Ingeborg Bachmann viết radio-essay (phần 2): Con đường Simone Weil
Đầu thập niên 1950, các tác phẩm được xuất bản sau khi Weil mất bắt đầu được dịch và tiếp nhận rộng hơn. Năm 1953, Attente de Dieu xuất hiện bằng tiếng Đức dưới nhan đề Das Unglück und die Gottesliebe. Bachmann đã dùng chính nhan đề ấy để đặt tên radio-essay của mình về Simone Weil.
Tiểu luận dưới đây cho thấy cách Bachmann đọc Weil trong sự kính trọng một con đường trí tuệ mà vẫn giữ khoảng cách trước một kinh nghiệm không thể nhận làm của riêng. Cũng như Weil, Bachmann luôn luôn nghĩ sự thật, cái ác và quyền lực. Chiêm ngưỡng con đường Simone Weil (mà sự viết chỉ là một phần của tập luyện), Bachmann nhận ra một tư thế nghĩ là gốc của mọi lao động tri thức gần với chính mình: “Nghĩ trung thực nghĩa là nghĩ từ cái được cho”. Thế nhưng ngay tại điểm gặp, Bachmann vẫn giữ một ngưỡng với Weil - điều này cho thấy Bachmann là độc giả thực thụ của Weil: kinh nghiệm thần bí không thể trở thành khuôn mẫu chung; kính trọng nó cũng là thừa nhận giới hạn của việc đi theo nó. Bachmann nhận ra ánh sáng trên con đường Simone Weil, song vẫn liên tục cho thấy những mâu thuẫn và đối nghịch trong tư tưởng của Weil. Bằng cách để các giọng cùng lên tiếng trong cuộc chiêm ngưỡng sự nghĩ và sống của Weil, Bachmann làm lóe lên bliss từ một thế giới nơi sự gắn bó giữa tư tưởng và đời sống phải trả giá. Đó là một con đường cô đơn, bất khả chiếm dụng, nhưng cũng mở ra khả năng nhận ra người khác.
Bất hạnh và tình yêu Thiên Chúa - Con đường Simone Weil (1955)
- Ingeborg Bachmann -
Các giọng: Người dẫn chuyện, Người nói thứ nhất, Người nói thứ hai, Người đọc các trích đoạn từ tác phẩm của Simone Weil, T. S. Eliot, Gustave Thibon, bà Thévenon và một công nhân Pháp.
NGƯỜI DẪN CHUYỆN: Khi, ít lâu sau chiến tranh, người ta lần đầu nghe nhắc tới Simone Weil ở Đức bằng những lời tán tụng tột bậc từ tiếng Pháp, những người trong các giới trông đợi một “sự đổi mới tinh thần từ tinh thần Kitô giáo” đã vội lặp lại những lời tán tụng ấy; quả thực cũng có vài người biết một số tác phẩm của bà qua bản gốc. Nhưng mãi đến năm 1953, hai cuốn sách trọn vẹn mới xuất hiện bằng tiếng Đức, do Kösel xuất bản, qua bản dịch xuất sắc của Friedhelm Kemp. Nhan đề của chúng là Bất hạnh và tình yêu Thiên Chúa và Nặng và Thanh.
Đến năm 1953, người ta chỉ còn hiếm khi nghe nói đến một “khoảng trống tinh thần”, và những đòi hỏi chung chung như đòi hỏi về “đổi mới tinh thần” đã nhường chỗ cho những đòi hỏi của cuộc sống thường nhật. Quả là ai nấy đã “bắt kịp những gì cần bắt kịp”; mọi thứ “khác thường” lại có chỗ của mình trong trật tự đời sống văn hóa. Hơn nữa, hiển nhiên những huyền thoại quanh các nhân vật chỉ nảy nở chừng nào tác phẩm của họ còn khó tiếp cận hoặc cuộc đời họ còn chìm trong bóng tối. Ham muốn nhìn xem họ đang giữ những lá bài nào duy trì mối quan tâm và trí tưởng tượng của người ta.
Có thể cho rằng bởi vậy mà huyền thoại về Simone Weil, con người khác thường ấy, một giáo viên triết học và một công nhân nhà máy, một người Do Thái và một tín đồ Kitô giáo sùng đạo, người phê phán Giáo hội Công giáo, một kẻ nửa dị giáo và một vị thánh tiềm tàng - rằng huyền thoại về con người khác thường ấy đang phai đi kể từ khi sách của bà bắt đầu được dịch ra nhiều thứ tiếng và những mốc trong cuộc đời bà được biết đến rộng rãi. Và như vậy, chỉ còn câu hỏi: sự phai đi ấy có gây tổn hại đến Simone Weil hay tác phẩm của bà sẽ sống lâu hơn huyền thoại về bà?
Tôi tin có thể trả lời cả quyết cho câu hỏi ấy. Trong số những “công trình viết” của Simone Weil, chỉ rất ít được công bố lúc bà còn sống; phần lớn là những bài luận về các vấn đề thời sự, chỉ có được ý nghĩa khi đặt trong tương quan với trước tác đích thực của bà. Sau chiến tranh, ở nước Pháp vừa được giải phóng, một nhà thần học giáo dân người Pháp, Gustave Thibon, đã biên tập và công bố một phần trong mười tập ghi chép bà giao cho ông giữ; đến nay, phần lớn đã được Plon xuất bản, một số khác do Gallimard ở Paris.
Mười tập này chứa đựng một điều khó xác định: những mệnh đề và luận đề về cái gọi là những điều tối hậu. Bởi mọi điều liên quan đến “những điều tối hậu” đều mang một tính chất khiến ta không thể phó mặc chúng cho sự im lặng hay cho lời tuyên tín, nên sẽ không dễ đối xử công bằng với các luận đề của Simone Weil; chúng sống nhờ lý trí và đổ vào lời tuyên tín. Không thể đối xử công bằng với một lời tuyên tín, hay thậm chí phán xét nó, theo cách người ta phán xét những mệnh đề và luận đề khoa học. Tuy nhiên, ta có thể lần theo con đường đã dẫn đến lời tuyên tín ấy, ghi nhận và dựng lại những thức nhận bà đạt được cùng những lầm lạc bà mắc phải trên đường. Sau cùng, ta có thể chiêm ngưỡng những dấu tích bằng ngôn từ của nỗ lực ấy - những dấu tích có được sức soi sáng nhờ một niềm đam mê trí tuệ phi thường, và do vậy có cả phong cách lẫn hình thức - như một tạo tác thẩm mỹ, dẫu chính bà hẳn sẽ không chấp nhận một cách nhìn như thế; nhưng rốt cuộc, mọi lời thốt ra, mọi lời khẳng quyết đều thuộc về thế giới của chúng ta cùng những phạm trù của nó.
