Albert Béguin: Lichtenberg (tiếp)
tiếp tục từ kia
Niềm ngưỡng mộ đối với một nghệ thuật của biểu tượng và của ẩn dụ - các khát khao thần bí - sự quan sát chính mình đầy lo lắng cùng sở thích kinh nghiệm tâm lý: toàn bộ những cái đó, hết sức tự nhiên, phải đưa Lichtenberg tới chỗ bận tâm về giấc mơ. Và, quả thật; ông quan tâm đến nó, không phải dưới ảnh hưởng của những sự đọc, mà vì, ở cuộc sống ban đêm của chính ông, ông đã bị ấn tượng mạnh bởi một số hiện tượng; một số thì thỏa mãn xu hướng của ông hướng về nghiên cứu tính cách chính ông, các hiện tượng khác lại hồi đáp sự gắn bó với những mơ mẩn thuộc tình cảm và với những thoáng-thấy bí hiểm nơi sự rụt rè của ông mạo hiểm tiến vào. Chính trong nghĩa nhân đôi này mà ông không ngừng khuyên nhủ việc nghiên cứu giấc mơ.
Nếu người ta muốn kể các giấc mơ của mình thật thành thực, "thì hẳn sẽ có thể đoán được tính cách của họ dễ dàng hơn so với chiểu theo các đường nét khuôn mặt". "Nhưng một giấc mơ hẳn không đủ cho điều đó, cần phải có một lượng giấc mơ khá lớn." Và ông biết rằng cuộc đời thuộc mơ thường xuyên hé lộ cho chúng ta một số khía cạnh nơi bản sinh của chúng ta, mà bó buộc của suy tư che mờ đi; đối với ông ý này "xứng đáng với nghiên cứu chăm chú nhất".
Nhưng vai trò của điều tra tâm lý học đó không phải là toàn bộ: hiểu biết về chính mình quý giá hơn hiểu biết về người khác; bởi nó kéo theo các hệ quả luân lý. Biết bao nhiêu dạy dỗ, kinh nghiệm không thể thay thế có thể lấy ra được, trong mục đích này, từ những giấc mộng của chúng ta! Cuộc sống có ý thức không đủ phong phú, Lichtenberg biết rõ điều này, để vét cạn tính người của chúng ta; có, ở mỗi người trong số chúng ta, cả nghìn khả thể mà bất kỳ cơ hội nào cũng không làm bừng nở được, và hẳn chúng ta sẽ vẫn cứ xa lạ với một phần trong số các thiên bẩm hoặc các vực thẳm của mình nếu kinh nghiệm của chúng ta không có trường nào khác ngoài trường của những thể động ban ngày; may mắn sao, các giấc mơ có ở đó để làm phong phú kinh nghiệm ấy một cách vô tận.
Chúng thường xuyên đưa chúng ta vào các hoàn cảnh và tình huống nơi hẳn chúng ta sẽ chẳng mấy bị liên can ở trạng thái thức; hoặc giả chúng khiến chúng ta cảm thấy những nỗi khó chịu mà có lẽ chúng ta sẽ khinh bỉ, vì thấy những cái đó quá nhỏ nhặt hay xa xôi, với nguy cơ thông qua đó thậm chí bị lôi kéo theo cùng thời gian. Do đó một giấc mộng thường xuyên biến đổi các quyết định của chúng ta; nó đảm bảo nền móng luân lý của chúng ta giỏi hơn so với tất tật những dạy dỗ vốn dĩ chỉ đạt tới được trái tim bằng một đường vòng.
Chắc chẳn, các nhà tâm lý học thế kỷ 18 đã nhận ra giá trị tự chẩn đoán của các giấc mộng, nhưng còn chưa có ai từng khẳng định một cách rõ nét rằng những phiêu lưu trong mơ thì tức thì hơn những phiêu lưu khác, đến được trung tâm con người chúng ta theo lối trực tiếp hơn.
