Ingeborg Bachmann viết radio-essay: phần 1
Sagbares und Unsagbares - Die Philosophie Ludwig Wittgensteins (Bản dịch tiếng Anh: The Sayable and Unsayable - The Philosophy of Ludwig Wittgenstein) là một radio-essay Ingeborg Bachmann viết năm 1953 và được phát năm 1954. Đây cũng chính là quãng Bachmann chuyển từ công việc nghiên cứu triết học chuyên nghiệp sang sáng tác văn chương.
Kinh nghiệm ở đài phát thanh có ý nghĩa quan trọng đối với những tìm tòi hình thức của Bachmann, bởi nó đặt bà trước ngôn ngữ như một hiện tượng của giọng, nhịp và tình thế phát ngôn. Radio-essay dưới đây không chỉ dừng ở việc trình bày triết học Wittgenstein mà còn chạm tới một vấn đề sẽ trở đi trở lại trong sáng tác của Bachmann: quan hệ giữa cái có thể nói và cái không thể nói. Trong cách Bachmann đọc Wittgenstein, cái không thể nói không đồng nhất với một sự rỗng tuyệt đối. Bachmann phân biệt sự im lặng âm tính của bất khả tri với một sự im lặng dương tính mang tính thần bí; đồng thời, theo phân biệt giữa “nói” và “cho thấy” của Wittgenstein, cái không thể phát biểu thành mệnh đề vẫn có thể “tự cho thấy”. Đây có thể xem là một tiền đề lý giải cách Bachmann nhìn văn chương, ngôn ngữ của nó là thứ phải đi qua một khối lượng khổng lồ cái không thể nói để cuối cùng tìm thấy một ngôn ngữ chân thật, tức là ngôn ngữ có thể chịu được áp lực của phần thực tại mà nó bất khả bao chứa.
(Ludwig Wittgenstein còn được nhắc đến trong Cháu trai Wittgenstein của Thomas Bernhard - người khó mà bỏ qua mỗi khi nghĩ đến Ingeborg Bachmann, cùng Korrektur, cuốn tiểu thuyết liên quan đến chính Wittgenstein và việc xây dựng Haus Wittgenstein.)
Cái có thể nói và cái không thể nói - Triết học của Ludwig Wittgenstein
- Ingeborg Bachmann
Các giọng: Người nói thứ nhất, Người nói thứ hai, Người đọc trích dẫn (Wittgenstein), Người phản bác
WITTGENSTEIN: “Thế giới là tất tật những gì có thực.”
“Thế giới là toàn thể các sự vị…”
“Thế giới được quy định bởi các sự vị, và bởi việc chúng là toàn bộ các sự vị.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Tractatus Logico-Philosophicus của Ludwig Wittgenstein mở đầu như vậy - một tác phẩm triết học không quá dài, xuất bản tại Vienna năm 1921. Ai đọc kỹ cuốn sách này thoạt tiên sẽ chú ý đến lối viết ngắn gọn, lạnh và giữ khoảng cách của nó. Người ấy cũng sẽ nhận ra đây không phải một khảo luận triết học được xây dựng có hệ thống, mà là một chuỗi rời những cách ngôn được đánh số liên tiếp. Tác phẩm không phải lúc nào cũng đẩy một chuỗi ý nghĩ đến tận cùng, không phải lúc nào cũng cung cấp một mắt xích nối ý này sang ý tiếp theo. Chính vì vậy, mặc dù các phát biểu rất rõ ràng và chính xác, Tractatus vẫn thường được mô tả là một cuốn sách tối nghĩa, một cuốn sách bí truyền mà chỉ những người được khai tâm - nói cách khác, giới chuyên gia khoa học - mới tiếp cận được. Nhưng chúng tôi lại cho rằng đây là một cuốn sách hết sức thiết yếu đối với bất kỳ ai quan tâm đến triết học và khoa học hiện đại, và rằng nó có thể dạy chúng ta nhìn thế giới cho đúng.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Ngay từ những câu đầu của Tractatus, Wittgenstein đã xác lập điểm xuất phát của mình. Ông nói về thế giới như toàn thể các sự vị. Xét về triết học, đây là một phát biểu hết sức đơn giản và không hề được đặt thành vấn đề, một phát biểu ông mượn từ bạn mình, triết gia Anh Bertrand Russell. Russell lấy làm điểm xuất phát luận đề rằng thế giới gồm các sự vị hoàn toàn độc lập. Và vượt khỏi toàn thể các sự vị ấy, thế giới là - không gì cả. Theo đó, tri thức của chúng ta về thế giới - một tri thức phản chiếu các sự vị hoàn toàn độc lập ấy - bao giờ cũng chỉ có thể nắm bắt từng mảnh của thế giới.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Nhưng chúng ta thường diễn đạt tri thức của mình về thế giới bằng những mệnh đề phổ quát. Chẳng hạn, ta có thể nói: “Mọi người đều phải chết.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Khi xét kỹ mệnh đề “phổ quát” này, ta nhận ra nó có cùng nghĩa với những phát biểu như “Peter phải chết” và “Hans phải chết”. Chữ “và” nối hai phát biểu cá biệt ấy với nhau có chức năng bảo đảm sự đúng của mệnh đề phổ quát “Mọi người đều phải chết”. Chân lý phổ quát mà ta tưởng mình đã đạt được chỉ được quy định bởi sự đúng của hai phát biểu cá biệt “Peter phải chết” và “Hans phải chết”. Thế nhưng từ đó không nảy sinh một chân lý phổ quát mới. Ví dụ logic nhỏ và vô hại này cho thấy rằng logic - nếu hiểu hoàn toàn trên bình diện ngôn từ và theo một nghĩa hết sức thông thường - tuyệt đối không nói lên điều gì. Nói theo Wittgenstein, nó thuần là trùng ngôn. Mọi phát biểu của logic đều rỗng; chúng không thể cho ta biết bất cứ điều gì về thực tại.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Làm việc với thực tại, với toàn thể các sự vị, là công việc của các môn khoa học tự nhiên. Chúng mô tả các sự vị và đem lại cho ta các nhận thức. Triết học, tuy nhiên, không phải một môn khoa học tự nhiên, và cũng như logic - công cụ của nó - nó không thể dạy ta bất cứ điều gì về thực tại, bởi mọi mệnh đề quy chiếu đến thực tại đều là những mệnh đề thuộc các môn khoa học tự nhiên, còn những mệnh đề tổng quát mà ta gặp trong triết học truyền thống, những mệnh đề như “Mọi người đều phải chết” đã dẫn ở trên, chỉ có nghĩa bởi chúng dựa trên các mệnh đề thực nghiệm và không đem lại cho ta một nhận thức mới nào của riêng triết học.
NGƯỜI PHẢN BÁC: Nếu triết học không thể đem lại cho ta một nhận thức nào, nếu chỉ các môn khoa học tự nhiên mới có thể làm điều ấy, vậy thì triết học còn có thể làm được công việc có chút giá trị nào không?