Simone Weil không phải một “nữ tác giả”. Bà không viết nhiều. Bà không viết để viết, để tạo ra một cái gì có thể tự đứng vững; đối với bà, viết - ngoài việc là một lối thoát cho những thôi thúc mạnh mẽ về phê phán và giáo dục - trước hết là một sự tập luyện. Một sự tập luyện trải từ khiêm nhường đến nổi loạn và, vẫn còn quan trọng đối với bà chừng nào, trong mắt bà, khoảng cách giữa “biết” và “biết bằng toàn bộ tâm hồn” chưa được bắc cầu. Bà sùng tín sự chính xác, trong tư tưởng cũng như trong đời sống: một sự chính xác được vận dụng vào những điều nhỏ nhất cũng như lớn nhất, một sự chính xác tất yếu đẩy tư tưởng và đời sống của bà vào những tình thế cực đoan.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Simone Weil sinh năm 1909 tại Paris, là con thứ hai trong một gia đình Do Thái khá giả. Chính nhờ người anh trai - hiện là giáo sư toán học tại Đại học Chicago - mà bà sớm quan tâm đến văn chương và khoa học, sớm đạt tới một sự thông thạo khác thường đối với những hệ thống tri thức khó lĩnh hội. Sau khi học xong phổ thông, bà theo học triết học với Alain, rồi vào École Normale Supérieure và rời trường với học vị agrégation de philosophie - tương đương về bề ngoài với học vị tiến sĩ triết học của chúng ta, bởi khó đạt được hơn nhiều. Cho tới khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, bà giảng dạy tại nhiều trường trung học, với những quãng gián đoạn do tự nguyện cũng như do bắt buộc. Bà tham gia đời sống chính trị Pháp từ rất sớm và tranh đấu trong hàng ngũ cực tả nhưng chưa từng thuộc về một tổ chức chính trị nào. Đảng của bà là đảng của những người nghèo, những người yếu, những người bị áp bức, và bà gia nhập đảng không tên ấy theo cách riêng của mình. Bà xin nghỉ dạy một thời gian, vào làm thợ vận hành máy phay dưới một tên khác tại nhà máy Renault, sống cùng và giữa những người công nhân trong cùng điều kiện mà phần lớn công nhân Pháp thời ấy phải sống. Bà không thể đi đến cùng cuộc thử nghiệm đầu tiên của mình. Một đợt viêm màng phổi buộc bà phải bỏ việc.
Khi Nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ, bà đứng về phía những người Đỏ, tới mặt trận Catalonia và giúp sức ở bất cứ đâu có thể. Bà chỉ từ chối tự mình sử dụng vũ khí. Nhưng một lần nữa bà buộc phải bỏ cuộc; lần này là một tai nạn khiến bà phải trở về Pháp. Bà đã bị dầu sôi làm bỏng hai bàn chân. Mùa hè năm 1940, khi quân Đức đang tiến gần Paris, bà quyết định cùng cha mẹ tới Marseille, nhưng rồi rời họ để về nông thôn làm thuê trong vài tháng. Bà bắt đầu quen biết triết gia và nhà thần học giáo dân Gustave Thibon từ thời gian ấy. Sau những ngày làm việc trong các vườn nho là những buổi tối bà tiếp tục nghiên cứu triết học và văn chương Hy Lạp, triết học Ấn Độ và bắt đầu hướng sự chú tâm vào huyền nhiệm. Ít lâu sau ta lại thấy bà ở Marseille. Theo lời khuyến khích của linh mục dòng Đa Minh Joseph-Marie Perrin, bà thuyết trình về Plato và những người thuộc phái Pythagoras trong hầm nguyện của tu viện Đa Minh. Cuối cùng, cha mẹ thuyết phục được bà cùng họ di cư. Họ cùng sang Hoa Kỳ. Nhưng Simone Weil, người từng gọi công lý là một “kẻ tị nạn từ phe chiến thắng”, cảm thấy mình thuộc về phe bất hạnh là nước Pháp đang bị chiếm đóng. Bà hoan nghênh phong trào Kháng chiến, rời nước Mỹ hiếu khách chỉ sau vài tháng và tới London gặp Maurice Schumann để làm việc cho chính phủ Pháp lưu vong. Nguyện vọng được cử về Pháp làm nhiệm vụ của bà bị khước từ. Người ta lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy đến với một người thuộc chủng tộc của bà tại một đất nước đầy rẫy Gestapo. Nhưng để ít nhất được chia sẻ những thiếu thốn vật chất của người Pháp, bà từ bỏ phần khẩu phần lương thực được cấp thêm của mình như một cử chỉ liên đới với những người tị nạn.
Nhiều năm đói và làm việc quá sức đã khiến bà kiệt quệ. Bà phải nhập viện điều dưỡng vì bệnh lao phổi cấp tính và qua đời ít lâu sau tại Ashford, hạt Kent, ngày 24 tháng Tám năm 1943, khi còn chưa đầy ba mươi tư tuổi [1]. Không ai thuật lại những ngày cuối cùng của bà. Có lẽ bà đã ở đó một mình. Vài người bạn ít ỏi của bà đều ở Pháp.
WEIL: “Hấp hối là đêm tối tột cùng mà ngay cả người hoàn hảo cũng cần để đạt tới thuần khiết tuyệt đối; bởi thế, đắng cay thì hơn.”
NGƯỜI KỂ: Bất cứ ai biết tiểu sử Weil hẳn đều có khuynh hướng nghĩ rằng bà - nhất là trong những cuộc tranh đấu chính trị và xã hội ở châu Âu trước và trong chiến tranh - là một người có nhu cầu mãnh liệt được cùng chịu đau khổ, cùng tranh đấu với những người khác và, sẵn sàng cho mọi hy sinh. Nhìn dưới ánh sáng ấy, cuộc đời bà hẳn là một tấm gương hiếm có về lòng nhân ái, nhưng với tư cách ấy, nó hẳn đã chìm, không vinh quang, như biết bao cuộc đời đã hy sinh.
Sự chính trực của cuộc đời bà cần được giữ nguyên vẹn và tự lên tiếng. Điều chúng ta muốn nói đến là tư tưởng của bà, di sản trí tuệ của bà và những biểu hiện của tư tưởng ấy tại các quãng khác nhau, khác cả về phẩm tính, trên con đường mà bà cảm thấy mình đã được đích danh gọi đi. Bởi vậy, dẫu không bỏ qua thiên chức thuộc “tâm linh” của bà, trước hết chúng ta phải hướng sự chú tâm vào tư tưởng xã hội và chính trị của bà. Động lực của phương diện này trong con người bà hết sức mạnh mẽ, như chính bà về sau đã thừa nhận:
WEIL: “Chiêm ngưỡng cái xã hội cũng thanh tẩy hữu hiệu như rút khỏi thế giới; bởi thế, tôi đã không sai khi can dự vào chính trị lâu đến vậy…”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Simone Weil lần đầu khiến công chúng chú ý khi, đang dạy học ở Le Puy, bà lên tiếng bênh vực những công nhân đình công tại đó. Trong thời gian ấy, bà liên hệ với một nhóm có cơ quan ngôn luận là tờ báo công đoàn cực tả Révolution prolétarienne. Nhưng bà còn khiến chính những người công nhân chú ý nhiều hơn. Họ chẳng cần đến những người như bà; họ ngờ bà thuộc vào số trí thức mà thiện cảm với giai cấp vô sản bắt nguồn từ một sự hiểu lầm, những người vì cảm thấy bất an và trống rỗng mà bị mê hoặc bởi cái hoàn toàn khác mình. Bận tâm với những khó khăn cụ thể của chính mình, những công nhân ấy chẳng hề thích loại trí thức đó chõ mũi vào chuyện của họ. Bởi vậy, thoạt đầu, có lẽ họ thấy sự hiện diện của Simone Weil gây khó ở; về sau, nó khiến họ bất an. Họ bất an trước hiểu biết vượt xa họ của bà về các lý thuyết xã hội chủ nghĩa, trước trí tuệ chói sáng, mối quan tâm cháy bỏng và thuần khiết dành cho tình cảnh công nhân Pháp thời ấy cùng sự tranh đấu không khoan nhượng nhằm cải thiện tình cảnh đó. Simone Weil không ở vào một thế dễ dàng. Bà còn rất trẻ, không mấy hấp dẫn, chẳng mấy dễ mến, không duyên dáng, không thỏa hiệp, nghiêm túc chết người. Nhưng bà cũng hoàn toàn chân thực, bền bỉ, vững vàng, và bà đã thắng được họ. Bà đã khiến những người đàn ông chỉ biết lắc đầu trước mình chấp nhận mình làm bạn. Tác động của bà lên họ được diễn tả rõ nhất qua một lời vừa bi đát vừa hài hước của một công nhân Pháp, người đã bàng hoàng khi hay tin bà chết:
NGƯỜI CÔNG NHÂN: “Cô ấy không biết sống. Cô ấy sách vở quá, chẳng ăn uống gì.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Simone Weil là một người “căng quá mức”: một bên là hoạt động trí óc với cường độ vô song, bên kia là sự hoàn toàn không biết đến những nhu cầu vật chất. Bà muốn buộc những người công nhân nghĩ; bà muốn làm cho họ hiểu rõ tình cảnh của mình. Bởi bà thấy sự không nghĩ của giới chủ được bổ sung bởi sự không nghĩ của công nhân. Bà muốn đánh vào tận gốc cái ác và, chỉ lầm ở chỗ cho rằng mọi người đều có những khả năng trí tuệ như mình. Bà nghĩ vậy do ngây thơ, không phải kiêu ngạo, và hiếm khi nhận ra mình đã bị bỏ lại một mình trong những cuộc du hành trí tuệ mà bà muốn những người khác cùng dự phần. Tuy nhiên, trong hồi ức về Simone Weil thời kỳ ấy, bà Thévenon, vợ một thủ lĩnh phong trào công đoàn, nói về tính cách và các ý của bà với nhiều thấu hiểu đến mức ta có thể tin rằng, bất chấp sự vụng về trong giao tiếp, Simone Weil vẫn để lại nơi những người khác một ảnh hưởng lâu bền.