Từ sự hữu ích luân lý đó của giấc mơ tới nghiền ngẫm về bản tính cốt yếu của nó, tinh thần Lichtenberg vượt qua cái ngưỡng gây hoảng sợ cho các triết gia thuộc thế kỷ của ông. Vẫn quay trở lại với tầm quan trọng của nghiên cứu ấy trong một phân đoạn viết vào khoảng năm 1777, ông chịu thua trước sở thích của ông đối với các thoáng-viễn-tượng siêu hình học, điều này hẳn không gây ngạc nhiên, bởi vì, đối với ông, ở đây chuyện không phải một đối tượng cho tìm hiểu khoa học, mà là nhu cầu thuộc sống về tự giải thích những gì diễn ra bên trong chính ông.
Chúng ta sống và cảm thấy ở trong mơ cũng ngang mức với trong lúc thức, và chúng ta vừa là cái này lại vừa là cái kia; một trong các đặc quyền của con người là mơ và biết điều đó. Cho đến giờ, người ta gần như còn chưa lấy được từ đây toàn bộ lợi ích khả dĩ. Giấc mộng là một cuộc đời, nó, được thêm vào cho phần còn lại của tồn tại chúng ta, trở nên cái mà chúng ta gọi là cuộc đời con người. Các giấc mơ dần dà mất đi trong trạng thái thức của chúng ta; hẳn người ta sẽ không nói được sự thức của con người bắt đầu từ đâu.
Ông không ngừng quay lại đó: hẳn viết một Chìa khóa giải mộng là công việc xứng với nhà tâm lý học lớn nhất, hoặc một khảo luận về bản tính của tâm hồn, đặt cơ sở trên các giấc mơ; hẳn người ta sẽ có thể, ngoài ra, viết một cuốn sách bình dân, hơn người ta lén cho vào cốt yếu của những khám phá hiện đại. Giống rất nhiều dự đồ, được phác ra trong các ghi chép của ông, mà ông sẽ bỏ lại việc thực thi cho những thế hệ sắp tới, dự đồ ấy ở Lichtenberg vẫn ở lại trạng thái của ham muốn le lói. Nhưng những nhận xét hẳn sẽ có thể nằm trong khảo luận về các giấc mơ được viết vào những quyển sổ của ông, trong suốt cuộc đời ông. Ông tìm cách tự giải thích khác biệt giữa hai mặt ấy của cùng một thực tại toàn thể đối với ông, mơ và thức. Tại sao trong lúc thức chúng ta không hay làm được cái việc là trao cho kẻ khác, như chúng ta hay làm trong mơ, chính những ý của chúng ta, hơn? Chẳng phải đấy là vì sự thức thì nghĩa là "người ta lập dựng tại đó một sự phân biệt rõ nét và theo quy ước giữa những gì bên trong chúng ta và những gì bên ngoài chúng ta?" Cuộc đối thoại mà chúng ta theo đuổi với những nhân vật do chúng ta tạo ra gây tò mò cho Lichtenberg và truyền cho ông các liên hệ giữa các ý với tầm vóc đáng kể:
Những khi trong mơ tôi tranh luận với ai đó, anh ta phản bác tôi và soi sáng cho tôi, thì chính tôi tự soi sáng chính mình; vậy thì tôi suy tư. Suy tư đó được nhìn thấy dưới hình thức của trò chuyện. Thế thì chúng ta có thể thấy ngạc nhiên về việc các tộc người nguyên thủy diễn tả những ý đến với họ về con rắn (như Eve) bằng câu: con rắn bảo tôi? hoặc nữa: Chúa đã bảo tôi, tinh thần của tôi đã bảo tôi? Vì không biết chính xác địa điểm suy nghĩ của chúng ta, chúng ta có thể đặt nó ở chỗ nào mà chúng ta muốn. Cũng như người ta có thể nói sao cho người ta có thể nghĩ rằng điều đó từ một kẻ thứ ba tới, người ta cũng có thể nghĩ theo lối cái đó khiến người ta nghĩ rằng ý được nói với chúng ta: như là hộ thần của Socrate. Số lượng đáng kinh ngạc làm sao, các quan sát mà hẳn người ta có thể lấy được từ những giấc mơ!
