chắn hai bên bằng thảm thô vàng. Dây neo buồm - dàn dây níu, các dây nâng buồm vân vân - thì làm từ “Kaiar” hay xơ dừa; và chỗ này chỗ kia thì các lá buồm được vá bằng những tết bấc.
Nhưng chưa hết. Người nào dò mò, người ấy phải có đèn soi vào chỗ ngờ vực. Liếc qua bên mạn, trong đường của mỗi lỗ thoát nước, chúng tôi thấy một vết ố đỏ, đã mờ, mà Jarl quả quyết là máu. Nhưng giờ đây ông chẳng lộ ra một chút run sợ nào, vì thứ ông nhìn thấy chẳng phải thứ gì ma quỷ và mọi nỗi lo sợ của ông đến nay đều là sợ thứ siêu nhiên.
Thật vậy, khi ngày mới vừa lên, người Viking của tôi bỗng trở nên gan góc như sư tử; và chẳng mấy chốc, với bản năng của người thủy thủ lành nghề, ông đưa mắt nhìn lên cao.
Ngay lập tức, ông đụng tay tôi, “Nhìn kìa: cái gì động cựa ở bao lơn chính vậy?”
Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ở đó có thứ gì đó còn sống.
Chụp hai bàn tay, chúng tôi nhìn nó; khi trời sáng dần, thấy một kẻ lạ đang nép mình.
Giơ súng, tôi hô bảo hắn trèo xuống hoặc là bị bắn. Một khoảng lặng kéo dài, rồi một khẩu súng trường đen sì thò ra, nhắm thẳng vào đầu tôi. Ngay lúc ấy, cây lao móc của Jarl đã chuẩn bị găm một cú: hai chọi một; và tôi lại hô lên lần nữa. Nhưng vẫn không có tiếng đáp.
“Ngươi là ai?”
“Samoa,” một tiếng rõ, chắc.
“Xuống khỏi dây neo buồm. Chúng ta là bạn.”
Một khoảng lặng khác; thế rồi trỗi dậy, kẻ lạ chầm chậm leo xuống, một tay giữ dây neo buồm, vì tay hắn chỉ còn một tay; cây súng hỏa mai của hắn một phần thì quàng sau lưng, một phần thì kẹp chặt bên dưới mẩu tay tật.
Hắn đáp xuống độ sáu bước cách chỗ chúng tôi đứng; và giữ vũ khí của mình cho cân, giương mắt nhìn can đảm như hoàng tử Cid.
Hắn là một Dân Đảo tướng cao, đen, trông rất dữ, diện váy và khăn xếp theo lối rất kịch; váy vải calico họa tiết sặc sỡ, khăn đỏ vải lụa Tàu. Cổ hắn lúc lắc những xâu râu.
“Trên tàu này còn ai khác nữa?” Tôi hỏi trong khi Jarl - từ nãy đến giờ vẫn chĩa vũ khí vào kẻ lạ mặt - giờ hạ nó xuống boong.
“Kia kìa: Annatoo!” hắn đáp bằng thứ tiếng Anh bập bõm, chỉ lên đài cột buồm mũi. Thì này! Một phụ nữ, cũng là một Dân Đảo, tém các lớp váy, vận lối rất giống Samoa, trèo xuống.
“Còn nữa không?”
“Hết rồi.”
“Vậy các người là ai; và cái tàu này là gì?”
“À, à - ngươi không phải ma; nhưng ngươi có phải bạn ta?” hắn kêu lên, vừa tiến lại vừa nói; trong khi người phụ nữ, đã xuống boong, cũng đến gần; ngóng liếc.
Chúng tôi đã bảo chúng tôi là bạn, rằng chúng tôi chẳng cố hại ai nhưng muốn biết con tàu này là gì và cái họa gì đã ập xuống đây; vì có điều không may đã xảy ra, chúng tôi chắc chắn.
Tới đây, Samoa trả lời rằng quả thực có điều khủng khiếp đã xảy ra và rằng chàng sẽ vui lòng kể lại tất cả cho chúng tôi nghe, cho chúng tôi biết sự thật. Và chàng khởi sự mà rằng.
Giờ đây, câu chuyện của chàng được thuật lại theo lối dụng ngữ pha trộn của thủy thủ Polynesia. Cùng đôi ba suy ngẫm hú họa, nó sẽ được tìm thấy trong sáu chương kế tiếp.