BÀ THÉVENON: “Cô ấy rất giản dị, và dẫu văn hóa của cô vượt xa chúng tôi, chúng tôi vẫn có thể trò chuyện lâu với cô trong tình thân ái. Cô vui khi ở cùng chúng tôi, thường đề nghị chúng tôi hát - nhưng không phải những bài chính thống nhất. Khi chúng tôi đến chỗ cô, cô ngồi ở cuối chiếc giường sắt trong căn phòng xấu xí gần như chẳng có đồ đạc, đọc những câu thơ Hy Lạp mà chúng tôi không hiểu nhưng vẫn thích thú, bởi cảm được niềm thích thú của cô. Đôi khi cô dành cho chúng tôi một nụ cười khó quên, một ánh nhìn đồng tình trước những tình huống tức cười; mặt này trong tính cách cô hiếm khi hiện ra, bởi cô nhìn nhận mọi điều hết sức nghiêm túc…”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Bởi Simone Weil chối từ mọi sự tuân theo khuôn phép, và mỗi ý nghĩ của bà đều thở không khí tự do, bà cũng chinh phục được những người quanh mình. Bà không tranh đấu cho một không tưởng nào, mà cho ngày hôm nay. Bà cũng không tin vào một chương trình lý tưởng giải quyết vấn đề công nhân mà vào việc giải quyết từng bước những khó khăn của họ. Bà đặt mình trên nền cái thực, hay như chính bà hẳn sẽ nói, trong “bất hạnh”, nơi bà biết mình cùng bị giam với những người chịu bất hạnh, dưới mọi hình thức nó hiện ra trong thế giới. Với bà, nghĩ trung thực nghĩa là nghĩ từ cái được cho.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Qua tiểu sử bà, chúng ta đã biết có thời gian bà nghỉ dạy để vào làm thợ vận hành máy phay tại nhà máy Renault. Khi ấy, bà viết một cuốn Nhật ký nhà máy, từ đó chúng ta muốn đọc vài đoạn để cho thấy rằng, trước khi phát biểu thành lời, bà đã kinh qua những kinh nghiệm cho phép bà, và cho bà quyền, làm điều ấy. Cuốn nhật ký này không trau chuốt hay tạo kiểu văn chương mà ghi lại một cách chân thực và trực tiếp những gì bà gặp mỗi ngày. Đó là cuộc gặp với sự đơn điệu và sự rỗng về đạo đức, tâm lý mà công việc trong nhà máy lớn gây ra nơi những người công nhân. Khi xem xét nó, chúng ta cũng phải tính đến những điều kiện riêng của các nhà máy Pháp thời ấy; nhưng chỉ từ nhiều cái riêng mới có thể đi tới cái chung.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Khi ấy, Simone Weil làm ca từ hai giờ rưỡi chiều đến mười giờ tối. Những giờ được nhắc tới cần được hiểu trong khung ấy. Vào một ngày thứ Năm năm 1935, bà viết:
WEIL: “Tới nhà máy, lòng nặng trĩu: mỗi bước đều khiến tôi hao tổn (về tinh thần; lúc về thì về thể xác). Trong trạng thái nửa thất thần, làm bia di động cho đủ thứ đòn… Từ 2 giờ 30 đến 3 giờ 35, 400 chi tiết. Từ 3 giờ 35 đến 4 giờ 15, mất thời gian vì người thợ lắp máy đội mũ (ông ta bắt tôi sửa những chỗ làm hỏng) - Những chi tiết lớn - chậm và rất nhọc vì cách bố trí mới của tay quay trên ê-tô. Tôi tìm đến đốc công. Bàn cãi. Làm tiếp. Đâm thủng đầu ngón cái (đấy rồi - đòn đau) - Phòng y tế - Xong 500 chi tiết lúc 6 giờ 14. Không còn chi tiết nào cho tôi. (Mệt đến mức thấy nhẹ cả người!) Nhưng người ta hứa sẽ có. Rốt cuộc mãi đến 7 giờ 30 mới nhận được, mà chỉ có 500 (cho tròn 1.000)… Lúc 8 giờ, 245. Tôi làm xong 500 chi tiết lớn trong một giờ rưỡi, suốt lúc ấy đau khổ vô cùng… Tan ca lúc 9 giờ 40. Nhưng kiếm được 16,45 franc!!!… Về nhà, mệt.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Ba tuần sau, lại một thứ Năm.
WEIL: “Hôm nay, tấn kịch ở nhà máy… Người ta đuổi một nữ công nhân làm hỏng 400 chi tiết. Mắc bệnh lao, chồng thất nghiệp suốt nửa thời gian, có mấy đứa con (với một người đàn ông khác, tôi nghĩ vậy) do nhà bên bố nuôi. Thái độ của những nữ công nhân khác: thương hại trộn với cái ‘đáng đời’ kiểu nữ sinh. Hình như chị ta là một đồng nghiệp tồi, một công nhân tồi. Những lời bình. Chị ta đổ lỗi cho bóng tối (sau 6 giờ rưỡi, người ta tắt hết đèn). ‘Tôi thì đủ thứ việc chẳng có đèn vẫn làm được.’ ‘Lẽ ra chị ta không nên cãi đốc công (chị ta đã từ chối làm việc); lẽ ra phải đến gặp phó giám đốc mà nói: Tôi đã phạm lỗi, nhưng vân vân.’ ‘Đã phải kiếm sống thì phải làm những gì cần làm.’ ‘Đã phải kiếm sống thì phải có ý thức hơn (!).’”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Từ một ghi chép không đề ngày:
WEIL: “Hoàn toàn không biết mình đang làm gì khiến tinh thần suy sụp ghê gớm. Không cảm thấy một sản phẩm là kết quả của nỗ lực mình bỏ ra. Không có chút ý niệm nào về số người cùng tham gia sản xuất. Cũng không có ý niệm nào về tương quan giữa lao động và tiền công của mình. Công việc dường bị áp đặt tùy tiện, tiền công cũng được trả tùy tiện. Cảm thấy mình khá giống những đứa trẻ được mẹ cho xâu hạt và hứa cho kẹo để chúng ngồi yên.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Một ngày thứ Bảy:
WEIL: “Đau đầu dữ dội, tinh thần khổ sở, chiều khá hơn (nhưng khóc ở nhà B.…”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Thứ Hai:
WEIL: “Leclerc gọi tôi đến […]. Bắt đầu quát tháo vì tôi [đã làm xong] những chi tiết ấy mà chưa nói với ông ta. Ông ta hỏi số lượng. Tôi mang sổ đến! Ông ta nhìn vào, rồi trở nên tử tế, tử tế.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Thứ Tư:
WEIL: “Kiếm được 255 franc (tôi đã lo không được nổi 200…) cho 81 giờ. Suốt đêm không chợp mắt.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Từ hai ghi chép không đề ngày:
WEIL: “Trong mọi hình thức nô lệ khác, sự nô lệ nằm trong hoàn cảnh. Chỉ ở đây nó mới được chuyển vào chính công việc. Những hiệu ứng của sự nô lệ lên tâm hồn.