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Dưới hình thức “phân tích logic”, triết học có thể tiến hành một thứ kiểm xét các mệnh đề thực nghiệm của khoa học tự nhiên; nó có thể phơi ra các nguồn của sai lầm và loại bỏ chính các sai lầm ấy. Nhưng việc khảo sát thực tại này, nó phải hoàn toàn nhường cho các môn khoa học tự nhiên. Việc nhường công cuộc nghiên cứu thực tại cho những ngành chuyên biệt khác nhau của khoa học tự nhiên - sự nhường ấy thực ra đã diễn ra từ lâu - giờ lần đầu tiên mới được xác nhận trong triết học Đức.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Cách làm triết học của Wittgenstein, “phân tích logic”, thật ra chẳng mới đến thế. Quả vậy, trong cách làm ấy ta tìm thấy lại phương pháp phân tích của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, một phương pháp gần như lâu đời ngang với triết học. Việc phương pháp ấy bị triết học Đức lãng quên là số phận của triết học Đức trong thế kỷ XIX.
Các hệ thống của Fichte, Schelling và Hegel đã hoàn toàn gạt nó sang bên, cho đến khi, vào thế kỷ XX, nó trở lại dưới hình thức mới và, với cái tên thực chứng luận mới, tiến vào hàng tiên phong của lịch sử triết học - ít nhất một phần nhờ xung lực từ Wittgenstein. Nhưng nguyên nhân thực sự của cuộc trở lại ấy là cuộc cách mạng trong toán học và logic, khi mà, vào cuối thế kỷ trước, người ta lại nhận ra hiệu quả của việc áp dụng phương pháp phân tích vào hai lĩnh vực này. Người ta phát hiện rằng toán học và logic đầy những thứ gọi là nghịch lý, những nghịch lý làm lung lay nguyên tắc nền tảng của cả hai bộ môn. Dĩ nhiên, ngay từ thời cổ đại người ta đã biết đến một vài nghịch lý logic. Hầu hết chúng ta đều quen với câu chuyện về người nói dối: Epimenides người Crete nói, “Mọi người Crete đều là người nói dối.”
Nhưng giờ đây người ta cũng phát hiện cả các nghịch lý trong toán học, và các nghịch lý này báo động hơn nhiều bởi chúng đe dọa làm tê liệt các lĩnh vực của toán học. Và vì logic cùng toán học đều bị các nghịch lý ấy đe dọa, điều đó có nghĩa là toàn bộ hệ thống biểu đạt của chúng ta - tức ngôn ngữ của chúng ta theo nghĩa rộng nhất - bị chúng tác động, chứ không chỉ mệnh đề này hay mệnh đề kia bên trong ngôn ngữ. Vậy phải làm gì đây? Làm thế nào giải quyết được những vấn đề ấy - những vấn đề nền tảng ấy?
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Các triết gia nhận ra tầm quan trọng phi thường của việc tập trung vào logic - Bertrand Russell ở Anh và những người theo thực chứng luận mới ở Vienna - đã đi tới một ý tuy khá hiển nhiên nhưng thực ra hoàn toàn mới: nguyên nhân của những nghịch lý ấy nằm ở chỗ, suốt nhiều thế kỷ trong triết học - và do đó cả trong ngôn ngữ của chúng ta - ta đã dùng những mệnh đề trông như có nghĩa nhưng thực ra hoàn toàn không có nghĩa; rằng ta đã bị ngôn ngữ huyễn hoặc mà không hay biết, bởi ta mù quáng tin vào nó. Đành rằng Plato và, sau ông, những triết gia khác đã từng thử kiểm tra tính đúng sai của các mệnh đề bằng một phương pháp phân tích nghiêm ngặt. Descartes, như ta biết, thậm chí còn quyết định coi là sai mọi mệnh đề mà sự đúng không tuyệt đối hiển nhiên. Nhưng chưa từng có ai hỏi rằng liệu có những câu hỏi đã vô nghĩa ngay từ cách đặt ra hay không.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Như vậy, với Wittgenstein và những người theo thực chứng luận mới gần với ông, nghĩa của các mệnh đề và của cách đặt câu hỏi được đưa lên hàng đầu trong việc làm triết học và trở nên quan trọng hơn cả câu hỏi về chân lý. Cái vô nghĩa ẩn giấu - cái vô nghĩa ẩn trong ngôn ngữ - cần phải được truy xét đến cùng. Sự ngờ vực đối với ngôn ngữ bỗng lớn đến mức Moritz Schlick, một trong những nhân vật hàng đầu của Trường phái Vienna, từng tuyên bố rằng điều các triết gia sợ nhất lúc ấy không phải là họ không thể giải quyết những vấn đề mà triết học phải đối mặt, mà là triết học sẽ không bao giờ đặt ra nổi một vấn đề đích thực; bởi đến lúc ấy, phần lớn vấn đề của triết học đã có thể bị phơi ra là những vấn đề giả.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Bởi người ta đã nhận ra rằng khó khăn của triết học bắt nguồn từ ngôn ngữ, nên có thể hình dung được vì sao tác phẩm của Wittgenstein lại chứa một lý thuyết về ngôn ngữ. Lý thuyết ấy cho ta thấy ta có thể “tạo ảnh” về thế giới như thế nào bằng những mệnh đề đúng và có nghĩa; ta có thể “nói” về thế giới như thế nào, và triết học có thể làm được gì trong việc phê phán cách chúng ta nói về thế giới.
Ngoài ra, người ta kể rằng Wittgenstein gọi cuốn sách đầu tiên của mình là Tractatus bởi ông muốn mở một cuộc “xét xử”, theo nghĩa pháp lý, đối với triết học và cách đặt vấn đề triết học của chúng ta. Trong lời tựa, ông viết:
WITTGENSTEIN: “Cuốn sách bàn đến các vấn đề của triết học và, tôi tin như vậy, cho thấy rằng cách đặt ra những vấn đề ấy dựa trên sự hiểu lầm logic của ngôn ngữ chúng ta.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Vì thế, việc khảo sát logic trở thành điểm xuất phát tự nhiên cho việc làm triết học của Wittgenstein, bởi như một cách ngôn trong Tractatus viết:
WITTGENSTEIN: “Bên ngoài logic, tất cả đều là ngẫu nhĩ.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và tất tật những gì nằm ngoài logic nhất thiết là ngẫu nhĩ, bởi thế giới thấm đẫm logic:
WITTGENSTEIN: “…các giới hạn của logic cũng là các giới hạn của thế giới.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Hãy thử lần theo chuỗi nghĩ này: Wittgenstein nói về thế giới, về những đối tượng và sự vị của thế giới mà ta can hệ tới.
Thế giới ấy cùng các sự vị của nó được ta “tạo ảnh” trong những mệnh đề có thể kiểm tra -
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: - tức những mệnh đề thuộc khoa học tự nhiên -
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: - và ở một chỗ khác, ông còn nói rằng bằng các mệnh đề của mình, ta có khả năng trình hiện toàn thể thực tại.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Điều được nhắm tới ở đây bao giờ cũng là những khoa học nghiên cứu thực tại và đưa thực tại vào một hệ thống biểu đạt.
NGƯỜI PHẢN BÁC: Vậy điều gì khiến Wittgenstein nói tới “các giới hạn của thế giới”?
