Czesław Miłosz: Khuôn mẫu của Conrad
Văn Bản đã có hai người Anh (Naipaul, Russell), một người Pháp (Gide), một người Đức (Mann) nhìn về Conrad. Vậy một người Ba Lan sẽ nhìn Conrad thế nào?
Đầu tiên, phải nói lịch sử tiếp nhận Joseph Conrad tại Ba Lan là một hành trình đầy thất thường, phản ánh sâu sắc những thăng trầm chính trị bên ngoài và sự tự vấn về bản sắc dân tộc bên trong. Thời kỳ đầu, đánh dấu bằng bản dịch tiên khởi Wyrzutek (An Outcast of the Islands) xuất hiện năm 1897 trên tập san Tygodnik romansów i powieści cho đến lúc Conrad hồi hương và có cuộc phỏng vấn với nhà báo vào năm 1914 với Marian Dąbrowski, sự hiện diện của ông gây ra những tranh cãi gay gắt giữa một bên là cáo buộc “phản bội” quốc gia của Eliza Orzeszkowa và một bên là sự thấu hiểu về nỗi buồn mang tính bi kịch Ba Lan mà những nhà phê bình như Waliszewski, Gomulicki ra sức truy tầm trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là Lord Jim, để chiêu tuyết. Giai đoạn giữa hai thế chiến, dù được đưa vào chương trình học nhưng sức hút của ông suy giảm do khó đọc và bối cảnh kinh tế, đồng thời tình thế treo căng giữa các luồng tư tưởng cực hữu và cực tả. Thế chiến thứ hai đánh dấu bước ngoặt khi Conrad trở thành người hướng dẫn tinh thần và biểu tượng của lòng can đảm cho quân kháng chiến, đặc biệt là trong Khởi nghĩa Warsaw. Dưới thời kỳ Cộng sản, tác phẩm của ông bị coi là vũ khí nguy hiểm và chịu sự kiểm duyệt gắt gao, và bị giới Mác-xít dựa vào luận điệu “thứ văn chương tư bản” để lên án, hủy bỏ và cho vào danh sách đen, nhưng vẫn được các trí thức tiến bộ bảo vệ như một giá trị nhân văn cốt lõi. Sau năm 1989, dù vị thế học thuật vẫn vững chắc và sự kiểm duyệt bị xóa bỏ, Conrad lại đối mặt với sự thờ ơ từ công chúng do thay đổi thị hiếu thị trường. Dẫu vậy, ông vẫn là một không thể thay thế, luôn được tái khám phá thông qua những chẩn đoán chính xác về chính trị và đạo đức trong dòng chảy văn hóa Ba Lan.
Năm 1957, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Conrad, Czesław Miłosz đã viết bài tri ân cho người đồng hương tha hương này bằng sự đồng cảm của hai người có chung xuất thân và sự ngưỡng mộ đối với cách Conrad đã chinh phục độc giả tiếng Anh, đặt dưới nhan đề “Stereotyp u Conrada” (Khuôn mẫu của Conrad). Đây là một trong các nhận xét trung lập hiếm hoi đến từ một đồng nghiệp và đồng hương Ba Lan của ông, cung cấp cho ta một thái độ rất khác lạ so với các nhà văn-học giả châu Âu (chính Miłosz cũng đề cập đến sự khác biệt này). Chúng ta cũng được Miłosz cho biết tuổi thơ khốn khó, nhiều mất mát của Conrad khi theo cha đi đày ở chốn thâm sơn cùng cốc, cũng như tình cảm cảm động, giàu sức ảnh hưởng của người cha văn nhân yêu nước mà túng bấn và đứa con.
Dù sống cách nhau một thế hệ, cả hai đều chia sẻ thân phận của những trí thức bị bứng rễ, mang trong mình di sản của vùng Biên Đông thuộc Liên bang Ba Lan-Litva cũ. Miłosz đã khắc họa hình ảnh cậu bé Conrad vừa lớn lên trên không khí chia cắt, mất mát đại đồng của dân tộc (được người cha dung dưỡng) và thái độ thờ ơ, ngang tàng và cực kỳ hoài nghi đối với cái gọi là sự nghiệp Ba Lan (được người cha làm minh họa sống động). Miłosz nhận diện ở Conrad một khuôn mẫu nhạy cảm chính trị đặc thù: sự cảnh giác sâu sắc trước chủ nghĩa chuyên chế Nga và niềm tin mãnh liệt vào văn minh Tây Âu như một thành trì của các nguyên tắc đạo đức. Tình cảm của Miłosz dành cho người đồng hương tha hương hiện rõ qua sự trân trọng đối với bản lĩnh nghệ thuật của Conrad. Ông ngưỡng mộ cách Conrad chuyển hóa các kinh nghiệm lịch sử riêng biệt của người Ba Lan thành những giá trị nghệ thuật phổ quát, chinh phục độc giả Anh ngữ mà không hề phản bội truyền thống của cố hương. Với Miłosz, Conrad không chỉ là một nhà văn vĩ đại, mà còn là minh chứng cho sự tồn tại bền bỉ của bản sắc Ba Lan giữa lòng thế giới phương Tây.
Tác phẩm của một nhà văn có thể ví như một tảng băng trôi. Phần nổi lên trên mặt nước mời gọi chúng ta khám phá phần lớn hơn còn khuất lấp, ẩn giấu bên dưới bề mặt của con chữ. Đối với nhà nghiên cứu lịch sử văn học, sự mời gọi ấy là một nghĩa vụ, bởi anh ta phải truy tầm sự kiện và biến cố nào trong cuộc đời đã định hình nên cảm quan và quyết định lựa chọn mục đích sống của tác giả. Trong trường hợp tác giả ấy xuất thân từ một đất nước mà sự hiểu biết về nó chỉ mơ hồ hoặc không đầy đủ, sự truy tầm trên khó suôn sẻ. Đây chính là trường hợp của Joseph Conrad, người sinh ra tại vùng Ukraine thuộc Ba Lan cách đây một trăm năm. Những yếu tố trong tính cách ông có vẻ kỳ lạ hay bí ẩn trong mắt độc giả Anglo-Saxon nhưng lại hiện ra khá khác biệt khi được nhìn bởi một người đồng hương, người quen thuộc hơn với lịch sử những năm tháng thanh xuân của ông, trước khi ông rời bỏ cuộc sống nơi quốc gia nội lục để đến với đời sống ngoài biển khơi.