[…]
Một chủ nhà máy. Tôi có những hưởng thụ đắt đỏ này nọ, còn công nhân của tôi chịu cảnh khốn cùng. Ông ta có thể hết sức chân thành thương hại công nhân mà vẫn không tạo lập tương quan.
Bởi không tương quan nào hình thành nếu suy nghĩ không tạo ra nó.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Simone Weil đã tìm cách tạo lập các tương quan bằng suy nghĩ trong những tác phẩm trực tiếp bàn về tình cảnh công nhân công nghiệp hiện đại, về “hợp lý hóa”, về vấn đề quyền con người; những suy tư ấy được tập hợp và đúc kết trong Khúc đầu cho một tuyên ngôn về bổn phận đối với con người, bản di chúc chính trị của bà.
Chúng ta không thể bàn từng tác phẩm, nhưng sẽ thử tìm ra chủ âm xuyên suốt và trình bày những ý chính của bà. Sự khốn cùng - bắt nguồn từ bất hạnh - hiện ra trong những tác phẩm ấy dưới nhiều hình thức. Simone Weil nhận ra hình thức khốn cùng dễ thấy nhất trong địa hạt xã hội và chính trị, bởi nó chặn đường con người tới tự do. Vậy nên trước hết phải giải quyết hình thức khốn cùng ấy, hướng tới một trật tự xã hội công bằng, một cân bằng xã hội. Chính vì thế bà nói với công nhân, tìm cách làm cho họ hiểu rõ những nguyên nhân của cảnh khốn cùng mà bà nhận ra trong chủ nghĩa Taylor - chính xác hơn, trong hệ thống hợp lý hóa lao động của Taylor, cùng với hệ thống Ford nhằm đạt năng suất cao nhất, đang được áp dụng ít nhiều nhất quán trong các nhà máy hiện đại. Bà hỏi: “Hệ thống dựa trên cơ sở khoa học ấy là gì?”, rồi trả lời:
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Người ta tính thời gian cần để hoàn thành một công việc nhất định rồi lấy đó làm định mức cho công nhân. Bằng tiền thưởng, sự giám sát và việc thẳng tay sa thải ngay những ai không đạt định mức, người ta thúc công nhân đạt năng suất cao nhất. Taylor rất tự hào về hệ thống ấy bởi nó đáp ứng lợi ích của cả giới chủ lẫn công nhân; cả hai đều thu được những lợi ích bên ngoài, và điều không kém phần quan trọng là hàng hóa nhờ đó cũng rẻ hơn cho người tiêu dùng. Ông nghĩ mình đã xóa bỏ mọi xung đột xã hội, tạo ra hòa hợp xã hội. Nhưng, như Simone Weil giải thích, hệ thống ấy chứa hình thức nô lệ hoàn hảo nhất có thể hình dung. Nó đẩy công nhân vào sự cô lập hoàn toàn; trong cuộc cạnh tranh giữa họ, tình liên đới bị phá hủy. Rốt cuộc, phân công lao động biến những con người trong nhà máy thành các nguyên tử rời rạc, tạo ra ở đó một sự đơn điệu không đâu sánh được. Ford nói công nhân không thấy công việc đơn điệu là khó chịu, và ông có lý ở chỗ con người không quen với gì dễ hơn sự đơn điệu. Nhưng chính sự quen ấy đánh dấu khởi đầu của sự tan rã con người về đạo đức.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Sau khi bàn những vấn đề “nội bộ” ấy, trong bài La Condition ouvrière, bà đi tới một vấn đề gắn liền với chúng và bao quát hơn: việc chỉ xử lý các vấn đề sản xuất trong phạm vi quốc gia.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Bà khởi đầu phân tích từ sản phẩm. Chẳng hạn, một sản phẩm là một chiếc ô tô. Một chiếc ô tô có thể là nhiều thứ; trong mắt chúng ta, đó là một phương tiện đi lại hữu ích mà ta không còn hình dung nổi việc thiếu nó. Nhưng ô tô không chỉ có đó để sớm muộn chạy trên đường; chúng còn là một vũ khí thường trực trong cuộc chiến giữa các ngành sản xuất ô tô Pháp, Ý, Đức, vân vân. Dẫu muốn giảm giờ làm trong các nhà máy của một nước vì lợi ích công nhân người ta cũng không thể làm vậy. Bởi sẽ có nguy cơ bị các ngành sản xuất ô tô nước ngoài đẩy khỏi thị trường. Việc điều tiết chỉ có thể thành công trên cơ sở quốc tế với sự hạn chế đồng đều sản xuất. Simone Weil nói rằng khi các nhà thống kê ghi nhận sản xuất lại tăng, rồi lại tăng, điều ấy chẳng hề có nghĩa là tiến bộ; ngược lại, đó là một bước lùi về phía hình thức nô lệ cùng cực và khủng khiếp nhất. Cuộc cạnh tranh cuồng nhiệt ấy biểu hiện rõ nhất trong sản xuất vũ khí, thứ tất nhiên không nước nào chịu hạn chế nếu thiếu sự điều tiết quốc tế. Bởi vậy Simone Weil cũng kịch liệt chống việc áp dụng các kỹ thuật tâm lý - khi ấy còn mới phôi thai - và cho rằng dưới sự chuyên chính của những tính toán ấy, chẳng hạn tính lúc mệt mỏi bắt đầu, lúc chú tâm suy giảm, vân vân, sự nô dịch được đưa tới hoàn hảo. Bởi không nhà kỹ thuật tâm lý nào có thể tính và xác định chính xác một người công nhân cụ thể thấy một khoảng thời gian nhất định dài hay ngắn đến đâu - một người công nhân cụ thể, chứ không phải người công nhân trừu tượng được dựng lên bằng tính toán. Chỉ chính người công nhân ấy mới có thể nói điều đó.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Quả thật, những đòi hỏi của Simone Weil, trong thập niên ba mươi vẫn còn nhiều hy vọng thành hiện thực, ngày nay dường chỉ còn là ảo tưởng, dẫu sức thuyết phục của chúng hầu như chẳng suy giảm. Bà đã viết vào lúc khó lòng đoán được mình đang tỏ ra đúng đến mức nào, nhất là về Hitler:
Nếu thực hành quốc tế ngày càng bị bỏ bê, vẫn có thể có tiến bộ xã hội trong phạm vi một quốc gia. Nhưng tiến bộ ấy sẽ đi cùng một chế độ ngày càng độc tài. Trong các chế độ độc tài, người dân bị ngăn cách hoàn toàn với hàng hóa nước ngoài, với sự tiếp xúc và trao đổi cùng những người ở các nước khác. Khi ấy xuất hiện: việc làm cho tất tật, tiền công cao hơn, và cùng với đó là sự phát triển, mở rộng của một nền công nghiệp vũ khí khổng lồ.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nhưng tất tật những điều ấy vẫn không chạm tới “bất hạnh” của người công nhân. Bà gọi bất hạnh ấy là “bí ẩn”, và tính vào đó cả nỗi bất hạnh của công nhân khi không thể nói rõ về chính bất hạnh của mình. Bởi khi nói, họ dùng những lời lẽ của những người không phải công nhân. Khẩu hiệu của công nhân phần lớn vay từ những người không phải công nhân.
