favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XX: NHỮNG TIẾNG ĐỘNG VÀ ĐIỀM BÁO

          Tôi mong cho ngày đến. Vì dù lúc này có chiều tin rằng con tàu brigantine không có người, tôi vẫn khát khao ánh sáng mặt trời để xua tan hoàn toàn mọi nghi ngờ.

          Trước khi lên tàu, tôi đã để ý thấy con tàu nằm khá thấp trên mặt nước, nên nghĩ cần thiết phải đo hầm tàu. Nhưng không có sẵn dây và chì dọi, tôi sai Jarl đi tìm trong rương đựng dụng cụ ở boong sau - chắc chắn phải có ở đó. Trong lúc ấy thì tôi đi tìm các “đập”, hay bơm tay, mà hóa ra gần đây có vẻ chẳng ai dùng - chúng được tìm thấy bị buộc dọc vào cột buồm chính.

           Bỗng Jarl chạy về chỗ tôi, thì thầm rằng toàn bộ nghi ngờ đều đã bị xua tan; trên tàu có ma, chắc luôn. Ông đã vô tình nghe được một tiếng hắt hơi siêu nhiên. Nhưng lúc này tôi gần như đã tin chắc rằng chỉ có hai chúng tôi trên chiếc brigantine. Nếu có ai khác thì chẳng có lý do gì trên đời để họ phải trốn tránh hai thủy thủ đơn độc, những người mà nếu muốn, họ đã có thể dễ dàng khống chế. Vả lại, sự nhiễu loạn không khí trên cao do cái hắt hơi này, Jarl quả quyết đã xảy ra trên đài cột buồm chính, ngay chỗ tôi đứng bên dưới suốt nãy giờ mà chẳng nghe thấy gì. Thật đáng khen cho ông Viking của tôi về sự tinh nhạy vượt trội của hai vành lỗ nhĩ, tôi bảo ông thôi đừng phiền nhiễu bản thân ông bằng những hồn ma với cả yêu tinh giặc biển nữa, chúng làm gì xuất hiện ở đâu ngoại trừ trong trí tưởng tượng của ông.

          Khi không tìm thấy dây câu và hòn chì; bằng đầu thừa của một đoạn dây chằng, chúng tôi trang bị thành một vật thay thế; và khi thám hiểm hầm, chẳng thấy có gì có thể làm cho chúng tôi hoảng hốt. Tuy nhiên, trong những tình huống nhất định, việc thám hiểm hầm tàu cũng đủ là một chuyện gây lo lắng. Nó giống như cảm thấy mạch đập của mình vào đoạn cuối cơn sốt.

          Theo gợi ý của Ông Giời, chúng tôi quyết định cho tàu xoay đầu sang hướng gió đối diện. Trước khi trời sáng, chúng tôi muốn thay đổi vị trí của con tàu càng ít càng tốt, lo lỡ đâu gặp phải những rặng đá ngầm.

          Và cũng nên nói thêm rằng, mặc cho bao linh cảm mê tín về con tàu, việc ông quy cho nó một thứ gì tương tự như ma, lão Jarl thực thà vẫn luôn vô cùng thực tế và dứt khoát trong mọi gợi ý và hành động liên quan đến nó. Theo cách ấy, ông giống như người bạn Đức Cha của tôi, Giám Mục Berkeley - quả thực là một trong những vị chủ chăn linh hồn - người mà, nói theo lẽ siêu hình, xem mọi đối tượng chỉ là những đánh lừa thị giác đơn thuần, tuy vậy lại cực kỳ xét thực trong mọi vấn đề liên quan đến bản thân vấn đề. Ngài vẫn cảm nhận được đầu nhọn của cây kim, và vẫn có khẩu vị biết thưởng thức bánh pudding mận: một câu đọc lên nghe như tiếng mưa đá rơi đồm độp.