Các tiểu sử về Conrad thường bắt đầu bằng việc khẳng định ông xuất thân từ một gia đình quý tộc. Điều này gợi lên hình ảnh một dinh thự đồng quê, ngựa, chó và một phong cách quý tộc nào đó. Thực tế lại khác, dù ông nội của ông, một sĩ quan trong quân đội Napoléon và là một trưởng tộc mang nặng tư tưởng cũ, ăn khớp hoàn toàn với hình mẫu truyền thống của tầng lớp quý tộc. Tuy nhiên, chi tiết có liên quan hơn đến lịch sử cá nhân của Conrad là việc cha ông, Apollo Korzeniowski, là một nhà thơ bần cùng. Ông có một vị trí trong lịch sử văn học Ba Lan, một số vở kịch thơ của ông vẫn được diễn ở Ba Lan, thậm chí còn được các nhà phê bình Mác-xít ưa chuộng vì những lời chỉ trích dữ dội nhắm vào các giai cấp hữu sản. Hơn nữa, ông bác bên mẹ Conrad, Tadeusz Bobrowski [ND: người sau này sẽ giám hộ đứa cháu cho đến khi chàng thanh niên Conrad quyết định trở thành thuỷ thủ, một quyết định ông không mấy đồng thuận], cũng là một văn nhân, tác giả của một trong những cuốn hồi ký thú vị nhất thế kỷ 19. Vì vậy, môi trường nơi người sẽ trở thành một trong các tiểu gia xuất sắc nhất của nước Anh lớn lên chính là một môi trường văn chương.
Năm 1857, Apollo Korzeniowski đã đặt cho đứa con mới chào đời các tên Thánh là Józef Teodor Konrad. Trong đó, người Ba Lan nào cũng biết rất rõ cái tên cuối cùng có ý nghĩa biểu tượng như thế nào. Đối với dân Ba Lan, cái tên Konrad tượng trưng cho người chiến sĩ và kẻ chống Nga. Để hiểu nguồn gốc của nó, cần phải quay lại với thơ của Adam Mickiewicz; thơ của ông dân chúng Ba Lan ai cũng thuộc lòng. Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông có tên là Konrad Wallenrod. Ở đây, lòng yêu nước Ba Lan và thái độ bài Nga của nhà thơ (ông bị trục xuất sang Nga năm 1824 vì bị nghi ngờ có "hoạt động cách mạng") được che đậy không mấy kín kẽ để né tránh sự kiểm duyệt của Sa hoàng, dưới vỏ bọc của một sử thi gợi nhớ về những ngày chiến tranh thời Trung cổ giữa Dòng Teuton của Đức và người Litva ngoại giáo. Konrad, một người ngoại giáo cải sang Cơ đốc giáo và trở thành Thủ lĩnh Dòng tu, cố ý dẫn quân đội của Dòng vào một cái bẫy để trả thù cho những đau khổ của dân tộc mình. Ông giành được sự báo thù thông qua sự trở mặt ghê gớm, vũ khí của kẻ bị áp bức.
Như vậy, ngay từ khi cha sinh mẹ đẻ, Joseph Conrad đã mang một cái tên thấm đẫm truyền thống Ba Lan. Khi ký cuốn sách đầu tiên của mình bằng cái tên “Conrad”, bỏ đi họ Korzeniowski vì cho là quá khó đối với công chúng Anglo-Saxon, ông hoàn toàn ý thức được ý nghĩa kép của nó.
Conrad sinh ra chỉ một năm sau khi Chiến tranh Crimea kết thúc, cuộc chiến đã rung chuyển Đế quốc Nga tận gốc rễ và khơi dậy hy vọng của người Ba Lan rằng sự giải phóng khỏi ách thống trị của Sa hoàng đã gần kề. Không bằng lòng với thơ ca, cha ông trở thành một nhà hoạt động bí mật, và đến năm 1861, ông đã trở thành một thành viên chính thức của một ủy ban cách mạng bí mật ở Warsaw.
Việc ông bố bị bắt vào năm đó là một sự kiện kịch tính có tác động then chốt đến sự phát triển của cậu bé Konrad. Ở khoảng từ năm đến mười tuổi, độ tuổi nhạy cảm khi cá tính của một người bắt đầu hình thành, cậu nhìn nhận mình như đứa con của những tù nhân chính trị. Cha ông thoạt tiên bị giam vài tháng trong Thành cổ Warsaw, nơi cảnh sát Sa hoàng cố gắng ép ông khai ra tên của những đồng chí đồng mưu. Không thành công, họ đưa ông đi phát vãng đến miền Bắc nước Nga. Cùng ông trong cuộc đày còn có vợ và cậu bé Konrad nhỏ tuổi đi theo. Cuộc hành trình về phía Đông trên một chiếc xe ngựa kéo dưới sự canh gác vũ trang vừa dài vừa đau đớn, và cậu bé đã ngã bệnh nặng khi họ đến gần Moscow.
Conrad, như đã biết, trở thành đứa trẻ có sự nhạy cảm đặc biệt với những bi kịch của người lớn, dù không thể nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của chúng. Nơi phương Bắc băng giá, việc che giấu bi kịch của hoàn cảnh gia đình càng trở nên khó khăn hơn. Tình yêu cao cả cha mẹ ông dành cho nhau, theo tháng năm, đã khoác lên màu sắc tuyệt vọng khi khí hậu khắc nghiệt của Vologda (thị trấn nơi họ bị lưu đày) dần dần tàn phá sức khỏe của Evelina Korzeniowski. “Vologda,” chồng bà viết cho một người bạn, “là một đầm lầy lớn, dài ba cây số, đường được lát bằng những thanh gỗ nối chằng chịt. Một năm chia thành hai mùa: mùa đông trắng và mùa đông xanh. Mùa đông trắng kéo dài chín tháng rưỡi, mùa đông xanh thì hai tháng rưỡi.” Qua năm tháng bần cùng, gia đình ba người họ chao đảo giữa một hy vọng và tuyệt vọng cùng cực rằng chính quyền Sa hoàng có thể đáp lại lời thỉnh cầu của họ để được chuyển đến một nơi lưu đày bớt khắc nghiệt hơn. Lời kêu gọi cuối cùng cũng được lắng nghe, và họ được phép di chuyển về phía Nam đến thị trấn Chernigov, thuộc Ukraine của Nga. Nhưng đã quá muộn để cứu Evelina ốm yếu, và bà đã qua đời vào năm 1865, khi cậu bé Konrad mới chỉ tám tuổi.