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Đến đây ông lùi lại một bước và nói rằng có một điều ta không thể trình hiện, ấy chính là cái mà những mệnh đề của ta - những mệnh đề trình hiện thực tại - có chung với thực tại.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nói như vậy, ông chạm đến một hiện tượng hết sức kỳ lạ mà trong thực tiễn đời thường cũng như trong thực tiễn khoa học, ta chẳng bao giờ nghĩ tới. Chẳng hạn, ta trình hiện một quá trình tự nhiên nhất định bằng mệnh đề “trời mưa”; hoặc trong khoa học tự nhiên, ta biểu đạt một cái gọi là quy luật tự nhiên - chẳng hạn các định luật về sự rơi - bằng một công thức.
Mệnh đề của ngôn ngữ thường ngày cũng như công thức toán học đều trình hiện thực tại, mặc dù rõ ràng chúng chẳng có chút gì chung với chính thực tại ấy. Chúng chỉ là các ký hiệu chỉ một cái gì đó, nhưng bản thân các ký hiệu ấy không có gì chung với cái được chúng chỉ tới. Làm thế nào, bất chấp sự không tương ứng ấy, ta vẫn có thể thao tác với ký hiệu - với ngôn ngữ của ta theo nghĩa rộng nhất? - đó là câu hỏi!
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và Wittgenstein trả lời câu hỏi ấy như sau: cái mà hai bên phải có chung là hình thức logic, bởi nếu không thì các mệnh đề hoàn toàn không thể trình hiện thực tại. Và hình thức logic này chính là “giới hạn” mà Người Phản Bác của chúng ta vừa hỏi: nó làm cho sự trình hiện khả dĩ, nhưng chính nó thì lại không thể được trình hiện. Trong hình thức ấy hiện ra một cái gì hướng ra ngoài thực tại. Nó hướng ra ngoài thực tại ở chỗ, trong hình thức logic tự cho thấy một cái gì mà đối với ta là không thể nghĩ; và bởi nó không thể nghĩ, ta cũng không thể nói về nó.
WITTGENSTEIN: “Cái ta không thể nghĩ, ta không thể nghĩ; do đó ta cũng không thể nói cái ta không thể nghĩ.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Như vậy, Wittgenstein xác lập “tình thế giới hạn” mà khoa học gặp phải trong việc trình hiện thực tại. Và trong luận khảo, hay cuộc “xét xử” mang tên Tractatus Logico-Philosophicus, ông tiếp tục khảo sát những mệnh đề có thể phát biểu và chỉ ra các điều kiện để mệnh đề có thể phát biểu, tức là “có nghĩa”. Ông gọi những mệnh đề ấy là những “mô hình” của thực tại.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nhân tiện, “mô hình” cũng là một từ ta gặp trong vật lý hiện đại, chẳng hạn khi người ta nói đến mô hình nguyên tử; và trong vật lý, từ ấy cũng được chọn để làm rõ rằng sự mô tả nguyên tử chẳng có gì chung với bản thân nguyên tử, rằng giữa sự trình hiện và thực tại mà nó không thể nắm bắt - như Wittgenstein hẳn sẽ nói - chỉ có hình thức logic là tương ứng.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Nhưng hãy nhớ lại một lần nữa luận đề của Wittgenstein: bản thân hình thức logic, nhờ nó ta có thể miêu tả các sự vị của thế giới, không thuộc về các sự vị của thế giới; đúng là có thể nói được một điều gì đó có nghĩa nhờ nó, nhưng chính nó lại là giới hạn của cái có thể nói và trùng với giới hạn của thế giới -
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: - nhưng không trùng với giới hạn của thực tại nói chung.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và “giới hạn của thế giới của tôi” có nghĩa là “giới hạn của ngôn ngữ của tôi”. Bởi chúng ta chỉ vươn tới mức mà ngôn ngữ của chúng ta vươn tới; nhờ ngôn ngữ ấy, ta trình hiện thế giới như nó là và tạo ảnh về nó.
NGƯỜI PHẢN BÁC: Cho phép tôi tổng hợp những luận đề đã được nêu ra cho tới lúc này: tôi cho rằng ở đây ta đang đứng trước một triết học kinh nghiệm chủ nghĩa triệt để, thực chứng luận và duy lý, vận dụng một trong những phương pháp phân tích do logic hiện đại phát triển. Các luận đề của nó chủ yếu làm sáng tỏ quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên. Trong lịch sử triết học từ thời cổ đại, ta đã nhiều lần gặp những dòng tương tự; nhưng trong khi ở các thế kỷ trước vẫn chưa có một sự phân tách rạch ròi và dứt khoát giữa triết học và các khoa học tự nhiên, thì trong thế kỷ của chúng ta, nhờ sự chuyên môn hóa ngày càng sâu của các khoa học tự nhiên, một sự phân tách như thế gần như tự nhiên mà thành. Một loạt câu hỏi mà trước kia người ta tìm cách giải quyết bằng những phương pháp tư biện triết học đã bị loại bỏ từ lâu. Tâm lý học, vật lý học và sinh học đã đưa ra những câu trả lời dứt khoát cho chúng. Điều ấy đồng nghĩa với sự xói mòn chính nền móng của triết học, mà tuyệt nhiên không phải mọi triết gia đều nhận ra. Dẫu vậy, sự xói mòn vẫn diễn ra. Và bằng cách hoàn toàn có ý thức và triệt để rút ra các hệ quả logic của tình thế này, một trường phái thực chứng luận mới xuất hiện, tuyên bố rằng cái ta đã quen gọi là triết học chỉ là, một mặt, khoa học tự nhiên trá hình; mặt khác, nó hoặc là tàn dư của tâm lý học, mà khi bị lột mặt nạ thì hóa ra là một trò bịp nhân học, hoặc là thứ mà các phương pháp của logic mới có thể dễ dàng lật tẩy là những lảm nhảm vô nghĩa về ngữ pháp hay cú pháp.NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Những người theo thực chứng luận mới chưa bao giờ khẳng định rằng siêu hình học là phi lý bởi những câu hỏi của nó là không thể trả lời. Đó là lập trường của các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa và thực chứng luận thuộc thế hệ trước, họ đã sai lầm khi biến kinh nghiệm chủ nghĩa thành một thế giới quan vẫn ẩn chứa một thứ siêu hình học: chẳng hạn, sự tuyệt đối hóa thế giới được ban cho ta trong kinh nghiệm thành thực tại. Trong thực chứng luận mới hay thực chứng luận logic, trái lại, người ta trước hết tìm cách đặt, theo một cách có nghĩa, những câu hỏi đã xuất hiện trong triết học ngay từ khởi đầu, và khi điều ấy tỏ ra bất khả thì loại bỏ những câu hỏi đó. Bởi một câu hỏi mà ngay việc đặt ra nó cho có nghĩa cũng đã là bất khả thì, về căn bản và mãi mãi, không thể có một câu trả lời có nghĩa. Khi thử trả lời những câu hỏi như thế trong siêu hình học, người ta đụng phải những “mệnh đề giả”, những “vấn đề giả”: chẳng hạn vấn đề tính ý niệm hay tính thực tại của thế giới, vấn đề tinh thần, vấn đề Thượng đế - những vấn đề về căn bản bất khả giải quyết. Và người ta loại