CHƯƠNG X: HỌ THU XẾP CÁC TÁN DÙ VÀ CHỖ NGHỈ NGƠI VÀ CỐ GẮNG LÀM CHO MỌI THỨ DỄ CHỊU
Con thuyền nhỏ của chúng tôi sớm được đâu ra đấy. Từ dây neo buồm mang dư, chúng tôi làm thành giàn dây níu lên cột buồm và biến mấu thuyền thành thanh lèo tiện cho buồm tam giác. Căng rộng trước gió, chúng tôi giương lá buồm này ra hai bên tả hữu cùng lá buồm chính. Lá sau thì theo thể thức đi buồm của các thuyền săn cá voi thông thường, phối hợp với xà chéo và dây lèo. Nó có thể cuộn lại hoặc xếp gọn nhanh chóng. Các túi bánh mì thì chúng tôi đem giấu ở chỗ được che chắn kỹ gần banh nung hắc ín, mà giờ là một thứ phụ tùng vô ích nên đã được cất đi. Ban đêm thì Jarl lấy nó làm gối, bảo rằng khi thuyền nhấp nhô, nó mang lại một thú tiêu khiển êm dịu cho cái đầu. Chiếc thùng tô-nô quý giá thì chúng tôi buộc chặt giữa thuyền; theo cách ấy mà thuyền đi tốt hơn.
Bấy giờ, trước khi rời tàu, chúng tôi đã kiểm tra kỹ lưỡng, rằng thuyền chúng tôi được trang bị hết thảy những đồ dùng mà, theo điều lệ ngư nghiệp, một con thuyền săn cá voi luôn được chuẩn bị đầy đủ: dù đêm hay ngày, nổi hay treo. Treo dọc theo mép mạn phía trong là sáu cây lao, ba cây xiên và một con dao xén; tất cả đều bén như lưỡi lam và được bọc da. Ngoài các dụng cụ này, chúng tôi còn có dăm ba món lặt vặt, đôi két nước hai ga-lông, vài chiếc gàu, rìu nhỏ để cắt dây câu cá voi, hai dao phụ cho mục đích tương tự, và vài vật thứ yếu nhỏ, cũng được dùng để săn con thủy quái. Dây câu và ống dây câu, song le, thì ở trên mạn tàu.
Và ở đây có lẽ nên nhắc rằng, để khỏi bị căng khi thuyền treo bên mạn tàu, sợi dây câu cỡ lớn, dài trên hai trăm sải, và đường kính đâu đó hơn một inch, khi không dùng thì được giữ trên mạn tàu, cuộn lại như một con rắn vô tận nằm trong ống. Nhưng cái ống dây này thì luôn sẵn sàng được tải xuống thuyền. Giờ đây, chẳng có tác dụng gì cho dây câu của thuyền, chúng tôi cố tình để nó lại.
Nhưng chúng tôi đã điểm tra kỹ rằng món quan trọng nhất trong mớ đồ đạc trên thuyền săn cá voi đã được buộc chặt gọn vào đúng chỗ. Đó là cái két chống nước, hai đầu đậy chắc chắn, gồm một la bàn nhỏ, mồi lửa và đá đánh lửa, nến và rất nhiều cây bánh quy. Cái két này là để phòng ngừa khỏi điều rất hay xảy ra khi đuổi theo cá nhà táng - đi xa tàu quá lâu, để mất dấu tàu, hoặc chẳng bao giờ thấy lại tàu nữa, tới khi nhiều năm sau khi về lại tới nhà. Cũng chính cái két ấy tựa như đóng thùng luôn cả sự sống và cái chết, ít ra là với Jarl thực thà. Ngay khi chúng tôi thoát hẳn khỏi tàu Arcturion, thả mái chèo chốc lát, thì ông đã chộp nó ngay trong đêm.
Và khi ngày dần dần lên, chúng tôi đập vỡ nắp két bằng một chiếc búa và đục nhỏ luôn được gắn kèm theo cho mục đích đó và tháo chiếc la bàn lóng lánh như mắt người. Đoạn lấp chỗ còn trống bằng bánh quy, chúng tôi làm cho chặt, siết những đai két đến khi chúng không còn nhúc nhích nữa.
Ban đầu chúng tôi loay hoay sửa la bàn. Nhưng sau rốt Ông Giời rút dao và rạch một lỗ tròn ngay ván ngồi, hoặc là chỗ ngồi trên thuyền, tại đó lắp chiếc hộp đồng thau chứa kim nhỏ nhắn.
Qua đuôi thuyền, cùng với tấm buồm cũ mà ông Viking của tôi đã lường trước mang theo, chúng tôi trải xẵng một kiểu mái hắt, đúng hơn là tấm phủ giường. Việc này, ấy vậy, cho thấy chẳng có một tí nào bảo vệ khỏi mặt trời trừng trừng vì việc điều khiển lá buồm chính đã ngăn cản đáng kể bất kỳ che chắn nào dựng lên. Và khi mát gió, chúng tôi sẵn lòng dỡ xuống cả thảy; vì gió từ đuôi thuyền thổi tới và luồn phía dưới tấm bạt suýt nữa đã bật đuôi thuyền nhẹ lên không trung, khêu gan tấm phủ giường như thể chiếc váy lót phụ nữ đang rẽ góc đường giông gió. Nhưng khi một làn gió thoảng nhỏ nhẹ làm biển gợn lăn tăn và mặt trời thì hừng hực nóng, thú nhất là được nằm lười trong lều tị nạn rợp bóng này. Nó giống như là được đem từ nướng rang sang để nguội trong chạn. Và Jarl, thứ dã cầm gai góc nhất, lại chan chứa hảo tâm cho người đồng bạn của ông, ban ngày tình nguyện ở yên phơi nắng nơi đằng lái gần cả hai tiếng so với một tiếng của tôi. Ông chẳng e dè đài các gì, ông già Viking ấy, làm hư hại nước da của ông, vốn đã sẵn mang sắc thanh đồng. So với độ rám da thông thường ở thủy thủ, ông dường như được một chiếc mũi lưỡi trai sơn mài che chắn, chi chít những tàn nhang, vàng quá đỗi, và tròn cân đối, đến nỗi chúng có vẻ như được một thấu kính rọi nắng xém cháy.
Những khi tâm trạng bi-hỉ-ối-a lúc này lúc kia choán lấy mình, tôi thường nhìn lên Ông Giời nâu với vẻ tự mãn khôi hài. Nếu chạm trán bọn mọi ăn thịt người, tôi nghĩ, thì - hỡi người Bắc Âu đã được quay chín sẵn kia - liệu tôi có sống sót để khóc thương ông chăng, trong lúc chính tôi đang xoay tròn trên cái xiên nướng.
Nhưng về chuyện số phận, không cần phải nói lại rằng chúng ta đâu ai biết gì về tương lai.