Trong toàn bộ tâm lý học của thế kỷ 18 - trừ ở Moritz - không có nhận xét nào sâu sắc được bằng những dòng vội vã kia của Lichtenberg. Không chỉ ông biết, như ông ghi lại ở chỗ khác, rằng "khi người ta mơ thấy một nhóm người, người ta khiến mỗi người nói theo tính cách riêng của anh ta", điều này vẫn ở trên bề mặt các vật; không chỉ ông biết hiện tượng, vốn dĩ chung với sáng tạo thơ và với mơ, thứ làm chúng ta diễn tả một ý bên dưới hình thức của hình ảnh trông thấy hay của nhân vật nói nó ra; mà, nhất là, ông khám phá một tương đồng sâu sắc giữa cách vận hành có tính sáng tạo đó của mộng và sự sinh ra của các huyền thoại trong "đầu óc nguyên thủy". Từ đó ông không lấy bất kỳ phát triển nào, nhưng người ta nom thấy cái đường dẫn từ Lichtenberg đến C. G. Jung thì đúng hơn là về phía Freud: cái ngoài ý thức tập thể và cái ngoài ý thức cá nhân có liên hệ họ hàng chặt chẽ với nhau; các sáng tạo của chúng không phải là những phăng te di vớ vẩn hay những triệu chứng đơn giản của sự mất trật tự nào đó; các huyền thoại xứng đáng được coi là nghiêm túc. Sự nhân đôi và nhân ba của cái tôi trong những giấc mơ ấy, các xen lạ thường nơi người ta nói về một người chết với chính người chết đó, khiến Lichtenberg lo lắng, ông đi tới chỗ đặt giả định là cả trong lúc thức có lẽ chúng ta cũng có những viễn tượng kia, nhưng "ở mỗi bước lý trí lại can thiệp nhằm sửa chữa lòng tin đinh ninh của chúng ta".
Điều luôn luôn xuất hiện trở lại ở ông, ấy là cám dỗ thần bí: sao mà ông muốn nghĩ rằng mơ và thức hòa vào nhau nơi các dữ kiện cốt yếu của chúng, nhưng, khi thức, các lòng tin cùng các quyền lực thực của chúng ta như bị đánh lừa và bị bóp nghẹt bởi lý trí! Nếu lý trí không nhảy vào - nhưng Lichtenberg có thành thực với chính ông không lúc ông tự khen ngợi mình về sự kiểm soát đó? - hẳn chúng ta sẽ có thể không ngừng tạo ra những nhân vật biến được nghiền ngẫm của chúng ta thành một đối thoại, hẳn chúng ta sẽ nói chuyện với những người chết, hẳn chúng ta sẽ tự do hơn. Tuy nhiên, lý trí, ở chính Lichtenberg, đóng rất đúng vai trò của nó và bắt ông phải có các phản bác rõ nét lại những hy vọng bí mật kia:
Điều khiến tôi kinh ngạc, đó hoàn toàn không phải là chuyện người ta mơ thấy những sự điên như thế; mà việc người ta tin chính mình là kẻ làm những cái đó và nghĩ những cái đó, ấy là điều khiến tôi kinh ngạc! - Tôi những muốn biết các con vật có ngu xuẩn trong mơ hơn so với ở trạng thái thức hay chăng; nếu đúng là vậy, chúng có một mức độ lý trí nào đó.
Thế là, ông cắt ngang luôn xu hương lãng mạn của mình. Và con người lý tính được tìm thấy lại, với toàn bộ khả năng về quan sát và về kinh nghiệm của mình, trong một đoàn lũ các nhận xét về những chi tiết của cuộc đời thuộc mơ, và đặc biệt là về ảnh hưởng mà các cảm tri bên ngoài gây ra ở đó.