Góa vợ, cha ông khép mình hơn bao giờ hết, canh cánh một nỗi đau buồn kép. Trước khi mất đi người vợ yêu dấu, ông đã chứng kiến cú đánh chí tử giáng xuống sự nghiệp mà ông từng cố gắng phụng sự. Năm 1863, cuộc nổi dậy âm ỉ từ lâu cuối cùng cũng bùng nổ ở Ba Lan và đã bị người Nga đàn áp tàn bạo. Bị quật ngã bởi hai đòn giáng này, Apollo Korzeniowski cố gắng khiến mình dửng dưng với tất cả, một trạng thái tinh thần không dễ dàng đạt được đối với một người vốn dĩ sôi nổi như ông. Trong tình thế như vậy, con trai ông cũng khó trải nghiệm nhiều niềm vui tuổi thơ, điều vô cùng quan trọng đối với một đứa trẻ. Những khoảnh khắc giải thoát duy nhất của cậu bé bất hạnh là trong những tháng mùa hè, khi cậu có thể đi du lịch cùng người thân đến vùng nông thôn Ukraine, vì bản thân cậu không phải là tù nhân. Nhưng mùa đông dài và ảm đạm, và vào buổi tối, người bạn đồng hành duy nhất của Konrad là cha cậu, người ngồi bên ánh đèn dầu viết hết trang này đến trang khác bằng nét chữ góc cạnh, co quắp của mình. Bởi ngay cả lúc này, khi mọi hy vọng đã tiêu tan, người tù không khuất phục vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến đơn độc chống lại chế độ Sa hoàng.
Một trong các thành quả của những đêm đông dài dưới ánh đèn dầu ấy là một luận văn với nhan đề “Ba Lan và Nga”. Apollo Korzeniowski đã tìm cách bí mật đưa nó ra nước ngoài, để rốt cuộc xuất hiện không ghi tên tác giả trên một tờ báo của người Ba Lan lưu vong tên là Tổ Quốc xuất bản ở Leipzig. Như có thể đoán trước, đó là một bản cáo trạng đắng cay về “sự man rợ” của Nga, thứ “vắt cơ thể mình từ Biển Băng đến Biển Đen và từ sông Vistula đến Thái Bình Dương,” và đầy những dự cảm u ám. Một đoạn giàu tính đặc trưng: “Với tư cách là nước Muscovy, vì lo sợ sự hủy diệt của chính mình, nó buộc phải chiến đấu bên ngoài biên giới. Mặc dù châu Âu có thể tránh cuộc đấu tranh này trong một thời gian dài, nhưng thời khắc sẽ đến khi không thể nào trốn tránh được nữa; nhưng lúc đó thời điểm sẽ do Muscovy lựa chọn. Như vậy, châu Âu sẽ bị tước mất một nửa sức mạnh của mình.”
Trong suốt những năm tháng này, cha cũng là người thầy chính của Konrad, và hoàn cảnh chật chội của cuộc lưu đày giữa môi trường xa lạ chắc chắn đã thắt chặt mối liên kết giữa hai cha con. Từ thư từ của người cha, chúng ta có một ý niệm sơ lược về cách Conrad đã được giáo dục thuở đầu đời. (“Tôi dạy nó những gì tôi có thể. Thật không may, chẳng nhiều nhặn gì. Tôi bảo vệ nó khỏi bầu không khí của nơi này, và thằng bé lớn lên như trong một căn phòng tu viện.”) Nhưng chúng ta có thể suy đoán một cách an toàn rằng chính từ cha mình, cũng như từ những điều kiện bất hạnh của cuộc sống tuổi trẻ, Conrad đã thừa hưởng cả sự ác cảm sâu sắc với nước Nga lẫn cái nhìn bi kịch về cuộc đời, thứ hiện rõ trong các tác phẩm sau này của ông.
Cảm xúc bài Nga của Joseph Conrad đã quá nổi tiếng, không cần phải nhấn mạnh lại ở đây. Nhiều năm sau, ông đã rất tức giận khi Henry L. Mencken tuyên bố trong một bài báo rằng đã phát hiện ra những đặc điểm Xla-vơ điển hình trong tiểu thuyết của ông. Theo quan điểm của Conrad, người Ba Lan có sự tách biệt lớn khỏi thế giới Xla-vơ “không phải vì sự thù địch, mà vì sự không tương thích trong tính cách”. Ông bảo mình chỉ đọc một vài tiểu thuyết Nga, qua bản dịch, và ông nói thêm: “Tâm thức và tình cảm của họ luôn khiến tôi ghê tởm vì lý do khuynh hướng di truyền và sự sắp đặt cá nhân.”
Tuy nhiên, ảnh hưởng của Apollo Korzeniowski lên với con trai không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị. Các tác phẩm của cha ông đậm đà màu sắc chủ nghĩa hoài nghi thuần túy về bản tính con người. Ông bị ám ảnh đặc biệt bởi một viễn kiến ảm đạm về các thế lực đe dọa, theo ông quan sát, đang trỗi dậy từ trạng thái hỗn mang nguyên thủy để phủ bóng và lật đổ con người văn minh. Nỗi khinh sợ Nga của ông là nỗi khinh sợ sức mạnh bạo liệt không chịu sự đánh giá khắt khe và không ràng buộc bởi các quy ước đạo đức. Ngay tại đây, chúng ta có thể nhận thấy một sự tiếp nối rõ ràng trong chủ đề của các bài luận chính trị của người cha và các tiểu thuyết của người con. Trong tiểu thuyết Tay điệp viên và Dưới mắt phương Tây của Conrad, cả những quan chức trong chính quyền Sa hoàng lẫn những kẻ vô trị và hư vô chủ nghĩa đều không thừa nhận quy tắc đơn giản: “Con người ta không làm những việc như thế.”
