favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Voltaire: Về án tử hình

25/01/2026 08:16

Văn bản dưới đây trích từ bình luận của Voltaire (1766) về Dei delitti e delle pene (Về tội phạm và hình phạt, 1764) của Cesare Beccaria. Trong khi Beccaria đặt nền móng cho tội phạm học cổ điển, lên án tra tấn và án tử hình, Voltaire giữ vai trò đối thoại và chuyển tải luận thuyết này vào không gian thời Aufklärung.

 

Đó là một nhận định lâu đời, rằng một người, sau khi bị treo cổ, thì vô dụng; và rằng những hình phạt chủ ý giúp ích cho xã hội, nên, đồng thời, hữu dụng cho chính xã hội ấy. Rõ ràng là, một toán cướp cường tráng, bị kết án trọn đời lao dịch trong các công trình công cộng, thông qua chính hình phạt của mình, phụng sự nhà nước; và cái chết của chúng sẽ chẳng có ích gì cho ai ngoài viên đao phủ công quyền. Trộm cắp hiếm khi bị hành quyết ở Anh; thay vào đó là lưu đày đến các thuộc địa. Một chính sách tương tự đã được thực thi trên khắp đế quốc rộng lớn của Nga, nơi quyền lực tự tạo của Elizabeth, trong suốt thời gian tại thế, đã không cần đến một cuộc hành quyết nào. Một trí năng bề trên kế vị bà[1], Catherine Đệ nhị, đã tiếp nhận cùng một nguyên tắc ấy.

Chưa có phát hiện nào cho thấy các tội trạng gia tăng như một hệ quả của lòng nhân đạo ấy; và nói chung, những kẻ phạm tội bị lưu đày đến Siberia đã được cải hoá triệt để. Điều tương tự cũng được ghi nhận về những thuộc địa của Anh. Sự biến đổi đáng mừng này khiến ta sửng sốt—song không gì tự nhiên hơn thế. Những người bị kết án buộc phải lao động không ngừng để duy trì sự sống; cơ hội cho thói ác không còn; họ kết hôn, và một lớp dân cư mới là hệ quả. Buộc con người lao động, và người ta khiến họ trở nên đáng kính. Ai cũng biết rằng rất ít tội phạm mang tính chất tàn bạo xảy ra ở thôn dã, ngoại trừ, có lẽ, những khi có quá nhiều ngày nghỉ lễ dẫn đến nhàn rỗi và hậu quả là trụy lạc.

Một công dân La Mã không bao giờ bị xử tử, trừ những tội đe dọa đến an nguy của nền cộng hòa. Họ, những bậc thầy của chúng ta, những nhà lập pháp đầu tiên của chúng ta, đã dè sẻn máu của đồng bào mình; còn chúng ta thì lại hoang phí giọt máu ấy.

Vấn đề tế nhị và chí tử, liệu một thẩm phán có được quyền tuyên án tử hình hay không, khi pháp luật không chỉ rõ hình phạt cho một tội danh, đã được bàn luận nhiều lần.

Vấn đề ấy đã được tranh luận một cách long trọng trước Hoàng đế Henry VII[2], người đã quyết định rằng không một thẩm phán nào có thể thực thi một quyền lực như thế.

Quả thực, có những vụ án hình sự, hoặc hiếm gặp, hoặc phức tạp, hoặc đi kèm những tình tiết đặc biệt, đến nỗi luật pháp của nhiều hơn một quốc gia đã buộc phải giao giao những biện pháp khắc phục đối với các trường hợp cá biệt ấy cho thẩm phán định đoạt.

Nhưng nếu có một trường hợp, trong đó cần thiết phải xử tử một kẻ phạm tội mà pháp luật không ấn định án tử là khung hình phạt dành cho hắn, thì lại có đến hàng ngàn trường hợp khác, nơi lòng nhân đạo sẽ thôi thúc ta tha mạng, trái ngược với bản án của luật.[3]

Thanh gươm Công lý được trao vào tay chúng ta; thế nhưng, ta nên làm cùn nó đi, hơn là mài sắc lưỡi gươm ấy: Nó vẫn nằm trong bao khi đối trước vương quyền—để nhắc nhở chúng ta rằng nó chỉ nên được tuốt ra trong những trường hợp hiếm hoi.

Bên cạnh những suy niệm này, ta cũng không nên quên rằng đã có những vị thẩm phán khoái trá trước máu đổ; đó là Jeffreys ở Anh; còn ở Pháp, là kẻ mang biệt danh Coup-tête[4]. Những con người đó chưa bao giờ được sinh ra vào hàng pháp quan; tự nhiên đã định họ là đao phủ của Công lý.

Tâm Nguyên dịch.

 

[1] Vào năm 1762

[2] Bodin, De Republican, quyển III, chương 5.

[3] Tai hại phát sinh từ việc khoan hồng cho một tội ác không bị trừng phạt ít hơn nhiều so với việc tuyên án tử hình với người phạm tội khi không có điều khoản minh thị nào trong luật cho phép. Điều đó tước bỏ tính thích đáng của hình phạt, vốn được áp dụng như một hậu quả của tội phạm, chứ không phải là để trả thù cho tội lỗi của bất kỳ cá nhân cụ thể nào. Bất kỳ luật nào cho phép thẩm phán áp dụng hình phạt tử hình đều đảm bảo miễn trừ trách nhiệm cho thