CHƯƠNG XIX: AI ĐÓ?
Mái chèo của Jarl đã đánh mười sáu khấc trên tay cầm, vào một buổi tối nọ, khi vầng mặt trời khuếch đại chạm vào vành đường chân trời, quan sát thấy những xà buồm cao nhất trên một con tàu, để vết như mạng nhện áp vào chiếc đĩa màu son tươi. Trông nó như một con tàu ở đằng xa đang bốc cháy.
Khi ngoài khơi thời tiết sáng sủa, một lá buồm, vốn vô hình giữa ban trưa ngập nắng, bỗng trở nên rõ rệt khi hoàng hôn. Đây là sự đảo ngược của buổi sáng. Trong tầm rạng đông xám, con tàu đằng xa, dù thực tế đang tiến gần, lại dần dần biến mất khỏi tầm mắt, khi mặt trời càng lúc càng lên cao. Điều này đúng không chỉ với tàu thuyền, mà còn với nhiều thứ xa xăm khác: càng rọi nhiều ánh sáng vào, bạn càng không thấy gì. Những lúc nhập nhoạng, lại có những mặc khải hiện ra rõ nhất.
Sự xuất hiện của người lạ khiến chúng tôi không khỏi sửng sốt. Nhưng Jarl thì bừng sáng lên như thể cuộc gặp là điều đã mong đợi từ lâu, nét mặt rạng rỡ và đầy hy vọng. Tuy vậy, ông nhanh chóng thay đổi thái độ khi nhận ra tôi đang quyết tâm tránh né cuộc chạm mặt ấy.
Ngay lập tức, chúng tôi hạ buồm; và Jarl - vẫn đang chần chừ, tôi đặt các mái vào cọc chèo; và, cả hai cùng chèo, chúng tôi đi chéo khỏi đường cũ.
Tôi đoán rằng con tàu ấy là tàu săn cá voi; rất có thể nhờ ống nhòm mà người canh gác trên boong đang dùng để quét ngang chân trời, họ đã trông thấy chúng tôi, nhất là khi chúng tôi đang ở hướng đông so với tàu, mà vào lúc hoàng hôn chính là hướng thuận lợi nhất cho việc nhận ra một đối tượng xa tít ngoài biển. Đã vậy, tấm buồm của chúng tôi còn trắng như tuyết và lồ lộ nữa. Nói cho đúng, chúng tôi không thể chắc đấy là loại thuyền nào; nhưng dẫu có là gì, riêng tôi không hề có ý định liều lĩnh đụng độ, bởi rõ ràng nếu người lạ tiến đến gần trong tầm gọi thì sẽ chẳng có phương sách nào khác ngoài phải móc nối tài sản của chúng tôi với nó, trong khi tôi chẳng mong được theo tàu nào ngoài chiếc thuyền Dê Biển. Còn về phần Ông Giời, ông cứ ngoái vai nhìn đăm chiêu, nhất định đang cầu Trời cho chúng tôi không thể thoát được thứ mà tôi gắng tránh.
Tuy nhiên, quan sát kỹ hơn, tôi khá chắc chắn rằng con tàu kia rốt cuộc đang đi theo hướng gần như chính tây - xa khỏi chúng tôi, chúng tôi lắp lại buồm; và khi màn đêm buông xuống, ông Viking của tôi khẩn nài, thêm trí tò mò của riêng tôi ủng hộ, xui tôi phải quay lại đường đi ban đầu để theo sau con tàu, để được nhìn con tàu rõ hơn, mà không có nguy cơ bị phát hiện. Thế là chúng tôi đánh liều giong buồm đi tới.
Nhưng con tàu đi không được nhanh lắm, mặc cho làn gió nhẹ (một hoàn cảnh thuận lợi cho chúng tôi: đuổi theo một con tàu, và chúng tôi chỉ là một chiếc thuyền), theo lời gợi ý của đồng bạn tôi, chúng tôi thêm sức chèo vào cùng sức buồm, sẵn sàng đưa chúng tôi theo đường cũ, mặc kệ cần lái.
Khi đến gần hơn, chúng tôi thấy rõ rằng con tàu không phải tàu săn cá voi mà là một con tàu nhỏ, hai cột buồm - nói gọn là tàu brigantine. Các lá buồm của nó ở trong tình trạng lộn xộn khó hiểu; chỉ có mỗi buồm mũi, buồm chính, buồm tam giác là được giương lên. Buồm mũi thì tả tơi quá; và buồm tam giác thì mới kéo được một nửa dây buồm, lười nhác phất phới, ngọn gió từ lan can đuôi tàu thổi tới. Nó liên tục đi chệch khỏi đường; lúc thì hầu như lộ ra mạn tàu của nó, lúc thì hiện ra đuôi tàu.