Nhà máy, với bầu không khí được Weil miêu tả theo một cách không thể bắt chước, với nhịp khiến con người chuyển động giữa những cỗ máy đang chuyển động cảm thấy không còn tự định đoạt được thân thể mình, đặt con người ấy, người công nhân ấy, vào sự nô dịch. Trong nhà máy, người công nhân không “làm chủ mình”. Nếu sự đơn điệu bị ngắt quãng, công nhân ngấm ngầm phản kháng. Điều ấy có lý. Nhưng lý do là công việc mới cũng phải làm theo lệnh, hệt công việc cũ. Cả hai đều không có tương quan nội tại nào với người công nhân. Chỉ các mệnh lệnh thay đổi. Nếu trong một phút người công nhân làm mười chi tiết, mười động tác tay, thì chắc chắn phút tiếp theo anh ta lại làm mười chi tiết, mười động tác tay, và cứ thế, cho tới lệnh tiếp theo. Nhưng nỗi đau khổ của anh ta không chỉ nằm trong giờ làm; đường tới nhà máy và đường về nhà, ngày Chủ nhật được nghỉ, cả vài phút rảnh giành được ngay trong giờ làm, chẳng hạn nhờ máy hỏng, đều là “ngẫu nhĩ”. Anh ta sống đời mình trong sự dao động không ngừng giữa đơn điệu và ngẫu nhĩ. Không thể phá vỡ vòng tròn ấy.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Bất hạnh là một bí ẩn, bà không ngừng nhắc lại. Và bà bất ngờ chuyển sang khẳng định: ngay cả khi giờ làm và điều kiện lao động được cải thiện - như phần lớn đã được cải thiện ở nhiều nước ngày nay - bất hạnh vẫn không biến mất. Nó còn lại theo nghĩa nào?
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Theo nghĩa người công nhân không có tương lai; bởi nếu “leo lên” nhờ lao động, anh ta sẽ không còn là công nhân. Tồn tại của anh ta mắc trong một nghịch lý. Một nha sĩ đang chết đói - hay bất kỳ người có nghề nào khác - vẫn là nha sĩ dẫu trở nên giàu có đến đâu. Nhưng một công nhân nắm được một nhà máy thì không còn là công nhân, mà là giám đốc nhà máy.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Điều ấy chẳng thay đổi, dẫu anh ta tự gọi mình là “đồng chí” hay bất cứ gì khác.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Vậy có nhiều hình thức tự do, đáng buồn cũng như có phẩm giá, nhưng chỉ một hình thức nô lệ. Ngoài sự đơn điệu, những gì còn lại cho người bị nô dịch là ham muốn chóng tàn về đổi khác, về khoái lạc, và bên cạnh đó là những cám dỗ: lười biếng, buồn nôn, ghê tởm. Sự dao động giữa ăn và làm, nghỉ rồi lại làm, cái vòng “ăn để có thể làm và làm để có thể ăn” ấy, sự vắng một mục đích, một cứu cánh, là dấu hiệu của tồn tại trần trụi.
Bởi vậy, Simone Weil cho rằng nổi loạn chống bất công xã hội là cần thiết: nhằm hạn chế cái ác, nhằm lập lại phần nào cân bằng. Nhưng hứa với công nhân rằng họ có thể nổi loạn thành công chống lại bất hạnh của mình là nói dối họ.
WEIL: “Những lời dối trá ấy dẫn tới sự lạm dụng những lực tốt nhất của công nhân. Chúng hứa với họ một thiên đường bất khả. Marx nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Không, cách mạng mới là thuốc phiện của nhân dân. Những hy vọng cách mạng có sức kích thích. Mọi hệ thống lấy cứu cánh làm nền đều sai từ gốc.”
NGƯỜI KỂ: Để hiểu bước tiếp theo của Simone Weil, trước hết phải biết quan niệm của bà về thế giới. Ở nơi bà ngỡ tìm thấy lời giải, chúng ta đã bước tới ngưỡng đức tin của bà. Và để có thể theo bà, chúng ta cần nói trước rằng bà tin ở Chúa. Còn hình thức riêng biệt của niềm tin Ki-tô giáo ấy, thứ “Công giáo” mấp mé dị giáo của bà, từ chối gia nhập Giáo hội vì Giáo hội không thực sự “công giáo”, không “phổ quát”, chúng ta sẽ bàn sau. Vậy, bà nhìn bất hạnh không thể thoát của người công nhân, bất hạnh thuộc yếu tính của anh ta, như một đặc ân riêng. Bởi một người không thể hướng ham muốn tới các mục đích, tới những gì có thể có hoặc sẽ có, chỉ có thể hướng ham muốn tới cái đang có.
WEIL: “Đó là cái đẹp. Mọi thứ đẹp đều là đối tượng của ham muốn, nhưng ta không muốn nó khác đi, không muốn thay đổi gì ở nó; ta muốn nó đúng như nó đang là… Điều ta muốn chính là… cái ta đã có. Bởi nhân dân buộc phải hướng toàn bộ ham muốn tới cái mình đã có, cái đẹp được làm ra cho nhân dân và nhân dân được làm ra cho cái đẹp… Nhân dân cần thơ như cần bánh mì. Không phải thơ bị nhốt trong các từ. Họ cần chính chất liệu đời sống hằng ngày của mình là thơ. Thứ thơ ấy chỉ có thể có một nguồn. Nguồn ấy là Chúa. Thứ thơ ấy không thể là gì khác ngoài tôn giáo.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Qua đó, Simone Weil muốn nói rằng bất hạnh căn bản của người công nhân tạo ra một sự rỗng giữa con người và Chúa. Một người không bị ham muốn nào, mục đích nào che khuất cái nhìn chỉ cần ngẩng đầu nhìn lên là nhận ra chẳng có gì ngăn cách mình với Chúa. Khó khăn chỉ nằm ở chỗ làm sao để người ấy ngẩng đầu.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Nhưng từ đó suy ra rằng bà muốn biện minh cho bất hạnh xã hội, cho những bất công ấy, thì sai. Trước đây chúng ta đã nói bà tham gia những cuộc nổi loạn chống bất công xã hội; và bà đã thực sự làm vậy khi ủng hộ cuộc đình công của công nhân luyện kim Pháp năm [1936], đón chào nó bằng những lời đầy nhiệt thành. Với bà, chỉ bất hạnh thuộc yếu tính con người là không thể loại bỏ; còn phần đi kèm, bất hạnh ngẫu nhĩ tước mất sức ngẩng đầu của con người, thì có thể. Về sau, bà diễn đạt nguyên tắc ấy như sau:
WEIL: “Phải loại bỏ bất hạnh khỏi đời sống xã hội hết mức có thể, bởi bất hạnh chỉ phụng sự ân sủng, và xã hội chúng ta không phải một xã hội của những người được chọn. Bao giờ cũng sẽ đủ bất hạnh cho những người được chọn.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Việc bà không lậm chút ủy mị nào, ngay cả khi đứng về phía những người bị áp bức một cách vô điều kiện, và nhìn cuộc tranh đấu của mình cùng những người cùng tranh đấu, có thể nói, sub specie æternitatis [dưới góc nhìn vĩnh cửu], thể hiện ở một điều thoạt nghe hẳn khiến ta thấy rất khó chấp nhận: bà coi toàn bộ địa hạt xã hội và chính trị là thuộc về “cái ác”.
WEIL: “Cái thiện không đi vào địa hạt xã hội… Cái xã hội là địa hạt không thể quy giản của ông hoàng thế gian này. Đối với cái xã hội, chỉ có một bổn phận: cố hạn chế cái ác.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Bởi:
WEIL: “Chính cái xã hội phủ lên cái tương đối màu của cái tuyệt đối. Phương thuốc nằm trong ý về tương quan. Tương quan bật mạnh ra khỏi cái xã hội.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nhưng với bước ấy, chúng ta đã tới một chặng mới trên con đường của bà. Các chặng đường tất nhiên đan xen - dẫu tư tưởng tôn giáo của bà chỉ kết tinh vào những năm cuối đời, và dẫu các vấn đề xã hội, chính trị của thập niên ba mươi vẫn là mảnh đất bà cắm rễ, còn chất liệu của thời ấy [hướng] tới sự phi vật chất hóa […].