chúng khỏi triết học. Một mệnh đề, chẳng hạn, khẳng định tính thực tại hay tính ý niệm của thế giới, không trình hiện một sự vị nào; cũng như mọi mệnh đề thuộc loại ấy, nó có một chức năng hoàn toàn khác. Nó biểu đạt một cảm giác sống nhất định. Những thái độ tình cảm và ý chí đối với môi trường quanh ta, đối với vũ trụ, đối với đồng loại, đối với những nhiệm vụ của đời sống, in dấu lên nó. Chính vì thế mà đối với rất nhiều người, siêu hình học mới có giá trị lớn đến vậy. Nhưng cảm giác sống cũng có thể tìm được biểu đạt qua tạo tác nghệ thuật. Xét theo nghĩa ấy, siêu hình học gần với tác phẩm nghệ thuật. Chỉ có điều, trong siêu hình học, cảm giác sống được biểu đạt trong một kết cấu gồm những mệnh đề tưởng như đứng với nhau trong những tương quan logic, tưởng như có thể được suy ra từ nhau theo logic; và bằng cách ấy, một nội dung lý thuyết được tạo ra như thể là có thực. Một tác phẩm nghệ thuật không lập luận. Siêu hình học, trái lại, có lập luận, và nhất quyết rằng mình đem lại tri thức. Nhưng cái có thể đem lại tri thức bao giờ cũng chỉ là một mệnh đề khoa học tự nhiên, kể cả khi nó xuất hiện trong hình thức siêu hình học.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Thái độ của Wittgenstein cũng chống siêu hình học. Từ mệnh đề này sang mệnh đề khác, Tractatus nhất quyết đòi một sự phân tách sắc và rạch ròi giữa những mệnh đề đích thực và những mệnh đề giả: việc trình hiện và tạo ảnh về thế giới phải được để lại cho các khoa học tự nhiên; còn ở đâu có sự không rõ ràng, mơ hồ, thì phân tích logic phải can thiệp để tạo ra sự sáng rõ. Từ nay, đó là hoạt động của triết học. Và đây không còn là kinh nghiệm chủ nghĩa cùng thực chứng luận cổ điển, với niềm tin ngây thơ của chúng vào khoa học và thế giới, vừa là thế giới quan vừa là phương pháp; ở đây chỉ còn phương pháp. Người ta thậm chí không còn thử giải thích thế giới theo cách này hay cách khác; thực tại được cố ý để nguyên, “không xác định”, bởi việc xác định đặc tính của nó không nằm trong quyền năng của chúng ta. Nếu ta có thể trình hiện các sự vật một cách đúng và hữu dụng, thì những câu hỏi về “yếu tính” và “hiện tượng” trở nên thừa; chúng chưa bao giờ giúp những nỗ lực trình hiện của ta tiến thêm dù chỉ một bước, trái lại, thường chỉ gây trở ngại, và trong các khoa học thực nghiệm thậm chí còn dẫn đến những kết quả vô dụng hoặc hoàn toàn sai. Tuy vậy, đối với Wittgenstein - người chia sẻ với những nhà thực chứng luận mới khác thái độ trung tính này đối với thế giới, cũng có thể gọi là một thái độ phi triết học - vẫn còn một câu hỏi đáng đặt ra: rốt cuộc, bằng một sự trình hiện và tạo ảnh về thế giới vừa đúng vừa hữu dụng, ta đã đạt được gì? Và ở một trong những trang cuối của Tractatus, ông cho ta câu trả lời, một câu trả lời chỉ đến lúc ấy mới khiến ta hiểu được cuộc phiêu lưu, sự mạo hiểm mà cuốn sách này đã dấn vào: “không gì cả”.
WITTGENSTEIN: “Thế giới là như thế nào thì hoàn toàn không can hệ gì tới cái cao hơn. […] Cái thần bí không nằm ở chỗ thế giới là như thế nào, mà ở chỗ nó hiện hữu.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Với cách ngôn này, Wittgenstein cất lên một giọng mới, một giọng ông giữ cho tới hết cuốn sách và qua đó hé lộ vấn đề thực sự của lối suy nghĩ vốn thù địch với các vấn đề này. Khẳng định rằng tri thức của chúng ta về việc “thế giới là như thế nào” là vô giá trị nhằm chống lại thực chứng luận - tức là chống lại chính việc làm triết học của ông - không kém gì chống lại siêu hình học, thứ tìm cách khảo sát yếu tính của các vật, tìm kiếm yếu tính tuyệt đối, đích thực của thế giới và của các đối tượng đằng sau những hình thức hiện tượng của chúng. Khẳng định ấy chỉ cho ta cái bất khả nắm bắt nơi việc thế giới nói chung hiện hữu, và gọi thẳng cái bất khả nắm bắt ấy bằng một cái tên: “cái thần bí” - một từ có trường nghĩa vô hạn, mang nặng cả những kinh nghiệm không thể nghi ngờ lẫn những kinh nghiệm đáng ngờ.
NGƯỜI PHẢN BÁC: Cho phép tôi hỏi, cái thần bí ở Wittgenstein mang sắc thái cụ thể nào? Mệnh đề này chẳng phải gợi lại một cách đáng ngờ một câu hỏi mà theo nghĩa Wittgenstein hẳn là vô nghĩa hay sao, tức câu hỏi của Heidegger: “Tại sao nói chung lại có cái hiện hữu chứ không phải hư vô?” Sự không thể nói của Heidegger trước Hữu thể chẳng phải cũng chính là sự không thể nói của Wittgenstein hay sao? Nhà thực chứng luận và triết gia của Hữu thể chẳng phải cuối cùng đều rơi vào một ngõ cụt hay sao?
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Kinh nghiệm nằm dưới cái thần bí của “là” nơi Heidegger quả có thể tương tự với kinh nghiệm khiến Wittgenstein nói tới cái thần bí. Nhưng đối với Wittgenstein, việc đặt câu hỏi của Heidegger là bất khả, bởi ông phủ nhận chính cái Heidegger tiền giả định: rằng trong suy nghĩ, “là” đi vào lời. Chỗ Heidegger bắt đầu làm triết học, Wittgenstein ngừng làm triết học. Bởi, như mệnh đề cuối cùng của Tractatus Logico-Philosophicus:
WITTGENSTEIN: “Về cái không thể nói, phải im lặng.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Theo các luận đề của Wittgenstein, nói về “nghĩa” của là là bất khả, bởi nghĩa không nằm trong một thế giới chỉ có thể được trình hiện, miêu tả - chứ không thể được giải thích. Muốn có thể giải thích thế giới, ta hẳn phải có thể đặt mình ra ngoài thế giới; ta hẳn phải, như ông gọi, “có thể nói những mệnh đề về các mệnh đề của thế giới”, như những nhà siêu hình học vẫn tưởng mình có thể làm; bởi bên cạnh những mệnh đề nói về các sự vị, họ còn có những mệnh đề bậc hai, nói về chính những mệnh đề về sự vị ấy. Họ thực hiện một sự gán nghĩa. Wittgenstein dứt khoát bác bỏ những thử nghiệm này. Nếu trong thế giới có nghĩa, thì nghĩa ấy sẽ không có nghĩa, bởi khi ấy nó sẽ thuộc về các sự vị, sẽ là một cái có thể được trình hiện giữa những cái có thể được trình hiện khác, đồng hạng với chúng, một đối tượng của tri thức như những đối tượng khác, và vì thế vô giá trị, bởi:
WITTGENSTEIN: “Thế giới là như thế nào thì hoàn toàn không can hệ gì tới cái cao hơn. […] Nghĩa của thế giới phải nằm ngoài thế giới. Trong thế giới, mọi sự là như nó là và diễn ra như nó diễn ra.”