Trải buồm lần nữa, chúng tôi ngồi ở mái chèo và nhìn con tàu dưới ánh sao. Nó vẫn lắc lư qua lại, rồi tiếp tục lặng lẽ trôi đi.
Không chỉ khiếp sợ với cảnh tượng ấy, lão Jarl mê tín còn bóng gió xa gần rằng ấy hẳn là một con tàu săn vàng, bị ma ám. Nhưng tôi bảo ông rằng nếu quả đúng như vậy, thì dù là vàng hay ma quỷ, chúng tôi cũng phải lên boong. Tuy nhiên, trong lòng tôi bắt đầu nghiêng về giả thuyết rằng con tàu đã bị thủy thủ đoàn bỏ lại; hoặc giả, do bệnh tật, những người còn trên tàu không còn đủ sức điều khiển nữa.
Sau một cuộc thăm dò rất lâu và đầy lo sợ, chúng tôi vẫn lại gần, bằng mái chèo, nhưng phần Jarl thì rất miễn cưỡng, vừa chèo vừa ngoái lại sau vai, như thể sắp sửa đậu chiếc Dê Biển nhỏ bé lên lưng cá voi như ngày xưa. Quả thực ông có vẻ sốt sắng muốn rời xa con tàu kia không kém gì trước đó đã mong mỏi được lại gần nó.
Lúc chiếc brigantine im lặng ấy một lần nữa xoay ngang, tôi hô lớn gọi. Không ai đáp. Một tiếng nữa. Nhưng hết thảy đều im. Với vài cú đập mạnh, chúng tôi tới gần, lại hô lên một tiếng, trong khi để chiếc Dê Biển dọc bên mạn, tôi cột chặt vào bao lơn chính của tàu. Tức thì chúng tôi cảm thấy con tàu đang kéo mình đi. Buộc chặt con thuyền của chúng tôi bằng dây kéo, tôi nhảy phóc qua lan can tàu, theo sau là Jarl, người đã chộp lấy cây lao móc, khí giới ưa thích của ông. Từ lâu đã dùng thứ vũ khí ấy để đánh bại những con quái vật biển sâu, ông chẳng hồ nghi nó sẽ cho tỏ ra đắc dụng trong bất kỳ cuộc chạm trán nào.
Boong tàu chỉ toàn rác. Lăn long lóc nào những vỏ trai ngọc, sọ dừa, các thùng tô-nô và hòm rỗng. Cần lái không ai đoái tới thì bị buộc lại; giải thích cho chuyện con tàu đi chệch hướng. Nhưng chúng tôi không hiểu nổi làm sao, khi gió thổi xuôi như vậy, con tàu lại có thể tự điều hướng trong một thời gian dài mà không cần người điều khiển. Dù vậy, gió vẫn nhẹ và ổn định.
Giờ đây, thấy tay lái bị buộc như vậy, tôi không thể không nghi ngờ sự im lặng đang thắng thế. Tôi dấy lên cái ý nghĩ về những kẻ vô lại nấp bên dưới, đang toan tính chuyện gian trá; những kẻ phiến loạn không nể nang ai, những người Lascars, hoặc Manilla; những người sau khi giết hại các thủy thủ Châu Âu trong đoàn, hẳn sẽ không vừa lòng để người lạ ra đi yên ổn. Hay còn tệ hơn, toàn bộ đoàn thủy thủ đã chết sạch do một trận sốt, mà nguồn lây nhiễm của nó vẫn còn tẩm trong thân con tàu độc. Và dù suy tưởng đầu tiên cũng như cuối cùng chỉ là một sự phỏng đoán, chúng tôi vẫn thấy khôn ngoan hơn cả là nên niêm phong các nắp hầm; và thế là, tạm thời, chúng tôi dùng mái chèo của thuyền mình để chặn chúng lại. Xong việc này, chúng tôi đi khắp boong tàu tìm nước. Và khi thấy một chiếc thùng tô-nô kềnh càng thì uống một hơi dài, thả cửa, cho thỏa cơn khát lòng.
Gió lúc bấy giờ mát lạnh, và cánh buồm rách có nguy cơ bị gió giật khỏi cột, nên chúng tôi đưa con brigantine xoay đầu đón gió, cuộn buồm lại. Điều này để cho chúng tôi được tự do xem xét con tàu, dẫu, chẳng may, màn đêm bắt đầu mờ sương.