Tình yêu Chúa và con đường tới Chúa của Simone Weil mang một tính cách riêng. Bà là người đi một mình. Bởi vậy, chúng ta cũng chưa từng nghĩ tới việc đặt bà trong tương quan với những tinh thần Ki-tô giáo khác ở Pháp cùng thời; và có lẽ cũng không phải ngẫu nhiên mà bà chẳng bao giờ nhắc tên Péguy, Bernanos hay Bloy. Bà không biết họ, bỏ qua họ hay chủ ý giữ khoảng cách với họ, điều ấy còn là một câu hỏi. Mối liên hệ của bà với văn chương và triết học thế kỷ hai mươi dường rất mỏng. Bà có một lần nhắc tới Di chúc Tây Ban Nha của Arthur Koestler, có lẽ cuốn sách đã khiến bà xúc động vì cuộc chiến Tây Ban Nha. Rồi Proust, Valéry, Joseph Conrad, những người bà quý trọng, mỗi người được nhắc tới một lần. Những gì thực sự thu hút bà lại thuộc một dạng khác hẳn, ngoài các lý thuyết xã hội định hình cái nhìn xã hội và chính trị của bà. Đó là văn chương Hy Lạp, trước hết là Iliad; triết học Hy Lạp, trước hết là Plato, cùng những người thuộc phái Pythagoras. Bà dịch từ tiếng Hy Lạp, diễn giải các văn bản, bởi cho rằng yếu tính của chúng là những “trực giác tiền Ki-tô giáo”. Tất nhiên, câu hỏi vẫn còn đó: các quan niệm Hy Lạp về Chúa và sự biết Chúa có thực sự đi trước những quan niệm Ki-tô giáo, hay chỉ về sau mới hiện ra như những báo trước, khi đã được hấp thu hoặc đồng hóa vào các quan niệm ấy? Trong việc đọc các văn bản - văn bản Hy Lạp, tác phẩm của những nhà huyền nhiệm, Upanishad, Bhagavad Gita, Shakespeare hay Racine - Simone Weil nghiêng về một tình yêu và lòng ngưỡng phục cháy bỏng; còn ở phía kia, bà chỉ biết cự tuyệt không khoan nhượng: phần lớn Cựu Ước, Aristotle và văn chương La Mã khiến bà ghê tởm; nơi nào không thể yêu, bà phải gạt bỏ. Với bà, chỉ những gì đã nhận được “mặc khải” mới có giá trị, hay đúng hơn, những gì bà có thể nhìn thấy mặc khải ở đó. Những phê phán của bà thường có vẻ ngạo mạn, khó ai có thể đồng tình với bà về mọi điều; dễ hơn là cùng bà ngưỡng mộ phần lớn những gì bà thấy đáng ngưỡng mộ. Bởi trong một số bài viết, bà biết cách truyền tới người đọc vẻ đẹp của những văn bản cổ theo một lối mới và đầy sức cuốn hút.
Bởi thế, những lời T. S. Eliot dành cho bà và tác phẩm của bà, khi khuyên người đọc kiên nhẫn tìm hiểu Weil, vừa có sức xoa dịu vừa đầy thấu hiểu:
ELIOT: “Hẳn bà có thể bất công và thiếu chừng mực; hẳn bà đã có những lầm lạc và phóng đại đáng kinh ngạc. Nhưng những khẳng quyết quá mức thử thách lòng kiên nhẫn của người đọc ấy không bắt nguồn từ khiếm khuyết của trí tuệ, mà từ sự quá độ của khí chất… Còn tinh thần bà, nó xứng với tâm hồn đã dụng nó. Nhưng trí tuệ, nhất là khi dồn vào những vấn đề từng giày vò Simone Weil, chỉ có thể chín muồi chậm chạp; và ta không được quên rằng Simone Weil mất năm ba mươi ba tuổi. […] Bà có một tâm hồn rất lớn mà phải lớn lên cho xứng…”
NGƯỜI KỂ: Bởi vậy, chúng ta cũng sẽ tránh xét quá kỹ những ý kiến của bà về điều này hay điều khác - không phải vì chúng không đáng được chú tâm như thế, mà bởi chúng ta muốn dõi theo con đường của bà: dẫu không ngừng đưa bà tiếp xúc với các nền văn chương và triết học, nó vẫn là con đường riêng của bà.
Ngày nay người ta nói nhiều đến “hành hương tới cái tuyệt đối”. Nhưng, nói giản dị, Simone Weil không hành hương. Con đường của bà là một via negativa, một con đường đi xa Chúa, nhằm tăng khoảng cách giữa bà và Chúa. Và khoảng cách vô tận mà sự chấp nhận “bất hạnh” cùng cực đưa bà tới phải cho phép bà không còn đứng trước Chúa như một cá nhân, một nhân cách, hoài nghi hay tin tưởng, mà kinh nghiệm ân sủng như một tồn tại đã bị xóa đi và trần trụi. Như vậy, dưới tay chúng ta, tác phẩm đa diện, đa tầng của bà trở thành chứng tích của huyền nhiệm thuần túy, có lẽ là chứng tích duy nhất như thế chúng ta nhận được kể từ thời Trung cổ. Có lẽ phải nhìn những gì bà viết dưới góc độ ấy, góc độ một cảm hứng không thể thấu hiểu, mới có thể đối xử công bằng với chúng.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Những gì Simone Weil viết không chứa một hệ thống, chẳng hạn một hệ thống triết học. Ở những chỗ hé lộ mầm mống của một hệ thống, chúng thậm chí yếu; chúng mạnh ở rapport - một từ khó dịch sang tiếng Đức, có nghĩa là đặt vào tương quan. Tương quan ấy được thiết lập giữa lý trí của bà và Chúa vắng mặt, bởi trong tất cả những gì chúng ta nghĩ, học và kinh qua, chẳng đâu có Chúa.
WEIL: “Chúa chỉ có thể hiện diện trong sáng tạo dưới hình thức của sự vắng.”
“Phải đặt Chúa ở một khoảng cách vô tận để quan niệm Người vô can với cái ác; ngược lại, cái ác chỉ ra rằng phải đặt Chúa ở một khoảng cách vô tận.”
“Thế giới này, trong chừng mực hoàn toàn rỗng Chúa, là chính Chúa.”
“Phải ở trong một hoang mạc. Bởi người phải yêu thì vắng mặt.”
“Không gì tồn tại đáng được yêu vô điều kiện. Vậy phải yêu cái không tồn tại.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Chỉ mấy câu ấy của Simone Weil đã chỉ ra điểm không mà bà kiên trì ở lại. Nhưng bà ở lại đó trong hành động và suy nghĩ. Chú tâm, thực hiện “bổn phận nghiêm ngặt của con người”, làm điều có thể làm, nhọc nhằn hướng vào sự rỗng, nỗ lực hạn chế cái ác - đó là những điều kiện thực hành và tinh thần để tiếp xúc với “thực tại tâm linh”. Bởi, như bà nói:
WEIL: “Một người hoàn toàn tê liệt không có cảm năng.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nhưng phải dứt khoát từ bỏ mọi thứ dùng ảo tưởng đưa ta xa điểm không ấy: tìm kiếm an ủi, hy vọng, phương thuốc chữa đau khổ; mọi cách dùng trí tưởng tượng xua đi sự rỗng.
WEIL: “Trí tưởng tượng không ngừng tìm cách bịt kín mọi khe hở mà ân sủng có thể lọt qua.”
“Trí tưởng tượng, khi làm đầy sự rỗng, về bản chất là dối trá.”
