favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG XIV: MỐI LO CỦA JARL

          Độ ấy xảy ra một sự kiện. Ông Viking của tôi đã mở miệng, và nói. Điều kỳ diệu đã xảy ra khi, tay cầm dao xếp, ông rướn người qua mái chèo, nơi phần cán ông dùng làm lịch, cứ mỗi lần mặt trời lặn lại khắc một vết. Khoảng bốn mươi tám giờ qua, gió nhẹ và hay thay đổi. Ông ngờ rằng một dòng hải lưu đang cuốn chúng tôi về phía bắc.

          Lúc này, đang khi đánh dấu, Jarl tuôn ra suy nghĩ rằng gió càng mạnh, hải lưu càng yếu thì càng tốt; và nếu một đợt biển lặng xảy đến - là điều chắc chắn, thì chúng tôi nên bắt đầu chèo là hơn.

          Bắt đầu chèo đấy! Như thể chúng tôi đang băng qua phà và chẳng có hàng lý đại dương mà vượt. Cái ý nghĩ ấy gián tiếp gợi lên hết thảy những cảnh hãi hùng có thể xảy ra. Để xua tan chúng đi ngay tức khắc, tôi khởi sự chia phần ăn sáng. Vì để xua những thứ như thế, chẳng có gì tốt hơn là kiếm món gì đấy lấp vào, dù thường thì kế này rất dễ gây ra chứng đầy bụng và chứng đầy bụng gây nỗi sầu hải.

          Nhưng nguồn trữ ăn uống của chúng tôi có gì? Tới nay thì đã đủ ăn, chúng tôi chẳng thấy lo chút nào; các nguồn dự trữ của chúng tôi đang cho thấy dư dật hơn đã lường. Chỉ là, nói cũng lạ, chúng tôi không cảm thấy muốn ăn gì cả. Chỉ nước, nước trong mát, nước lấp lánh, mỗi thứ ấy là chúng tôi thèm. Và cả điều này, kho trữ của chúng tôi ban đầu cũng có vẻ rộng. Nhưng khi cuộc hải trình kéo dài và những cơn gió thổi yếu ớt cùng những đợt biển lặng chóng buông xuống, cái ý nghĩ bị tước đi thứ chất lỏng quý báu ấy đã hóa thành thứ chẳng khác chi độc tưởng; nhất là với Jarl.

          Cứ độ một hoặc hai giờ cùng chiếc búa và đục thuộc về cái két mồi lửa, ông mò mẫm cái thùng tô-nô vô giá, gõ gõ những đai két đến độ tôi tưởng, trong mối lo ngại quá mức của ông, ông sẽ trổ toạc cả thùng.

          Giờ đây chiếc thùng tô-nô được đặt nằm ngang, ở giữa thuyền, chỗ nước biển luôn ít nhiều dồn lại. Và chốc chốc, nhúng ngón tay vào đó, ông Viking của tôi chẳng yên với suy nghĩ rằng thứ nước biển này vị ít mặn hơn so với sát bên mạn thuyền. Tất nhiên chiếc thùng hẳn đang rỉ nước. Thế nên ông lật úp nó, mặt ướt ở phía trên; chiếc thùng nhanh chóng khô như xương. Nhưng giờ, bằng con dao của mình, ông chầm chậm dò các khớp nối của ván thành thùng, lắc đầu, nhìn lên, nhìn xuống, nếm vị nước ở đáy thuyền rồi vị nước biển, lại nhấc một đầu của chiếc thùng tô-nô, xem kỹ bằng mọi kiểm định rò rỉ mà ông nghĩ ra được. Vậy mà ông cũng không an tâm hoàn toàn rằng chiếc thùng tô-nô được an toàn về mọi phương diện. Nhưng thực tế nó chắc chắn như mặt trống vỗ bên Cerro-Gordo. Ôi! Jarl ơi, Jarl: đối với cái thằng tôi ở đuôi thuyền yên tĩnh, vừa lái thuyền vừa triết lý, ông và chiếc thùng của ông quả là chẳng giống ai.

          Ngoài chiếc thùng tô-nô, chúng tôi còn có hai két đầy nước, mà trước đã có nhắc đến. Hai két này đem ra dùng trước. Chúng tôi uống nước từ thùng qua các vòi bằng chì, mỗi ngày được ba ngụm tối đa, chẳng có phương tiện nào khác để đong khẩu phần. Nhưng tới khi chúng tôi rờ đến chiếc thùng tô-nô, vốn chỉ có một cái lỗ bịt nút, dẫu là một lỗ lớn thì cứ như chó, mỗi người phải liếm láp nhiều lần - trong khi người kia quan sát tị nạnh tính đếm. Kế này, tuy vậy, chỉ cao kiến được mỗi một hôm; nước quá sâu vượt ra khỏi tầm lưỡi. Thành ra mỗi ngày chúng tôi đổ nước từ thùng ra két; và uống từ vòi của nó. Nhưng để tránh sự hao hụt không tránh khỏi khi chiết nước, cuối cùng chúng tôi nghĩ ra một cách hay hơn - là chiếc giày của ông bạn tôi. Chiếc giày, sau khi bị cắt bỏ phần cổ, thu hẹp ở gót, rồi được súc kỹ bằng nước biển, đã được biến thành một cái muôi tiện dụng, tuy mềm oặt. Cái muôi này chúng tôi giữ lưng chừng ở lỗ bịt nút của thùng, để nó không phải hút nước hai lần liền.

          Ta biết hợp kim thiếc tạo cho bia một vị riêng; một bát tẩu Meerschaum cũng vậy đối với thuốc lá Smyrna; những cốc tròn xanh lục tưởng như không thể thiếu để tu ừng ực vang Hock. Vậy chúng ta nói gì về chiếc cốc da để uống nước? Thử đi, những thủy thủ nghiêng ngả các bạn.

          Một buổi sáng nọ, đang khi quen miệng làm một hớp, Jarl bắt được trong muôi một con côn trùng đã chết, thứ gì đó giống loài nhền nhện chân dài, mỗi tội hơn cả béo đẫy. Số phận nó ư? Một thứ từ biển thẩy lên? Đừng có tin, với hết thảy cả những giọt nước quý bám vào mấy chiếc chân dài của nó. Nó đã nấn ná ở muôi đến khi giọt cuối cùng nhỏ xuống; và ngay cả như vậy, Jarl thực thà cũng miễn cưỡng thả nó - mình ướt lấp nhấp - xuống biển.

           Còn về kho lương thực, chúng tôi không thể chịu nổi món bò muối; nó sống nhăn như miếng bít-tết vùng Abyssinian còn động đậy và mặn mòi như thành Cracow. Phép so sánh kiểu người Feejee chẳng ăn thua gì. Nó còn xa mới “mềm như xác chết.” Chúng tôi chỉ ăn được mỗi bánh quy, vốn chẳng có gì lấy làm tuyệt vời, vì ngay cả khi ở trên boong, các thủy thủ vùng nhiệt đới cũng là những thực khách ăn dè.

          Và đây, xin đừng bỏ qua lời gợi ý, có giá trị nhất với bất kỳ việc bỏ đi trốn hoặc dong đi trốn nào trong tương lai. Bạn đừng ăn bánh quy không, hãy đem nhúng xuống biển: làm vậy để bánh phồng xốp và bùi miệng. Khi ăn, Jarl và tôi ngấm và nhấp bánh: mỗi người ở mỗi bên Dê Biển nhúng phần bánh của mình xuống làn nước mặn. Kế này đỡ cho chúng tôi phải rửa tay khi bữa ăn chấm dứt. Nói chung, cư ngụ ở chốn biển khơi hầu như chẳng hề tệ chút nào. Người Tàu họ đâu có ngu. Trong hoạt động sửa soạn hố xí cho mình, thật là thuận lợi biết bao khi được lênh đênh trên chỗ tiện hồ!

Thêm vào giỏ hàng thành công