Tất cả sự việc này xảy ra khi thuyền chúng tôi vẫn còn đang được kéo dọc mạn tàu; và tôi sắp sửa bỏ nó ở đằng đuôi, thì Jarl, luôn thận trọng, tuyên bố để nguyên đấy thì an toàn hơn, vì nếu có người ở trên tàu thì họ hẳn là ở bên dưới cabin, và từ các cửa sổ trập của buồng lái, họ có thể gây tổn hại cho Dê Biển.
Chính lúc ấy, Jarl nhận ra con brigantine không có thuyền cứu hộ, một chi tiết bất thường của bất kỳ con tàu nào lênh đênh trên biển. Nhưng khi nhận thấy điều này, tôi hài lòng quá chừng. Chuyện có lẽ như tôi đã nghĩ, vì cớ này cớ nọ, con tàu chắc hẳn đã bị thủy thủ đoàn bỏ mặc. Và ở một mức độ lớn, điều này xua tan nỗi sợ bị chơi sau lưng và nỗi lo nhiễm bệnh. Được cổ vũ nhờ các suy ngẫm này, tôi quyết định đi xuống và khám phá cabin, dù nghịch lại với lời khuyên khẩn thiết của Jarl. Chắc chắn, như ông tha thiết nói, cái bậc thang ấy có thể để trời sáng rồi tính, nhưng chờ thì nhọc nhằn quá. Thế là tôi nhớ đến mồi lửa và mấy cây đèn cầy, tôi bảo ông ra thuyền lấy. Chẳng mấy chốc, hai cây đèn cầy đã được thắp lên; một cây thì Ông Giời buộc chặt ngay đầu nhọn cây lao móc để khi đi xuống thì mũi thép nhọn không ở xa quá, nếu có thằng hèn nào thổi tắt ánh đèn cầy.
Mở cửa thông cabin, chúng tôi bước xuống vào thứ sào huyệt chật chội và tối tăm nhất thế giới này. Dầm tàu giống như bàn thờ, phía trên là các cửa sổ trập ở đuôi tàu, cùng cửa sổ trần nho nhỏ mờ mờ trên đầu, và vẻ u tịch của mọi thứ chung quanh, làm cho không gian mang cái vẻ của một nhà nguyện dưới lòng đất nào đó, như Phòng Cầu Nguyện của Thánh Phê-rô Ẩn Sĩ chẳng hạn. Nhưng các cuộn dây neo, những súc vải buồm, những món áo quần và những rác rưởi bừa bãi chẳng ăn nhập gì với ấn tượng ấy. Hai cánh cửa, một cánh mỗi bên, dẫn vào các buồng nhỏ xíu, trong có các giường cũng đầy rác. Giữa đấy là một chiếc thùng lớn, được bọc sắt và kẹp chặt, gồm một két chứa thuốc súng, nửa thanh đoản kiếm cũ, một túi đạn và một va-li đựng kính lục phân - một thiếp đồng thau trên nắp với tên hãng chế tạo - London. Lưỡi thanh đoản kiếm gãy thì cùn và hen gỉ lắm và cán sắt thì cong oằn. Trông nó bi thảm đến độ tôi đẩy nó đi khuất mắt.
Tháo một cánh cửa sập, mở ra không gian bên dưới, được gọi là “đáy”, chúng tôi rọi thấy nhiều đoản kiếm và súng hỏa mai khác nhau, nằm một chỗ lần lượt sáu và bảy cây, như thể bị cất vội vào.
Đưa mắt liếc nhanh và hài lòng rằng qua vách cabin không có lối thông đến phần hầm tàu đằng mũi, chúng tôi gom lấy mấy cái khẩu súng hỏa mai và đoản kiếm, két thuốc súng và túi đạn, rồi gói chúng đưa lên boong, chuẩn bị kiểm tra đầu bên kia của tàu. Trước khi làm vậy, tôi đã nạp đạn một khẩu súng hỏa mai và nịt cây đoản kiếm vào bên hông. Nhưng ông Viking của tôi vẫn chuộng cây lao móc của ông hơn.
Ở trên boong mũi, sự hỗn độn tương tự ngự trị. Chỉ có một hang nhỏ kín đáo, nằm gọn vào một góc và được trang hoàng bằng một tấm thảm bằng cỏ và gối dựa, như những cái mà Dân Đảo các vùng biển này thường dùng. Cái hang nhỏ ấy đối với chúng tôi trông như thể một con báo nào đấy đã thu mình nằm bên trong. Và hóa ra chúng tôi không hề lầm. Xếp một bên trong hang này là một cái rương thủy thủ, được đóng chặt bằng một ổ khóa và lại còn nặng gớm. Bất chấp những lời khẩn nài của Jarl, tôi cũng xoay xở làm bật được nắp rương, từ đó lộ ra một tập hợp hổ lốn những mũ dành cho nữ và các đồ lặt vặt lạ lẫm đủ loại, cùng với tạp nhạp những chế phẩm thô từ vải calico, kiểu cắt kỳ quặc song vẫn mang một vẻ nữ tính nhất định, lại cả những mép váy báo hiệu chúng là y phục của một thụ tạo giống cái nào đó, nhiều khả năng nhất là thuộc loài người.