NGƯỜI PHẢN BÁC: Nếu câu hỏi mà ta vốn quen đặt ra cho triết học này - câu hỏi về “nghĩa của là” - không nhận được một câu trả lời; nếu với câu hỏi ấy ta bị trả về với chính mình bởi suy nghĩ và ngôn ngữ đều bất lực, vậy những câu hỏi của đạo đức, vốn gắn chặt với nó, sẽ được trả lời như thế nào? Bởi các chuẩn mực đạo đức, tức những mệnh đề về cái “phải”, cũng như những giá trị mà theo đó ta hướng mình, cũng đều là những mệnh đề bậc hai và được neo trong siêu hình học. Nhưng nếu một thực tại bậc hai, nơi việc gán nghĩa và sự lập luật đạo đức cho đời sống của chúng ta có chỗ cư ngụ, bị phủ nhận - như trong nền triết học thực chứng luận mới này - thì toàn bộ đạo đức cũng theo đó mà bị loại bỏ; và khi ấy ta quả đã đi tới điểm không của tư tưởng phương Tây, tới sự hoàn tất của một chủ nghĩa hư vô tuyệt đối mà ngay cả Nietzsche, kẻ đập tan các hệ thống giá trị truyền thống của phương Tây, cũng không thể nghĩ ra nổi.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Dĩ nhiên, triết học của Wittgenstein là một triết học phủ định, và hoàn toàn có thể ông đã đặt cho Tractatus của mình cùng nhan đề với De docta ignorantia của Nikolaus Cusanus. Bởi cái ta có thể nói thì chẳng có giá trị gì, còn nơi giá trị cư ngụ thì ta không thể nói tới. Bởi vậy - ông suy ra - ta cũng không thể phát biểu lấy một mệnh đề đạo đức nào vừa đúng vừa có thể chứng minh:
WITTGENSTEIN: “Đạo đức là siêu nghiệm.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Qua đó Wittgenstein muốn nói rằng hình thức đạo đức, vốn không thuộc về các sự vị của thế giới, thì tương tự với hình thức logic. Nó không còn có thể được trình hiện, nhưng nó tự cho thấy. Cũng như hình thức logic, nhờ đó ta tạo ảnh về thế giới, nó là giới hạn của thế giới, một giới hạn ta không thể vượt qua. Và ông nói tiếp:
WITTGENSTEIN: “Lời giải cho bí ẩn của đời sống trong không gian và thời gian chỉ có thể nằm ngoài không gian và thời gian.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Và ta trở lại với mệnh đề quyết định:
WITTGENSTEIN: “Bởi thế giới là như thế nào thì hoàn toàn không can hệ gì tới cái cao hơn. Thượng đế không hiển lộ trong thế giới.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Đó là mệnh đề cay đắng nhất trong Tractatus. Nó vọng lại câu của Hölderlin: “Các đấng trên trời ít đoái hoài đến chúng ta biết bao!”; nhưng điều được nói ở đây còn đi xa hơn thế: rằng Thượng đế ấy vẫn là Thượng đế ẩn giấu, deus absconditus, không tự cho thấy trong thế giới này - một thế giới mà ta có thể tạo ảnh bằng một lược đồ hình thức; rằng thế giới trở nên có thể nói tới, và do đó có thể tạo ảnh; rằng cái có thể nói chỉ khả hữu nhờ cái không thể nói, cái thần bí, giới hạn - hay bất cứ cái tên nào ta muốn gọi nó.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Khi bàn đến lý thuyết ngôn ngữ của Wittgenstein, tức lý thuyết về sự trình hiện thế giới, chúng ta đã chỉ ra những nét kinh nghiệm chủ nghĩa và duy lý trong triết học của ông, cũng như mối liên hệ của nó với phương pháp phân tích vốn hiện diện trong tư tưởng phương Tây ngay từ thuở khởi đầu. Và ngày nay ta có thể thấy phần dương tính ấy của Tractatus đã có một ảnh hưởng lớn đến thế nào đối với sự phát triển của tư tưởng hiện đại trong những thập niên vừa qua, đặc biệt tại các nước Anglo-Saxon; thậm chí, có thể nói, nó đã trở thành “Kinh Thánh” của tư duy khoa học và phương pháp luận trong thời đại chúng ta.
Nhưng thành phần kia trong tư tưởng Wittgenstein - nỗ lực tuyệt vọng của ông hướng tới cái không thể nói ra lời, cái không thể nói - phải được đặt vào mối liên hệ nào?
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Có lẽ chính vì những nỗ lực ấy mà Wittgenstein có thể được gọi là nhà tư tưởng tiêu biểu của thời chúng ta, bởi nơi ông hai khuynh hướng cực đoan của các dòng tư tưởng phương Tây cùng tìm được biểu đạt. Ông đứng ở đỉnh cao của tư duy khoa học thời đại mình - thứ tư duy đồng hành với sự phát triển của kỹ thuật và các khoa học tự nhiên, và đã có trước ông - thế nhưng chính ông lại dẫn câu của Nestroy: “Nói chung, tiến bộ có một đặc tính: nó trông lớn lao hơn rất nhiều so với thực chất.” Chính vì thế mà thành phần kia trong tư tưởng ông, thành phần thần bí muốn vượt qua những giới hạn của tư duy khoa học, lại lay động chúng ta sâu xa đến vậy.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Chúng tôi tin rằng mình không lầm khi xem Pascal như một tiền lệ - một nhà tư tưởng cũng đã kết hợp trong mình hai thành phần ấy. Mang lý tưởng khoa học nghiêm ngặt của thế kỷ XX, Wittgenstein có lẽ, hơn bất kỳ triết gia nào sau Pascal, sẽ được Pascal nhìn nhận là có l’esprit de la géométrie. Nhưng liệu ta cũng có thể nói ông có l’esprit de finesse hay không? Với Pascal, chính sự kết hợp của hai hình thức của tinh thần ấy làm nên nhà tư tưởng lớn; ông cho rằng nếu thiếu “cái thần bí của trái tim”, thiếu kinh nghiệm thần bí về thực tại của con người toàn vẹn - cái đứng trước hoặc phía sau tư duy - thì một nền triết học “không đáng để bỏ ra dù chỉ một giờ công sức”.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Một phán xét khắc nghiệt, Pascal ghi lại khi đọc Descartes.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Muốn hiểu những gì thần bí ở Wittgenstein và làm cho chúng trở nên hiểu được, có lẽ ta phải đi thêm một bước, vượt khỏi những lời ít ỏi mà chính ông dành cho điều này:
WITTGENSTEIN: “Thượng đế không hiển lộ trong thế giới.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Những lời ấy nằm gần cuối Tractatus. Ta phải hiểu chúng thế nào? Chúng nói rằng thế giới, với tư cách toàn thể các sự vị - cái thế giới chỉ cho phép một sự miêu tả của khoa học tự nhiên - không làm Thượng đế hiển lộ; rằng chúng ta, những hữu thể hữu hạn trong một thế giới hữu hạn, không thể thực hiện những chứng minh về sự hiện hữu của Thượng đế bởi Thượng đế không phải một sự vị của thế giới.