Trong Heart of Darkness, Kurtz, một nhà buôn ngà voi, đầu hàng trước sự hỗn mang của châu Phi, chịu đựng sự đổ vỡ đạo đức, cất cao giọng tán dương sứ mệnh khai hóa của dân da trắng và tham gia các cuộc thảm sát người bản địa. Cảm giác rằng con người, bên dưới một lớp vỏ mỏng của văn minh, bị bào mòn bởi bản năng của chính mình, cũng đã được Thomas Mann chia sẻ, và chính điều này khiến Mann đặt Conrad trong những tác giả thực sự tiên phong của thế kỷ hai mươi.
Sau cái chết của vợ, Apollo Korzeniowski nhận ra rằng ông mắc lao và cũng sẽ không sống được bao lâu nữa. Những bức thư của ông tiết lộ nỗi lo lớn dần cho đứa con duy nhất của mình, người mà ông biết rằng sẽ sớm bị bỏ lại một mình trên thế gian. “Sức khỏe tôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và đứa con trai yêu quý của tôi chăm sóc tôi. Trên trái đất này chỉ còn hai chúng tôi mà thôi,” ông viết cho một người bạn. “Ước gì tôi có thể đưa Konrad trở lại mảnh đất quê hương, giữa những con người tốt đẹp, kết nối thể xác sống động và linh hồn đang thức tỉnh này với cơ thể xã hội của chúng ta, tôi chẳng mong muốn gì hơn thế. Còn bản thân tôi, tôi chỉ muốn đặt chân lên mảnh đất của chính mình, hít thở không khí quê hương, nhìn ngắm những người tôi yêu thương và thốt lên: ‘Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi tớ Người được ra đi trong bình an.’”
Sự giải thoát sau cùng cũng đến, nhờ sự chạy vạy của người thân và tình trạng lao phổi của ông. Năm 1867, ông được trao hộ chiếu để thực hiện một chuyến đi từ Nga đến Madeira. Đưa con trai đi cùng, ông vượt biên sang Đế quốc Áo-Hung. Tuy nhiên, ở đó, ông từ bỏ ý định hành trình, chủ yếu vì thiếu phương tiện tài chính, nhưng cũng vì ông vô cùng quan tâm đến phong trào văn chương Ba Lan ở Galicia (tỉnh nói tiếng Ba Lan đã được sáp nhập vào Đế quốc Habsburg). Cha con ông vì vậy định cư trước tiên ở Lwów (Lemberg), rồi sau đó chuyển sang Krakow. Chỉ hai năm sau khi rời biên giới Đế quốc Nga, Apollo Korzeniowski qua đời. Toàn bộ Krakow chìm trong tang tóc. Nhà cách mạng già được tổ chức đám tang theo nghi lễ của một anh hùng, và đám đông quần chúng đã biến nó thành một cuộc biểu dương một nhân cách ái quốc lớn.
Cái chết của cha khiến Konrad mồ côi ở tuổi mười hai. Người giám hộ của cậu từ đó là ông bác Bobrowski, và giờ đây chàng thiếu niên ấy thấy mình bị giằng xé giữa hai ảnh hưởng trái ngược. Ông bác là hình ảnh đối lập hoàn toàn với cha cậu, và ông đã nỗ lực nhiều lần, không thiếu những lần bằng cách thức khó chịu, để dập tắt mọi thứ trong Konrad mà ông coi là hư tật thừa hưởng được từ phía tổ tiên “tệ hơn” của gia đình. Bất cứ tiểu sử gia nào của Conrad cũng không thể xem nhẹ xung đột tinh thần này, bởi ảnh hưởng của ông bác trong cuộc đời cháu trai rất lâu dài, dẫn đến và biểu hiện bởi những cuộc trao đổi thư diễn tiến xuyên suốt những chuyến hải trình trường kỳ của Conrad trên những con tàu Anh Quốc.
Hồi ký của Bobrowski cho thấy ông là một người đàn ông khôn ngoan, có học thức và niềm tin vững chắc. Nhà bảo thủ tự do chủ nghĩa này rõ ràng theo đuổi chủ nghĩa hiện thực với thái độ mỉa mai rất bộc lộ. Ông có thái độ thù địch với “giấc mộng cách mạng” và công khai lên án các nỗ lực của đồng bào mình trong công cuộc kháng chiến chống chế độ Sa hoàng, chủ trương họ theo đuổi con đường cải cách dần dần với hy vọng đạt được một dạng tự trị nào đó trong khuôn khổ của Đế quốc Nga. Ông coi tất cả các thành viên của gia đình Korzeniowski là những kẻ du thủ du thực và khố rách áo ôm. Apollo, theo ông, cũng củng cố cho sự tai tiếng của gia tộc này, hệt như hai người anh em của ông ấy (những người đã thể hiện nỗi ham mê vô độ với rượu chè và bài bạc), đơn giản chỉ vì Apollo là một nhà thơ. Tệ hơn nữa, cả ba anh em nhà Korzeniowski đều tham gia phong trào cách mạng và đã kết thúc với tư cách là nạn nhân của nó. Một người chết trên chiến trường, một người khác ở Siberia, người thứ ba vì lưu đày mà sinh bệnh lao. Đó, Bobrowski nghĩ, là sự đền đáp dành cho những kẻ mơ mộng. Vì vậy, cần phải nhổ tận gốc di sản tai hại này khỏi tinh thần của cậu bé.
Trong nhiều năm, ông bác có niềm yêu thích đối với sự điều độ và tiết chế này đã kiên trì thực hiện một loại bản ghi nhớ có tên “Cho sự hiểu biết của người cháu yêu quý của tôi, Konrad Korzeniowski”. Tài liệu này chủ yếu bao gồm các con số tài chính, được rút ra từ hồ sơ gia đình - những con số nhằm mục đích gieo vào tâm trí cái cây non cuối cùng của dòng họ Korzeniowski một cảm giác tội lỗi của gia đình, để răn đe cậu không được hoang phí, và cung cấp cho cậu những lời khuyên đúng đắn.