Cũng vẫn trong chiếc hộp cứng này là một túi vải bố, kêu leng keng những cúc áo hình chuông lâu ngày hen gỉ, những nút gài bằng đồng đã mục và đinh bọc, những đồng đô Carolus ẩm màu lục nhạt (đồng thật cả), ngoài ra còn những đinh vít sắt khác nhau, những cái đục dập méo và những đinh cọc tàu. Gõ lên nắp rương, các đồng đô kêu rõ như chuông tu viện. Jarl cẩn thận để riêng chúng sang một bên - chỉ cần thấy tiền thật là những nỗi nghi ngại mê tín của ông tạm tan biến. Trung thành với huyết mạch vương giả, ông yêu những đồng tiền thật dẫu rằng ngoài biển khơi, không có lấy một mảnh đất nào để tiêu tiền, thì số bạc ấy cũng chẳng khác gì than củi hay kim cương - tức là vô dụng. Các nhà hóa học nói rằng bạc và than gần như là một thứ; nhưng hãy thử nói điều đó với thủy thủ hay dân buôn đá quý mà xem. Đi đi, đi mà mua lấy một căn nhà, hoặc một con tàu, nếu có thể, bằng cục than của mày xem! Phải, hết thảy mọi khu rừng bên Canada hóa từ than xuống tro cũng chẳng đáng một viên kim cương Brazil trứ danh, dẫu chẳng lớn hơn một quả trứng chim bồ câu đưa thư. A! nhưng các nhà hóa học này nói dối, và Sir Humphrey Davy là một tay gian lận. Lắm kẻ tội nghiệp bị họ huyễn hoặc sa vào chuyện làm ăn than củi, những người hẳn đã có thể gầy dựng cả một gia tài với cái cuốc chim.
Dò dẫm bên trong rương lần nữa, chúng tôi moi ra được một thùng da nhỏ kỳ quặc, trơ trụi và lặc lìa. Ở mỗi góc là một cái kẹp sắt lớn, mà cân nặng của nó chắc chắn làm yếu đi cái hộp. Nó được bo bo đóng chặt bằng một móc khóa, to suýt soát cỡ cái hộp; vậy nên cái móc khóa gần như là một vấn đề, được dùng để bảo vệ cho cái hộp kia. Dốc sức nạy, cuối cùng chúng tôi cũng mở ra được; nhưng chẳng thấy đồng vàng moidores nào, đồng doubloon đỏ hây cũng không; chẳng có gì bên dưới gầm trời này ngoài ba cái cốc thiếc, những thứ ấy được dùng trong cabin tàu, vài đinh vít và đĩa bằng đồng, hẳn là của thước đo góc; cùng những hạt thủy tinh cả mớ và những nhẫn đồng thau trong khi, được dán ở lớp trong, một bản in màu nhỏ hình các gái điếm, những ả gái không biết thẹn mặt, đang đàn đúm với Đứa Con Hoang Đàng.
Lẽ ra cũng phải nói thêm rằng khi đang bận rộn ở boong mũi, đôi lần chúng tôi giật mình vì những tiếng động lạ bên trên. Và ngay sau đó, va mạnh vào thùng da nhỏ, một chiếc ròng rọc từ đỉnh cột buồm rớt xuống, xuyên ngay qua cửa sập, suýt nữa trúng đầu ông Viking của tôi, một vật rắn chắc hơn rất nhiều so với bất kỳ thứ mũ vàng nào mà thợ kim hoàn thời nay chế tác. Điều này khiến chúng tôi giật mình lắm; nhất là với Jarl, không ngoài dự đoán; nhưng vì tôi đã quen với những tiếng cót két và rò rè lạ lùng của những cột buồm và xà buồm trên các con tàu cũ và nhiều lần đã tránh được những ròng rọc rải rác chẳng may rơi xuống từ trên cao, tôi ít nghĩ về vấn đề này, dù ông bạn tôi dường như cho rằng những tiếng động ấy có phần khác với những tiếng mà ông từng nghe trước đây.
Sau khi lật giở thêm ít đống đồ lộn xộn trong khoang mũi và còn ngạc nhiên thêm vài phần nữa, chúng tôi đi lên boong chính; ở đó yên tĩnh đến mức, khi chúng tôi bước về phía đuôi tàu, Ông Giời bất giác chuyển sang thì thầm với tôi.