WITTGENSTEIN: “Quả thực có cái không thể nói thành lời. Nó tự cho thấy; nó là cái thần bí.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và cũng từ đó phải hiểu cách Wittgenstein xử lý vấn đề đạo đức. Giá trị là một cái gì “cao hơn”, bởi thế nó không thuộc về thế giới. Hãy nghe kỹ cách ông diễn đạt:
WITTGENSTEIN: “Trong thế giới không có giá trị; nếu có, thì nó cũng không có giá trị.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nói cách khác: thế giới trung tính về giá trị; nó gồm những sự vị đồng hạng, chúng là như chúng là, không thể bị ý chí của ta làm thay đổi - cái ý chí mà ta gọi là cái mang đạo đức. Nhưng các giá trị đạo đức lại thuộc vào những vấn đề của đời sống, bởi chúng đặt lên hành động của ta những dấu nhấn của thiện và ác, của cái có giá trị và cái vô giá trị. Điều ấy không thể phủ nhận, và Wittgenstein cũng hoàn toàn không có ý phủ nhận. Chỉ có điều, ông làm rõ dứt khoát rằng khoa học không thể đóng góp gì vào việc giải quyết một vấn đề của đời sống như thế. Trước mọi câu hỏi hiện sinh, ta bị trả về với chính mình. Quả thật, ông không cho rằng không có các giá trị, rằng đạo đức là bất khả, hay rằng tin vào Thượng đế là bất khả - ông chỉ cho rằng, nói theo nghĩa nghiêm ngặt, không thể nói về tất tật những điều ấy. Ngôn ngữ chỉ có thể nói về các sự vị và làm thành giới hạn của thế giới của chúng ta - của tôi và của bạn. Sự tháo bỏ giới hạn của thế giới diễn ra nơi ngôn ngữ không vươn tới, và do đó tư duy cũng không vươn tới. Nó diễn ra nơi một cái gì đó “tự cho thấy”, và cái tự cho thấy ấy là cái thần bí, kinh nghiệm không thể nói thành lời -
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: - một kinh nghiệm không phải của nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, mà của nhà thần bí.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Tín niệm của Wittgenstein vì thế là âm tính, bởi ông không thể nói nó thành lời. Nhưng những mệnh đề cuối của Tractatus cũng đủ để ta tiên cảm được nó.
WITTGENSTEIN: “Ta cảm thấy rằng, ngay cả khi mọi câu hỏi khoa học khả dĩ đã được trả lời, những vấn đề của đời sống chúng ta vẫn chưa hề được chạm tới. Dĩ nhiên khi ấy không còn câu hỏi nào nữa; và chính đó là câu trả lời.
Lời giải cho vấn đề của đời sống được nhận ra ở sự biến mất của vấn đề ấy.
(Chẳng phải đó là lý do tại sao những người, sau những hoài nghi kéo dài, đã thấy nghĩa của đời sống trở nên sáng rõ, lại không thể nói nghĩa ấy cốt ở đâu hay sao?)”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và như vậy cuốn sách đi tới những hệ quả đã khiến các nhà khoa học theo thực chứng luận khác phải lắc đầu.
WITTGENSTEIN: “Phương pháp đúng của triết học thực ra phải là thế này: không nói gì ngoài cái có thể nói, tức các mệnh đề của khoa học tự nhiên - tức là một cái gì không liên can đến triết học - rồi, mỗi khi một người khác muốn nói một điều gì siêu hình học, chỉ ra cho người ấy rằng trong các mệnh đề của mình, người ấy đã không gán sở chỉ cho một số ký hiệu. Phương pháp này hẳn sẽ không làm người kia thỏa mãn - người ấy sẽ không có cảm giác rằng ta đang dạy triết học cho mình - nhưng đó sẽ là phương pháp duy nhất đúng theo nghĩa nghiêm ngặt.
Các mệnh đề của tôi làm sáng tỏ theo cách này: người nào hiểu tôi cuối cùng sẽ nhận ra chúng là vô nghĩa, một khi đã leo qua chúng - trên chúng - vượt khỏi chúng. (Có thể nói, người ấy phải vứt bỏ cái thang sau khi đã leo lên bằng thang.)
Người ấy phải vượt qua những mệnh đề này; khi đó mới nhìn thế giới đúng.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Chẳng phải Wittgenstein thực sự đã đi tới cùng một kết luận như Pascal sao? Hãy nghe tác giả Pensées nói gì ba trăm năm trước Wittgenstein: “Bước cuối cùng của lý trí là nhận ra rằng có vô số điều vượt quá nó.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Wittgenstein đã thực hiện bước cuối ấy của lý trí. Ai, như ông, nói: “Thượng đế không hiển lộ trong thế giới”, thì dẫu không nói ra cũng đã đồng thời nói: “Vere tu es deus absconditus.” Bởi nếu không phải về sự tháo bỏ giới hạn - về Thượng đế ẩn giấu, về cái đạo đức và cái thẩm mỹ như những kinh nghiệm thần bí của trái tim, những kinh nghiệm diễn ra trong cái không thể nói - thì còn về cái gì mà phải im lặng? Câu “Về cái không thể nói, phải im lặng” bao hàm trọn vẹn điều ấy. Im lặng về một điều đâu chỉ đơn giản là im lặng. Sự im lặng âm tính sẽ là bất khả tri; sự im lặng dương tính là thần bí.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Cách diễn giải sự im lặng này của Wittgenstein, dĩ nhiên, đã đi xa hơn những gì chính ông từng nói; nhưng chúng tôi cho rằng có thể đi đến hệ luận ấy để làm cho Tractatus trở nên dễ hiểu, cũng bởi cuộc đời Wittgenstein cho ta một đầu mối để hiểu tất tật những gì ông cho rằng chỉ có thể thành tựu trong im lặng.