“Quá khứ và tương lai cản trở hiệu ứng cứu rỗi của bất hạnh, mở ra một khoảng vô hạn cho những bay bổng tưởng tượng. Bởi vậy, trước hết phải từ bỏ quá khứ và tương lai.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Bà cũng nghĩ đến cùng, với một sự nhất quán đáng sợ, những quan niệm cốt yếu của Ki-tô giáo vốn đem lại an ủi cho tín hữu. Bà suy ra: lòng thương xót của Chúa nằm ở sự hoàn toàn vắng lòng thương xót ấy trên mặt đất. Còn niềm tin vào sự bất tử như một kéo dài của cuộc sống chỉ ngăn người ta sử dụng cái chết cho đúng. Vì Chúa, phải tự cấm mình tin như thế, bởi chúng ta không thể hình dung tâm hồn tách khỏi thân thể.
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Nhưng bà nghĩ như vậy bởi trên hết bà muốn tránh một điều: tạo ra một Chúa tưởng tượng, một “Con Thú Lớn” mới - từ này lấy từ Cộng hòa của Platon - đến nhập bọn với những “Con Thú Lớn” khác. Bà xếp vào hàng những Con Thú Lớn tất cả những gì đang và từng thực thi quyền lực.
WEIL: “La Mã: Con Thú Lớn vô thần, duy vật, chỉ thờ phụng chính mình. Israel: Con Thú Lớn tôn giáo. Cả hai đều không đáng yêu. Con Thú Lớn bao giờ cũng đáng ghê tởm.”
“Trong chừng mực là đúng, chủ nghĩa Marx đã nằm trọn trong đoạn Platon viết về Con Thú Lớn; sự bác bỏ nó cũng nằm ngay ở đó.”
“Phụng sự Chúa giả… thanh tẩy cái ác bằng cách loại bỏ nỗi kinh hoàng trước nó. Với kẻ phụng sự, chẳng gì có vẻ là ác, ngoài những thiếu sót trong việc phụng sự. Nhưng phụng sự Chúa thật giữ nguyên, thậm chí làm tăng nỗi kinh hoàng trước cái ác.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Từ đó có thể hiểu vì sao những phê phán gay gắt nhất của Simone Weil đối với mọi chủ nghĩa toàn trị lại gắn trực tiếp với tình yêu Chúa của bà. Nhưng chúng ta muốn tách ra một điểm để làm rõ thái độ của bà đối với Giáo hội Công giáo. Khi nói về những Con Thú Lớn, từ Allah tới chủ nghĩa Marx, từ Đế quốc La Mã tới Hitler, bà cũng đồng thời bác bỏ Chúa của Cựu Ước. Thế nhưng sứ mệnh thần thánh của Israel là nền tảng của Tân Ước, và do đó của Giáo hội Ki-tô. Eliot cho rằng việc bác bỏ Israel đã ngăn bà trở thành một tín hữu Ki-tô chính thống; những khó khăn nảy sinh từ đó khiến bà không thể cải đạo. Có thể đúng như vậy; dù sao, điều chắc chắn là bà không muốn cải đạo.
Bà trình bày những lý do ấy trong thư gửi linh mục Perrin thuộc dòng Đa Minh, những trang riêng tư và nồng ấm nhất bà từng viết. Đây là một người lần đầu tiên hiểu bà, không lắc đầu trước bà. Sự cộc cằn của bà biến đổi […].
WEIL: “Luôn sẵn sàng thừa nhận rằng một người khác là một cái gì khác với những gì ta đọc ở người ấy khi người ấy hiện diện (hoặc khi ta nghĩ đến người ấy). Hay đúng hơn, đọc ở người ấy rằng người ấy chắc chắn là một cái gì khác, có lẽ hoàn toàn khác với những gì ta đọc ở đó.
Mỗi sinh thể là một tiếng kêu câm đòi được đọc khác đi.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Những lá thư gửi Perrin được viết năm 1942, trước khi bà rời châu Âu, một năm trước khi bà mất. Trong đó, bà giải thích vì sao mình không thể gia nhập Giáo hội.
WEIL: “Ki-tô giáo phải bao chứa mọi thiên hướng, không trừ một thiên hướng nào, bởi nó mang tính phổ quát. Giáo hội cũng phải như vậy. Nhưng trong mắt tôi, Ki-tô giáo phổ quát về nguyên tắc, chưa phải trên thực tế. Biết bao điều nằm ngoài nó, biết bao điều tôi yêu và không muốn từ bỏ, biết bao điều Chúa yêu, bởi nếu không, chúng đã chẳng tồn tại. Toàn bộ khoảng mênh mông của những thế kỷ đã qua, trừ hai mươi thế kỷ gần nhất; mọi xứ sở có người da màu sinh sống; toàn bộ đời sống thế tục tại các xứ sở của người da trắng; trong lịch sử những xứ sở ấy, mọi truyền thống bị kết tội dị giáo, như truyền thống Mani và Albigeois; tất cả những gì nảy sinh từ Phục hưng, quá thường xuyên bị hạ thấp, nhưng chưa hoàn toàn mất giá trị.
Vì Ki-tô giáo phổ quát về nguyên tắc, chưa phải trên thực tế, tôi thấy mình có quyền là thành viên Giáo hội về nguyên tắc mà không phải trên thực tế…”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Bà nói đến sự cần thiết của Giáo hội với tư cách tập thể gìn giữ tín điều, nhưng cho rằng Giáo hội lạm quyền khi áp đặt ngôn ngữ của mình làm chuẩn mực cho lý trí và tình yêu của chúng ta.
WEIL: “Sự lạm quyền ấy không đến từ Chúa. Nó bắt nguồn từ khuynh hướng tự nhiên của mọi tập thể, không trừ tập thể nào, là lạm dụng quyền lực của mình.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Ở một đoạn khác, bà viết tiếp:
WEIL: “Để thái độ hiện nay của Giáo hội có hiệu lực và thực sự thâm nhập đời sống xã hội, Giáo hội phải công khai nói rằng mình đã thay đổi hoặc muốn thay đổi. Nếu không, ai còn có thể coi trọng Giáo hội khi nhớ tới Tòa án Dị giáo? Xin cha thứ lỗi vì tôi nhắc tới Tòa án Dị giáo; tình bạn của tôi với cha, qua cha mà mở rộng tới cả dòng của cha, khiến việc gợi lại thiết chế ấy ở đây hết sức đau đớn đối với tôi. Nhưng nó đã tồn tại. Sau sự sụp đổ của Đế quốc La Mã, một đế quốc toàn trị, chính Giáo hội đã lần đầu thiết lập ở châu Âu, vào thế kỷ XIII, sau cuộc chiến chống người Albigeois, một phác thảo của chủ nghĩa toàn trị. Cây ấy đã sinh nhiều quả… Vả lại, chính bằng một sự chuyển dụng khéo léo lối thực hành ấy mà tất cả các đảng từng lập nên những chế độ toàn trị thời chúng ta đã được rèn đúc. Đây là một điểm lịch sử tôi đã đặc biệt nghiên cứu.”
NGƯỜI NÓI THỨ NHẤT: Nhưng sau khi nói đến sự phê phán ấy đối với Giáo hội, đối với phần thuộc địa hạt xã hội và chính trị của Giáo hội, sẽ là bất công nếu không làm rõ lòng kính ngưỡng sâu xa của bà đối với Ki-tô giáo. Với bà, Đức Ki-tô là mẫu mực của công chính bởi Người đã trần trụi và chết. Việc Người chữa bệnh, làm người chết sống lại, đối với bà, dường là phần nhỏ nhất trong sứ mệnh của Người, phần thuộc về con người; còn phần siêu nhiên là nỗi mong mỏi những an ủi của con người không được đáp ứng, là cảm giác bị Chúa bỏ rơi. Qua cảm giác ấy, ta có thể mong được giống Chúa, không phải Chúa toàn năng, mà là Chúa chịu đóng đinh, Đấng mà đối với Người, Chúa cũng vắng mặt.