Sự lôi kéo về hai phía ngược nhau giữa hai cá tính mạnh mẽ của ông bác và người cha có thể giúp làm sáng tỏ những mâu thuẫn được tìm thấy trong chính bản thân Conrad: thứ có thể gọi là chủ nghĩa lãng mạn phản lãng mạn của ông, sự pha trộn kỳ lạ giữa lòng yêu nước Ba Lan và thái độ hoài nghi đối với “sự nghiệp Ba Lan”, niềm đam mê phiêu lưu và đồng thời là sự trau dồi trật tự và kỷ luật tự giác.
Những lo lắng của bác ông không phải là vô cớ. Những năm tháng học tập đầu đời dưới sự dạy dỗ của cha, không có bạn đồng trang lứa, cũng như trong tình cảnh bi kịch của gia đình, đã nuôi dưỡng thói quen cô độc, không hứa hẹn điều gì tốt đẹp của một “thành viên hữu ích trong xã hội”. Cậu bé được phép đọc tất cả các cuốn sách có trong tay, vì vậy cậu đã ngấu nghiến các nhà thơ lãng mạn Ba Lan, tiểu thuyết của Victor Hugo, và các bản dịch kịch Shakespeare. Người ta kể rằng ở tuổi mười một, cậu đã viết những vở kịch và dựng chúng với sự giúp đỡ của người lớn. Nhưng thái độ của câu đối với chương trình học ở trường hay bất kỳ quy tắc nào là cực kỳ miễn cưỡng. Thân thích gọi chàng thanh niên này là “kẻ lười biếng”.
Sự phát triển quá sớm sủa của chàng trai trẻ ích kỷ đã làm phật lòng những người xung quanh, những người mà cậu khinh miệt không che giấu. Một số nhà viết tiểu sử Conrad khẳng định rằng ông đã hoàn thành tám năm học trung học ở Krakow. Các tài liệu khác lại cho rằng ông không nhận được đầy đủ sự giáo dục đó, thứ được coi là mức tối thiểu cần thiết cho một thành viên của giới trí thức thời bấy giờ. Một người chị họ đã truyền lại ấn tượng sau về ông: “Rất phát triển về đầu óc; thằng bé ghét các quy tắc của trường học, xem chúng là hành hạ và gây chán ngán. Nó thường nói rằng mình có tài năng lớn và sẽ trở thành một nhà văn vĩ đại. Điều này, cùng với biểu cảm mỉa mai châm biếm trên khuôn mặt và những nhận xét chỉ trích thường xuyên của nó, đã gây ra sự ngạc nhiên cho các giáo sư khiến các đồng nghiệp chế giễu. Nó không ưa câu thúc bản thân mình trong cách hành xử đối với bất cứ tình huống nào. Ở nhà, ở trường, những cuộc thăm viếng, nó thường nằm ngả ngớn cả người ra.” Nếu cậu có tiếp thu được một số nền tảng kiến thức, thì chủ yếu là nhờ những cuốn sách cậu chọn theo sở thích riêng, và nhờ gia sư riêng của cậu, một sinh viên y khoa ở Krakow tên là Adam Pulman. Cùng với nhân vật này, ở tuổi mười sáu, cậu trai trẻ đã thực hiện chuyến đi đầu tiên đến Tây Âu, một cuộc ngao du kéo dài ba tháng qua Thụy Sĩ.
Không chỉ danh tiếng mà cả giọng điệu nghiêm nghị trong các tác phẩm của Conrad - suy cho cùng, chính là giọng điệu của một nhà luân lý - hẳn khiến những người quen biết ông ở Krakow ngỡ ngàng ra trò. Các biến đổi mà một số cá nhân trải qua không bao giờ là điều dễ hiểu đối với những người đã sống gần họ, bởi họ có xu hướng xem các đặc điểm tính cách mình biết như một thành tố hóa học bất di bất dịch. Nhưng chính những yếu tố tính cách ấy lại có thể tự tái tổ chức thành những kết hợp mới liên tục. Điều cần thiết cho sự biến đổi này là những kinh nghiệm sẽ phá vỡ một khuôn mẫu, từ đó chuẩn bị cho một tổng hợp mới. Với Conrad, quãng thời gian lâu dài phục vụ trong Hải quân Anh là một kinh nghiệm như thế.
Khi chàng thanh niên bất cần đời tuyên bố mình sẽ trở thành một nhà văn vĩ đại, người thân của cậu không thấy gì hơn một chứng cứ nữa cho sự ngạo mạn nơi cậu. Khi cậu thông báo rằng đã quyết định trở thành một thủy thủ, họ tiếp nhận như cách người ta tiếp nhận mong muốn trở thành lính cứu hỏa hay kỹ sư đầu máy của một đứa trẻ. Ở một đất nước nội lục, điều đó có vẻ kỳ quặc, và sự ngoan cố của cậu khiến họ lo lắng.
Tình cảm Conrad dành cho biển cả đã là đối tượng của nhiều tranh cãi giữa các nhà văn-sử học. Họ đã suy luận rằng cú kích đầu tiên là Lao động biển cả của Victor Hugo được đọc từ thời thơ ấu, hay ấn tượng từ cảng Odessa của Nga mà cậu đã đến thăm cùng người cậu trong một kỳ nghỉ từ Chernigov. Người ta có thể tự hỏi liệu giấc mơ về một sự nghiệp như vậy có đơn thuần chỉ là một mong muốn thầm kín để thoát khỏi tình tế rối như tơ vò của Ba Lan hay không. Tất cả những điều này chỉ là phỏng đoán. Conrad kín đáo đã đặt một tấm lọc giữa cảm xúc cá nhân và các tác phẩm được xuất bản của mình, thứ ít liên quan đến “sự chân thành”. Chúng ta chỉ có thể nhận ra điều ám ảnh ông qua con đường gián tiếp. Hơn một nhân vật trong sách của ông dường như là hiện thân của những kẻ âm mưu lục địa - những hiệp sĩ gan dạ và thuần khiết - cải trang thành thủ lĩnh Mã Lai hay các thuyền trưởng, như thể để minh họa cho châm ngôn: “Thứ gì để sống trong nghệ thuật thì phải chết trong đời sống.”