Suốt đời Ludwig Wittgenstein bọc mình trong im lặng; khó mà gọi khác đi được, bởi thật đáng kinh ngạc khi một người mà danh tiếng và uy tín trước công chúng gần như đã được bảo đảm lại có thể rút khỏi thời đại mình triệt để đến mức thực sự thoát khỏi nó. Năm 1921, ông xuất bản Tractatus Logico-Philosophicus tại Vienna; vài năm sau cũng tại đây, được những ý nghĩ của ông khơi động, Moritz Schlick lập ra “Nhóm Vienna”. Trong khi trường phái thực chứng luận mới ở Vienna - gần như chỉ dựa vào những nỗ lực tư duy tinh vi của Wittgenstein về logic hiện đại và lý thuyết khoa học, nhưng lại xa lạ với những “cơn” thần bí của ông - ngày càng có được một thanh thế quốc tế lớn, Wittgenstein tuyệt nhiên không lộ diện; ông đứng ngoài mọi cuộc thảo luận, từ chối giảng dạy, rồi rốt cuộc về Hạ Áo làm thầy giáo làng, sống ở đó nhiều năm mà chẳng ai biết kể gì. Ông “đi khỏi” triết học. Năm 1938, vì những lý do “chủng tộc”, ông phải rời Áo và sang Anh; tại Đại học Cambridge, ông kế nhiệm G. E. Moore ở ghế giáo sư triết học mà Moore vừa rời. Về những năm cuối ấy, ta biết rằng quanh ông có một nhóm nhỏ môn đệ; họ kể rằng ông sống trong một căn lều và không cho đặt gì ở đó ngoài một chiếc ghế đơn sơ. Như vậy, ngay khi ông còn sống, huyền thoại đã thay chỗ cho cuộc đời ông: một huyền thoại về sự khổ hạnh tự nguyện, về nỗ lực sống như một vị thánh, về nỗ lực vâng theo mệnh đề khép lại Tractatus:
WITTGENSTEIN: “Về cái không thể nói, phải im lặng.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Chỉ sau khi Wittgenstein mất năm 1951, người ta mới thực sự bắt đầu quan tâm đến tác phẩm và con người ông. Ở Đức, Ewald Wasmuth là người khiến người ta chú ý tới Wittgenstein; trong một công trình khảo cứu, với tư cách một triết gia Kitô giáo, ông bày tỏ hy vọng rằng trong những trước tác cuối cùng - mà bấy giờ từ Anh người ta chỉ mới nghe phong thanh là có - Wittgenstein đã bước qua im lặng để đi tới tuyên tín. Đó là thời người ta nói đến một Sách Xanh và đến Những khảo sát triết học, nói đến một khối di cảo đồ sộ sẽ cho ta một hình dung đầy đủ hơn về tư tưởng ông. Và năm ngoái, tại Anh, quả thực đã xuất hiện một tác phẩm di cảo: Philosophical Investigations [ở đây Bachmann ghi nhan đề bằng tiếng Anh], phần lớn còn được chính Wittgenstein biên tập. Lần “trở vào” triết học này được ông giải thích trong lời tựa:
WITTGENSTEIN: “Cho tới cách đây không lâu, thật ra tôi đã từ bỏ ý nghĩ xuất bản công việc của mình khi còn sống. Dẫu vậy, thỉnh thoảng ý nghĩ ấy lại sống dậy, chủ yếu bởi tôi buộc phải biết rằng những kết quả của mình, vốn đã được truyền đạt qua các bài giảng, bản thảo và thảo luận, đang lưu hành dưới những dạng bị hiểu sai đủ kiểu, ít nhiều bị pha loãng hoặc xén cụt. Điều ấy kích động lòng hư vinh của tôi, và tôi phải khó nhọc lắm mới làm nó lắng xuống.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và về chính Philosophical Investigations, ở một chỗ sau ông nói tiếp:
WITTGENSTEIN: “Tôi đưa chúng ra công chúng với nhiều ngờ vực. Không phải là bất khả chuyện tác phẩm này, trong sự nghèo nàn của nó và giữa bóng tối của thời này, có thể rọi chút ánh sáng vào một hai bộ óc - nhưng dĩ nhiên điều ấy khó xảy ra. Tôi không muốn những gì mình viết miễn cho người khác khỏi phải nghĩ; mà, nếu có thể, khơi cho ai đó tự có những ý nghĩ của mình. Tôi đã muốn làm ra một cuốn sách hay. Điều ấy đã không thành; nhưng thời gian mà tôi còn có thể sửa nó cho tốt hơn đã qua.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Liệu cuốn sách này có thể hay hơn hay không, ta đành để ngỏ. Trong hình thức mà nó đến với chúng ta, như một khối gồm những ví dụ tư duy tụ lại với nhau, nó đặt ra không ít khó khăn. Một lần nữa, vắng mối liên kết có hệ thống. Tác giả kéo ta vào một cuộc đối thoại kiểu Socrates, chạm tới rất nhiều điều; bởi thế ý định của ông không hiện ra ngay trước ta. Quả thực, ông dường như tiến hành mà không theo một ý định định trước nào - chẳng hạn:
WITTGENSTEIN: “Tôi có thể biết người khác nghĩ gì, chứ không phải tôi nghĩ gì. Nói ‘Tôi biết anh đang nghĩ gì’ thì đúng, còn nói ‘Tôi biết tôi đang nghĩ gì’ thì sai.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Chúng tôi chọn ví dụ này bởi đi cùng nó là một lời bình quyết định, một câu cảm thán cũng có thể đặt sau tất tật những ví dụ khác:
WITTGENSTEIN: “Cả một đám mây triết học cô đặc thành một giọt ngữ pháp!”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và với lời bình ấy, ta đã nhận ra ý hướng của ông, cũng chính là ý hướng bộc lộ rõ trong Tractatus: cho thấy rằng những vấn đề của triết học là những vấn đề của ngôn ngữ, rằng, có thể nói, chính những trục trặc của ngôn ngữ tạo ra các vấn đề triết học. Vì thế, trong Philosophical Investigations, mở rộng Tractatus, ông bắt tay vào đưa ra những ví dụ về việc ngôn ngữ vận hành đúng hay sai, để qua đó cho ta thấy khác biệt giữa tư duy đúng và tư duy sai. Bởi:
WITTGENSTEIN: “Bản thân ngôn ngữ là phương tiện của tư duy.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Ngay trong Tractatus đã có câu:
WITTGENSTEIN: “Kết quả của triết học không phải là những ‘mệnh đề triết học’, mà là việc các mệnh đề trở nên sáng rõ.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Trong Những khảo sát triết học, việc các mệnh đề trở nên sáng rõ ấy phải được thực hiện trên một cơ sở rộng hơn. Giờ đây sự kiểm xét bắt đầu ngay từ những mệnh đề của ngôn ngữ thường ngày, hướng tới lý tưởng triết học duy nhất của ông: sự sáng rõ hoàn toàn. Hãy nghe chính ông hiểu điều ấy thế nào:
WITTGENSTEIN: “Nhưng điều đó chỉ có nghĩa là những vấn đề triết học phải hoàn toàn biến mất.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Wittgenstein tin rằng ta phải khiến triết học dừng lại, để nó không còn bị những câu hỏi “hành hạ” - những câu hỏi đặt chính triết học thành vấn đề; và ông tin rằng ta có thể làm cho những vấn đề ấy im tiếng khi ngôn ngữ của ta vận hành tốt và có nghĩa, khi nó sống và thở trong cách dùng. Chỉ khi ngôn ngữ, vốn là một hình thức sống, bị tách khỏi cách dùng, khi nó chạy không tải - và theo ông, điều ấy xảy ra khi ngôn ngữ được dùng để làm triết học theo nghĩa truyền thống - thì các vấn đề mới nảy sinh. Những vấn đề ấy không phải để giải quyết, mà để loại bỏ.