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Nhưng trong tất cả những suy nghĩ mà bà nhiều lần tha thiết giãi bày với Perrin, câu hỏi phải làm gì “bây giờ” luôn trở lại. Ở một đoạn, bà nhắc đến một người cùng thời - Maritain - và tiếp nối lời kêu gọi của ông về một kiểu thánh thiện mới. Tuy nhiên, theo bà, Maritain mới chỉ bằng lòng liệt kê những mặt của sự thánh thiện trước kia nay đã lỗi thời, ít nhất trong một thời gian.
WEIL: “Thế giới cần những vị thánh có thiên tài như một thành phố có dịch hạch cần thầy thuốc.”
NGƯỜI NÓI THỨ HAI: Và bà hy vọng rằng ở đâu có nhu cầu, ở đó cũng sẽ nảy sinh ý thức về bổn phận.
NGƯỜI KỂ: Hẳn không cần nói rằng việc trình bày một tác phẩm phức tạp cùng nhiều chủ đề được bàn đến trong đó - lại thiếu một liên hệ có tính hệ thống - và một cuộc đời gắn bó mật thiết với tác phẩm ấy, phải giới hạn vào vài nét cốt yếu có thể nhận ra. Nhưng nếu đã phần nào soi sáng được hiện tượng Simone Weil, thì vẫn còn một điều phải làm: một sự minh giải theo đúng nghĩa của từ này.
Người đầu tiên biên tập tác phẩm của bà - Gustave Thibon, người cũng từng quen biết bà - đã phần nào đưa ra sự minh giải ấy khi bày tỏ một nỗi lo dễ hiểu: sau khi xuất bản, những gì bà viết sẽ bị diễn giải theo thời sự chính trị; có lẽ ông chủ yếu muốn nói đến những sự xuyên tạc theo lập trường đảng phái.
THIBON: “Không nhóm xã hội hay thế giới quan nào có quyền nhận bà về mình. Tình yêu nhân dân và lòng căm ghét mọi áp bức của bà không đủ để nhận bà về các đảng cánh tả; cũng vậy, việc bà phủ nhận tiến bộ và tôn sùng truyền thống không cho phép xếp bà vào cánh hữu. Mỗi lần dấn thân chính trị, bà đều mang cùng niềm say mê như trong mọi việc mình làm; tuy nhiên, bà luôn ở rất xa mọi sự thần thánh hóa một ý, một dân tộc hay một giai cấp…”
NGƯỜI KỂ: Điều ấy đúng, nhưng để chính xác, cần thêm rằng ngay cả Giáo hội cũng không thể nhận bà về mình. Ở đâu bà cũng đứng lại nơi ngưỡng cửa, nhất quán đến cùng.
Tuy nhiên, vẫn cần diễn giải tác phẩm Simone Weil theo tính thời sự đích thực, bao hàm mọi thời sự. Tác phẩm ấy có thể góp phần phá vỡ các tương quan, nhận ra “Con Thú Lớn” dưới mọi hình thức nó xuất hiện. Ai nhận ra nó sẽ không còn phụng sự nó, mà dốc sức hạn chế cái ác nó sinh ra. Đấu tranh để hạn chế cái ác khi ấy trở thành một bổn phận đích thực đối với xã hội. Với Simone Weil, đó là bổn phận phải thực hiện “trong mọi hoàn cảnh”, nếu tình yêu người bên cạnh không muốn chỉ là lời suông. Tình yêu ấy phổ quát, yêu con người cần được giúp đỡ mà không cần biết tên người ấy. Vì vậy, chẳng hạn, bà từng muốn sang Nga khi quân Đức đã tiến sâu vào nước này, dẫu bà coi nhà nước Xô-viết là một cái ác, một biến thể của chủ nghĩa Marx, của “Con Thú Lớn”. Khi không thể thực hiện mong muốn ấy, bà vẫn còn đủ thời gian để chứng tỏ tình yêu người bên cạnh của mình. Nỗi đau trước việc người Do Thái bị bức hại và tiêu diệt ở Đức, trước cảnh khốn cùng của nước Pháp bị chiếm đóng đã hủy hoại bà về tinh thần; công việc bà làm nhằm xoa dịu nỗi đau của người khác đã hủy hoại bà về thể chất.
Đức tin của bà vào Chúa, đôi khi dường như bất khả trước nỗi kinh hoàng ngày một lớn, đã không bị hủy hoại. Tương quan bà thiết lập với cái tuyệt đối đã nâng đỡ bà. Nó khiến bà có thể yêu trong “thế giới tồi tệ nhất trong mọi thế giới khả dĩ”, bởi nó phủ nhận sự hiện diện của Chúa trong thế giới ấy.
Chúng ta không thể lấy làm của mình bất cứ điều gì trong việc đặt mình vào tương quan huyền nhiệm ấy với cái tuyệt đối. Sẽ là phi lý nếu khẳng định rằng ta có thể dự phần vào đó, sử dụng nó như một tri thức. Theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, phần này trong con đường Simone Weil là không thể đi theo. Nó xưa nay chỉ dành cho một số ít, và cũng chỉ một số ít tiếp tục đi trên đó, theo những cách khác nhau. Người ta đã luôn luôn đi trên đó theo những cách khác nhau, và sẽ luôn luôn như vậy.
Nhưng từ đó, nếu chúng ta có khả năng đón nhận, vẻ đẹp vốn có trong tất tật những gì được nghĩ và sống một cách thuần khiết sẽ đến với chúng ta. Được vẻ đẹp ấy soi sáng, hết lần này đến lần khác, ta thoáng thấy điều bóng tối che khuất: gương mặt không thể hủy diệt của con người cá nhân trong một thế giới đang mưu toan hủy diệt người ấy.
WEIL: “Sau một năm làm việc trong nhà máy, trước khi trở lại dạy học, cha mẹ đưa tôi sang Bồ Đào Nha; ở đó tôi đi khỏi họ, đến sống một mình trong một ngôi làng nhỏ. Thân thể và tâm hồn tôi như đã vỡ thành từng mảnh. Sự tiếp xúc ấy với bất hạnh đã giết chết tuổi trẻ của tôi. Cho đến lúc ấy, tôi chưa kinh nghiệm bất hạnh nào ngoài bất hạnh của chính mình, vốn có vẻ chẳng mấy quan trọng đối với tôi bởi đó là bất hạnh của tôi, và vả lại chỉ là một nửa bất hạnh, bởi nó thuộc về sinh học chứ không phải xã hội. Tôi biết rõ thế giới có rất nhiều bất hạnh; nó ám ảnh tôi, nhưng tôi chưa từng tiếp xúc lâu dài để thực sự thấy nó. Trong nhà máy, hòa lẫn vào đám đông vô danh trong mắt mọi người lẫn chính mình, bất hạnh của những người khác đã thấm vào da thịt và tâm hồn tôi. Không gì ngăn cách tôi với nó, bởi tôi đã thực sự quên quá khứ của mình và không chờ đợi gì ở tương lai, khó lòng hình dung mình có thể sống sót qua những mệt nhọc ấy. Những gì tôi chịu đựng ở đó đã khắc dấu lên tôi… không thể xóa… Ở đó tôi nhận dấu sắt nung đỏ mà người La Mã đóng lên trán những nô lệ bị khinh miệt nhất của họ. Từ đó, tôi luôn luôn coi mình là một nô lệ.”
Thanh Nghi dịch
Chú thích:
[1] Simone Weil sinh ngày 3 tháng Hai năm 1909, mất ngày 24 tháng Tám năm 1943, tức đã hơn ba mươi tư tuổi. Chi tiết “chưa đầy ba mươi tư tuổi” được giữ theo văn bản.
Ingeborg Bachmann viết radio-essay: phần 1