Tại sao người thân của ông, vốn thù địch với sự nghiệp biển, cuối cùng lại nhượng bộ trước sự kiên cường của cậu bé? Có lẽ họ đã thôi hy vọng làm được điều gì hợp lý với cậu. Tuy nhiên, họ tìm kiếm một giải pháp thỏa hiệp: đã có lời bàn về việc đưa cậu vào Học viện Hải quân Habsburg ở Pula. Điều này nhìn chung là bất khả vì cậu không phải là công dân Áo. Dù sống ở Krakow, cậu bé được đăng ký là công dân Đế chế Nga. Một chi tiết tiểu sử chưa từng được biết đến cho đến nay (tôi lấy nó từ các tài liệu được công bố ở Ba Lan năm 1956) cũng có thể đã góp phần khiến ông bác của ông thay đổi quyết định. Chàng sinh viên, người đã gây đủ rắc rối cho cậu mình, đã có một mối tình khá tai tiếng với một người chị họ tên là Tekla Soroczynska. Người nhà từ đó quyết định gửi cậu cháu hoang đàng này đi càng xa càng tốt. Hy vọng rằng bằng cách đó, cậu sẽ trải qua những ngày tháng ăn chơi và trở về trong ăn năn. Ông bác khoán cho cậu một khoản trợ cấp 2000 phơ-răng mỗi năm, một số tiền kha khá vào thời đó, và nhà phiêu lưu của chúng ta đã lên đường đến Marseille vào ngày 26 tháng Mười năm 1874.
Conrad là một nhà văn Anh; sự thật này người Ba Lan chưa từng cố gắng thay đổi bằng cách đồng hóa ông với nền văn chương của họ, cũng như họ cũng chưa từng tuyên bố sở hữu đối với nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire, tên thật là Kostrowicki. Nước Anh vĩ đại, bằng những con tàu lớn của mình, đã trao cho người thủy thủ những gì ông còn thiếu: một cái nhìn thấu tận vào cuộc đấu tranh sinh tồn và ý thức về tình cảm đồng loại của con người trước một Tự Nhiên tàn khốc và thờ ơ. Nước Anh cũng trao cho ông ngôn ngữ của nó. Ông nói tiếng Anh rất tệ, ngữ điệu đặc sệt ngoại quốc, trong khi sức mạnh ngôn ngữ trong văn chương ông đã đưa ông trở thành một hiện tượng hiếm có của sự cấy ghép văn hóa xảy ra ở một cá nhân ở tuổi trưởng thành.
Điều này sẽ dễ hiểu hơn nếu ta quy đó cho tác động mà những vùng biển và lục địa xa lạ trong các chuyến đi của ông đã in ghi dấu lên một trí tưởng tượng nguyên sơ, điều có khả năng xảy ra nếu Conrad làm quen với thế giới rộng lớn hơn từ con số không; chẳng hạn, trong trường hợp ông xuất thân nông dân, để tất cả những khái niệm và ấn tượng mới mà ông tiếp nhận sẽ được khắc ghi ngay lên một phiến đá trống trong một ngôn ngữ mới học. Nhưng Conrad là một mẫu người văn chương. Ông lớn lên giữa sách vở và quen thuộc với thơ ca Ba Lan, dành cho nó sự say mê hơn cả việc học hành. Vì thế, độc giả Ba Lan có một cảm giác kỳ lạ khi liên tục vấp phải những điều nghe thật quen thuộc. Một số chủ đề, và thậm chí nhịp điệu của một số đoạn văn trong tiểu thuyết của ông, gợi nhớ đến những câu thơ rất gần gũi với họ, mà nguồn gốc, một khi ngẫm nghĩ, có thể được gọi tên. Điều đã xảy ra với Conrad là sự hợp nhất hoàn hảo của hai nền văn chương và hai nền văn minh.
Conrad gắn bó sâu sắc với tiếng Anh, và từ những phát biểu của ông, chúng ta có thể đoán rằng ông thấy nó là một phương tiện đặc biệt phù hợp với khí chất của nhà văn. Thư từ của ông gửi cho ông bác bằng tiếng Ba Lan chắc chắn đầy những miêu tả thú vị về các cảng châu Á và châu Phi, những nơi ông cập bến đặt chân lên. Tuy nhiên, những nỗ lực của Bobrowski nhằm thuyết phục ông viết cho các tạp chí quê nhà đều thất bại. Điều thú vị là, ông bác, trong nỗ lực chống lại sự xa cách của cháu trai với Ba Lan, đã khai thác hình ảnh người cha trong các lập luận của mình. Trong một bức thư năm 1881, ông viết: “Vì cháu chưa quên tiếng Ba Lan (cầu Chúa phù hộ cháu; cháu đã có phước lành của ta rồi) và vì cháu thậm chí còn viết rất tốt, ta phải nhắc lại nhận xét của mình: sẽ thật tuyệt vời nếu cháu đóng góp cho tạp chí Wedrowiec ở Warsaw. Ta chắc chắn mọi người sẽ vô cùng quan tâm đến những gì cháu nói. Bằng cách này, cháu sẽ thắt chặt mối liên kết với đất nước của mình, và hơn nữa, đó sẽ là một hành động hiếu nghĩa đối với ký ức về cha cháu, người đã mong muốn phụng sự và đã phụng sự dân tộc mình bằng ngòi bút của mình.”
Một người nhập cư sẽ thường, vì động cơ tự vệ, cắt đứt hoàn toàn với vùng đất xuất xứ của mình hoặc thể hiện thái độ bề trên thân thiện với nó, qua đó đối chiếu thành công của bản thân với những khổ đau của những người bị bỏ lại ở quê hương cũ. Người Ireland, người Ý và người Ba Lan ở Mỹ cung cấp nhiều minh họa cho điều này. Một khi ta tìm thấy xu hướng này ở Conrad, nghĩa là vấn đề hữu quan đối với ông đã đánh mất sự cấp thiết và nó có thể được bỏ qua trong phân tích tác phẩm của ông. Nhưng, trên thực tế, vấn đề này không cho phép sự đơn giản hóa. Và khi chúng ta đi sâu hơn vào các tài liệu tiểu sử, chúng ta được dẫn tới kết luận rằng một mặc cảm phản bội được che giấu kỹ lưỡng có thể nhận thấy trong một số tác phẩm của ông - một cảm giác rằng ông đã phản bội sự nghiệp mà đồng bào của ông, và trên hết là cha ông, đã ôm ấp một cách cuồng tín.