Như vậy, những khảo sát này vẫn nằm trong phạm vi của Tractatus, nhưng mở rộng nó bằng những khảo sát chi tiết theo mọi hướng. Chúng bỏ cái trừu tượng và đưa ra những ảnh. Ngôn ngữ giờ không còn được gọi là một hệ thống ký hiệu nữa - dù dĩ nhiên nó vẫn là thế - mà, xét trong tất tật sự đa tạp của nó, được ví với một thành phố cổ. Ta cũng có thể nhìn nó như thế này:
WITTGENSTEIN: “Một mớ lổn nhổn những ngõ nhỏ và quảng trường, những ngôi nhà cũ và mới, những ngôi nhà được cơi nới qua các thời kỳ khác nhau; và tất tật được bao quanh bởi vô số khu ngoại ô mới, với những con đường thẳng, đều đặn và những ngôi nhà giống hệt nhau.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Và bởi ngôn ngữ là một mê cung những lối đi, triết học phải đấu lại sự phù phép mà các phương tiện của ngôn ngữ gieo lên trí năng ta. Nó phải phá những lâu đài trên không và làm lộ ra nền móng của ngôn ngữ; nó phải trở thành một thứ trị liệu, bởi các vấn đề triết học là những căn bệnh cần được chữa. Điều Wittgenstein đòi hỏi không phải một lời giải, mà một sự chữa trị.
Bởi vậy, triết học phải đảm nhận một nhiệm vụ nghịch lý: loại bỏ chính triết học.
NGƯỜI PHẢN BÁC: Cũng như Tractatus, Philosophical Investigations đi tới một kết quả hết sức kỳ lạ. Cả hai đều muốn chấm dứt cái mà suốt hàng nghìn năm, dưới đủ mọi hình thức, ta vẫn làm dưới tên triết học: một mặt, trao cho thực chứng luận quyền đưa ra một sự miêu tả xác đáng về thế giới; mặt khác, quăng thực chứng luận, một khi nó trở thành thế giới quan và một nền triết học giải thích thế giới, vào đống sắt vụn, cùng với mọi nền triết học khác vẫn đặt câu hỏi về “là” và “đang là”. Nhưng theo tôi, cái khó nằm ở chỗ: sau khi những vấn đề ngày nay người ta rất thích gọi là “những bận tâm hiện sinh” bị loại bỏ hay gạt đi, chúng vẫn cứ còn đó, bởi đặt câu hỏi vốn nằm trong bản tính con người, và con người nhìn thấy trong thực tại nhiều hơn cái thực chứng và cái duy lý - những cái mà chính Wittgenstein cũng cho rằng không làm nên toàn bộ thực tại. Và rất nhiều người trong chúng ta hẳn sẽ không thỏa mãn với sự phân định tuy không thể bắt bẻ này giữa cái có thể biết và cái không thể biết, giữa khoa học thực chứng và những giới hạn, dưới hình thức logic và đạo đức, hiện ra nơi chủ thể siêu hình học nhưng về chúng thì không thể nói thêm được nữa. Cho dù Wittgenstein có thể đã thực hiện sự im lặng theo nghĩa dương tính, thậm chí có lẽ ngay bằng tác phẩm của mình ông đã làm hiện ra những hoạt tác dương tính, bởi ông có những đức tính lớn của một nhà tư tưởng - sự ngay thẳng trí tuệ và lòng kính trọng đầy e sợ trước thực tại nằm ngoài tầm trí năng con người - thì ông vẫn để lại cho chúng ta một khoảng chân không: địa hạt siêu hình học đã bị rút sạch mọi nội dung.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Quả đúng là như vậy. Nhưng cái ông gọi là khoảng chân không lại mở ra cho đức tin đích thực. Dĩ nhiên, không còn chỗ cho cuộc tranh đấu giữa các hệ siêu hình học phương Tây, cho một niềm tin triết học được trang bị bằng những lập luận logic chống lại một niềm tin triết học khác. Nhưng việc Wittgenstein không đưa ra lời tuyên tín Kitô giáo mà người ta chờ đợi không được khiến ta hiểu sai bản chất của những “giới hạn”: chúng không chỉ là giới hạn, mà còn là những điểm nơi cái tự cho thấy đột nhập vào, nơi cái có thể được kinh nghiệm trong thần bí hay trong đức tin tác động đến những gì ta làm hay không làm. Một sự tuyên tín không có chỗ trong tác phẩm của ông, bởi nó không thể nói thành lời; một khi được nói ra, nó đã rời khỏi tác phẩm ấy. Và có lẽ Wittgenstein, cũng mãnh liệt như Spinoza trước ông, muốn giải phóng Thượng đế khỏi vết nhơ của việc có thể được xưng gọi.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Ta phải tìm căn nguyên của thái độ ấy trong tình thế lịch sử nơi Wittgenstein thấy mình. Sự im lặng của ông hoàn toàn có thể được hiểu như một phản kháng chống lại chủ nghĩa phản duy lý đặc thù của thời đại, chống lại tư tưởng phương Tây bị nhiễm độc bởi siêu hình học, trước hết là tư tưởng Đức, vốn ưa than vãn về sự mất nghĩa, kêu gọi suy tưởng, tiên báo sự suy vong, chuyển tiếp và trỗi dậy của phương Tây; vốn huy động những dòng tư tưởng thù địch với lý trí chống lại các khoa học thực chứng “nguy hiểm” và nền kỹ thuật “được tháo xích”, để loài người cứ mãi ở trong một trạng thái tư duy nguyên thủy. Và sự im lặng ấy cũng có thể được hiểu như một phản kháng chống lại những khuynh hướng sùng tín khoa học và tiến bộ của thời đại này, chống lại sự phớt lờ “toàn bộ thực tại” vốn thường lan rộng trong trường phái thực chứng luận mới bắt đầu từ tác phẩm của ông cũng như trong số những nhà tư tưởng duy khoa học gần với trường phái ấy.
Một triết gia Vienna từng gọi Wittgenstein là một nhà tư tưởng mang khuôn mặt Janus; và quả thật, hơn bất kỳ ai khác, ông đã nhận ra những nguy cơ của sự đối kháng ngày càng đông cứng trong tư duy thế kỷ mình - giữa chủ nghĩa phi duy lý và chủ nghĩa duy lý - đã chịu đựng sự đối kháng ấy trong chính tác phẩm mình và đồng thời vượt qua nó. Dĩ nhiên, ông không đem tới toa thuốc rẻ tiền cho sự tổng hợp mà người ta vẫn thường đòi hỏi; nhưng ông đã đem tới một toa thuốc để chữa - với tư cách một nhà trị liệu.
WITTGENSTEIN: “Ta cảm thấy rằng, ngay cả khi mọi câu hỏi khoa học khả dĩ đã được trả lời, những vấn đề của đời sống chúng ta vẫn chưa hề được chạm tới. Dĩ nhiên khi ấy không còn câu hỏi nào nữa; và chính đó là câu trả lời.”
Thanh Nghi dịch
Wittgenstein, Bernhard và Bachmann