          Giờ đây, khi chúng tôi vào việc đặt mối nối quanh các xà buồm, Jarl thầm thì thấy phải quấy tôi lần nữa với những nghi ngờ chết tiệt của ông về yêu tinh trên tàu. Ông lấy cột buồm chính ra mà thề, rằng khi xà buồm mũi được xoay thì ông nghe thấy một tiếng rên nghèn nghẹt từ khu vực ấy, như thể con ngáo ộp của ông bị kẹt cái chân gió của nó. Tôi cười, nói bóng gió rằng yêu tinh chúng nó đâu có thân xác. Nhân đó ông van tôi đi đến giàn dây mũi tàu và tự mà kiểm tra xem. Nhưng lần này, lý trí trưởng thành đã thắng thế trước sự bốc đồng ban đầu. Tôi nhã nhặn từ chối.  Vì dù sao thì, vẫn có khả năng - dù rất nhỏ - là có kẻ nào đó còn sống đang ẩn nấp ở đỉnh cột buồm mũi; và nếu tôi đang treo lơ lửng giữa không trung, tay đầy dây dợ, chân không chạm sàn, mà có một cánh tay vô hình đẩy tôi rơi khỏi sườn cột chéo nghiêng kia, thì tôi biết sẽ ra sao rồi. Vậy nên tôi giữ yên phần mình trong khi Jarl tiếp tục tuyên bố rằng mình đã quyết định xong về bản chất con brigantine này: nó là một con tàu giả hiệu trâng tráo, một cái bóng tàu, đầy hồn ma thủy thủ, và trước khi chúng tôi kịp hiểu chuyện gì, nó sẽ tan vào một cơn bão siêu nhiên, để lại hai chúng tôi trơ trọi giữa biển khơi. Nói gọn, Jarl, hậu duệ của những người Na-uy mê tín, đầy những tưởng tưởng Na-uy kỳ lạ cổ xưa và hết thảy tập quán của những kỳ quan Valhalla, bận trí đến vùng đất của những yêu tinh lẫn những cốc vàng. Chẳng trách rằng với tai họa sắp đến, ông lần nữa khẩn khoản cầu xin tôi bỏ con tàu xấu số này đi, đừng mang theo thứ gì khỏi thân tàu quỷ ma này. Nhưng tôi từ chối.

          Ta chẳng thể thuật lại mọi thứ cùng một lượt. Khi đang ở trong cabin, chúng tôi gặp một “cây” bánh quy, và thấy nó chứa một món chất lượng vượt trội hơn loại của chúng tôi, chúng tôi bỏ đầy túi và lắm phen thấy mình ngang hàng vua chúa trong những đợt lùng sục. Giờ chúng tôi mang giỏ quà bánh biển khơi này lên boong. Và lần đầu tiên kể từ lúc chào vĩnh biệt con tàu Arcturion, sau khi được uống cho đã khát, khẩu vị của chúng tôi bỗng trở lại; và chẳng có gì hay ho hơn để làm cho đến khi trời sáng, chúng tôi đặt cây bánh giữa boong lái và bắt chéo chân trước nó, bao vây sát sạt, như vua Đại Thổ và Vizier Mustapha của ngài ngồi trước thành Viên.

          Lâu đài của chúng tôi, cái Cây Bánh, thuộc loại thường thôi; một thùng gỗ sồi hình thuôn, bị móp méo và sứt mẻ quá, và như các Elgin Marbles, đầy những câu khắc và chạm nổi: những chiếc mỏ neo bẩn, những trái tim bị đâm xuyên, những niên lịch, Burton-blocks, thơ tình, những mắt xích, những quân Già, những lược đồ bí ẩn bằng phấn đủ loại, được các thủy thủ Phần Lan vẽ ra, trong khi đang đúc khuôn những tử vi và lời tiên tri. Các thủy thủ xưa của bạn là các tiên tri Daniel hết thảy[20]. Cây bánh có một lỗ tròn ở một bên dùng để lấy bánh qua đó, mời mọc các thực khách cho tay vào.

          Và vào đêm ấy, những cái đưa tay lấy bánh mới mạnh mẽ làm sao; đồng thời là những cái liếc nhìn báo hiệu của ngài Mustapha theo mỗi một tiếng cót két bất chợt của những xà buồm hoặc dây chằng. Hệt như Belshazzar, ông Viking vương giả của tôi ăn với nỗi lo sợ và run rẩy lớn lao; chốc chốc lại ngừng để canh những bóng hoang lướt dọc mạn tàu.

 

[20] Thị kiến bản đồ các vương quốc trong Sách tiên tri Daniel.

Thêm vào giỏ hàng thành công