Văn chương Ba Lan và Nga, một trong những đặc điểm hiếm hoi mà hai quốc gia này có sự tương đồng, có truyền thống được nhìn nhận bằng một tư thế khác so với nền văn học Tây Âu . Ở đó, nó được coi là một vũ khí trong cuộc đấu tranh vì lợi ích cộng đồng. Conrad không tin vào tương lai của đất nước mình, và điều này đã cung cấp cho ông một sự tự biện. Nhưng không có sự tự biện nào có thể cách ly chúng ta khỏi những nghi ngờ về sự đúng đắn trong lựa chọn của mình.
Khi những cuốn sách đầu tiên của ông mang lại danh tiếng ở nước ngoài, họ hàng đã gửi ông những mẩu cắt ra từ các tờ báo Ba Lan cho thấy phản ứng mà chúng đã gợi lên trong giới văn chương Warsaw. Nhưng báo chí địa phương không phải lúc nào cũng đon đả. Conrad đặc biệt bị ảnh hưởng bởi một cuộc tấn công dữ dội nhắm vào ông của Eliza Orzeszko. Người phụ nữ này thuộc dạng những người đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ, là một tiểu thuyết gia nhân đạo được ngưỡng mộ theo truyền thống của Auguste Comte (người khi đó được coi là một nhà tiên tri ở châu Âu). Bà công khai buộc Conrad tội phản bội vì đã dâng tài năng của mình cho một nền văn học ngoại quốc.
Quá trình điều tra các tầng ý nghĩa trong một cuốn tiểu thuyết là một nhiệm vụ khá vô ơn. Thế nhưng, Lord Jim đầy bí ẩn của Conrad chắc chắn có được một kích thước bổ sung nếu, như một số nhà phê bình đã gợi ý, chúng ta nhìn thấy trong đó một bi kịch của lòng thành đối với dân tộc. Một thủy thủ rời bỏ con tàu bị hỏng hóc của mình, cảm thấy rằng không thể cứu được nó, và hậu quả của hành động đó tiếp tục đeo đuổi anh ta đến cuối đời. Bằng cách thay đổi một chút tên con tàu, Patna, và thay thế bằng từ Patria (Tổ quốc), chúng ta có thể chạm đến sự đa nghĩa đôi khi mang lại cho văn xuôi sức quyến rũ bí ẩn của nó. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta hoàn toàn cân nhắc đến sự gắn bó mạnh mẽ với quê hương - thứ chỉ gặp ở mức độ như vậy tại Trung và Đông Âu - thì suy đoán này vẫn mang tính rủi ro, và một nhà văn kín đáo như Conrad không khuyến khích điều đó.
Tuy nhiên, dù đã kết hôn với một phụ nữ Anh, sự hòa nhập của ông vào nước Anh là không trọn vẹn. Trong hồi ức của Jessie Conrad, chúng ta có thể ghi nhận sự kinh hãi thú vị mà bà cảm thấy trước những chuyến thăm định kỳ của “con người phía Đông”, và có lẽ là một sự nuối tiếc rằng một phạm vi lớn trong cuộc đời chồng bà, đối với bà, vẫn là điều bà không thể tiếp cận. Conrad hẳn đã áp dụng một số chiến thuật nhất định trong mối quan hệ của ông với bà và với những người bạn Anh. Ông giữ im lặng về các vấn đề liên quan đến những điều xa lạ với họ. Điều này càng dễ dàng hơn với ông vì ông chọn sống ở Anh như một sở thích cá nhân. Hơn nữa, ông là một người yêu nước khi Đế quốc Anh đối mặt với hai cường quốc lục địa mà ông không ưa: Nga và Đức. Nhưng dù lựa chọn trung thành với nước Anh, ông định kỳ nhấn mạnh lại lòng trung thành kép của mình, làm rõ rằng ông không có ý định từ bỏ sự lưỡng phân ấy. Khi người bạn Robert Cunninghame Graham mời ông tham gia một cuộc họp theo chủ nghĩa hòa bình ở London năm 1899, ông đã trả lời bằng một bức thư có những dòng sau, được gạch chân mạnh mẽ: “Sẽ có người Nga tại cuộc họp này. Không thể được!” Ông nói thêm rằng ông không thể chấp nhận ý tưởng về tình huynh đệ, không phải vì ông cho rằng nó không thể thực hiện được, mà vì sự tuyên truyền của nó có thể làm suy yếu “tình cảm dân tộc, thứ mà việc bảo tồn nó chính là đối tượng của những bận tâm của tôi.”
Nếu chúng ta khôi phục ý nghĩa đúng đắn cho thuật ngữ “chủ nghĩa thế giới” - bỏ qua cách sử dụng của những người theo chủ nghĩa Stalin - và công nhận rằng nó bao hàm cả những phẩm chất xấu lẫn tốt, thì chúng ta có thể nói rằng Conrad, dù đã đi đến những vùng xa xôi của thế giới và viết về những dân tộc khác nhau nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, không thực sự là một người theo chủ nghĩa thế giới. Ông không thể là một người như vậy vì nhu cầu có gốc rễ của mình. Nhưng ông biết cách duy trì một sự cân bằng nhất định giữa những đòi hỏi của lòng trung thành kép. “Nếu bạn tin lời tôi,” ông viết trong một bức thư năm 1903 cho một người quen người Ba Lan, “hãy nói rằng trong suốt những chuyến hải hành vòng quanh địa cầu của mình, tôi chưa bao giờ tách rời bản thân, dù trong suy nghĩ hay trong trái tim, khỏi quê hương tôi; tôi hy vọng sẽ được đón nhận ở đó như một người đồng hương, bất chấp sự Anh hóa của tôi.”
Heart of Darkness, xuất hiện ngay từ đầu thế kỷ của chúng ta, là một tiếng kêu Cassandra báo trước sự kết thúc của châu Âu thời Victoria, trên bờ vực biến đổi thành châu Âu của bạo lực. Thế chiến thứ nhất đã khai mạc một kỷ nguyên mới, đồng thời phá hủy nhiều ảo tưởng. Về mặt này, nỗi sợ hãi của Conrad trước sự hỗn loạn đã tìm thấy sự xác nhận ảm đạm của nó. Đồng thời, cuộc chiến cũng khơi dậy các hy vọng mới cho nền độc lập của những quốc gia đã bị khuất phục từ thời Đại hội Vienna dưới sự kiểm soát của các chế độ quân chủ hùng mạnh. Không nghi ngờ gì về chiến thắng cuối cùng của phe Đồng minh phương Tây, Conrad đã trình lên Bộ Ngoại giao Anh một bản ghi nhớ năm 1916 có tên “Ghi chú về Vấn đề Ba Lan”. Trong đó chứa đựng một kế hoạch chi tiết để tái lập một nước Ba Lan độc lập có đường ra biển, dưới sự bảo hộ của Đồng minh. Sự thay đổi bất ngờ của các sự kiện, và chủ yếu là sự suy yếu của Nga qua cuộc cách mạng năm 1917, đã dẫn đến việc hiện thực hóa các dự án ấy vượt cả mức mong đợi của chính ông.
Conrad qua đời năm 1924, nhưng trong những biến động sau này chạm đến góc châu Âu nơi ông xuất thân, ông đã có một vai trò không nhỏ. Trong những năm cuối đời, Conrad tự sửa chữa các bản dịch tiếng Ba Lan tác phẩm của mình. Các dịch giả, người giỏi nhất trong số đó là người chị họ Aniela Zagórska, đã làm việc hết sức tận tâm, và tiểu thuyết của ông trở thành liều bổ sung cần thiết cho mọi tủ sách tư nhân có lòng tự trọng ở Ba Lan. Nhưng như thường xảy ra với tất tật các tác giả xuất sắc, sự quan tâm dành cho họ lên xuống theo từng đợt. Tuy nhiên, danh tiếng của ông chưa bao giờ đạt đến đỉnh cao như trong Thế chiến thứ hai. Lý do chủ yếu là chính trị. Thất bại và sự chiếm đóng của Đức Quốc xã đối với Ba Lan đã làm nảy sinh một phong trào ngầm, hay đúng hơn là một nhà nước ngầm. Người ta mong đợi phương Tây sẽ xuất hiện giải vây. Nhưng khi các mặt trận quốc tế định hình, ngày càng rõ ràng rằng Ba Lan chỉ có thể lựa chọn giữa một chiến thắng của Phát xít và một chiến thắng của Liên Xô. Điều này có nghĩa là người Ba Lan chỉ có thể bị nướng hoặc luộc.
Người Ba Lan tìm kiếm sự nâng đỡ nơi Conrad cho một chủ nghĩa anh hùng tuyệt vọng và vô vọng, và họ cố gắng bắt chước những nhân vật của ông, những hiện thân cho lòng trung thành định mệnh với một sự nghiệp đã bại trận. Chúng ta sẽ không phán xét liệu những kết luận họ rút ra từ tác phẩm của ông có đúng hay không. Dù sao, khi Hồng quân tiến vào Ba Lan và chính phủ Cộng sản mới tiến hành thanh lọc “nhà nước ngầm”, các nhà báo của Đảng tuyên bố Conrad là một nhà văn vô đạo đức và một kẻ làm hư hỏng thanh niên. Họ thậm chí còn đi xa đến mức lên án các ý tưởng đạo đức của Conrad là chỉ hữu ích cho các nhà tư bản. Như vậy, đối với họ, khi ông mô tả lòng trung thành của thủy thủ đoàn đối với thuyền trưởng và con tàu của họ, thực chất ông đang phục vụ mục đích của các chủ tàu.
Hơn nữa, Conrad thuộc về nền văn minh phương Tây một cách bất khả vãn hồi, và uy tín của nó không còn cách nào khác phải bị hạ thấp. Các quan chức, với bản năng Đảng sắc sảo, nhận ra rằng thang giá trị quý tộc, thứ mà các thủy thủ, cướp biển và binh lính của Conrad trân quý, không tương thích với việc tạo ra các cá nhân hoàn toàn phục tùng nhà nước. Đó là lý do sau khi những người Stalinist giành quyền kiểm soát thị trường văn học thông qua quốc hữu hóa các nhà xuất bản và thiết lập kiểm duyệt, họ lập tức ném Conrad vào danh sách đen. Ngay cả trong những năm đầu sau chiến tranh, khi vẫn còn khá nhiều tự do ngôn luận, việc in mới các tiểu thuyết của ông bị cấm, tình trạng tất nhiên kéo dài trong thời kỳ săn phù thủy điên cuồng sau đó. Điều kỳ lạ là, trong cùng giai đoạn này (1945-1955), các nhà hát lại trình diễn một số vở kịch của cha ông, nhấn mạnh những cuộc tấn công vào tầng lớp quý tộc và giảm nhẹ những lời chỉ trích chế độ Sa hoàng.
Khi Conrad được “rã đông” [ND: Sau cái chết của Stalin năm 1953, sự kiểm soát ý thức hệ ở các nước cộng sản Đông Âu bắt đầu có chút nới lỏng, được gọi là “Thời Rã đông” (the Thaw). Việc cấm đoán văn hóa được nới lỏng] vào năm 1955 và các nhà xuất bản Ba Lan bắt đầu chuẩn bị ấn bản mới cho tác phẩm của ông, ai tinh tường có thể nhìn thấy trong đó một dấu hiệu cho thấy “băng tan” ở Ba Lan là một vấn đề nghiêm túc. Như vậy, qua một vòng xoay kỳ lạ, những mong muốn của người cha khi đặt tên Konrad cho ông cuối cùng đã được thực hiện. Người con trai không muốn gánh vác gánh nặng đã đè nát cha mình, cuối cùng vẫn trở thành người bảo vệ tự do chống lại tai họa của chế độ chuyên chế.
Bùi Gia Binh dịch
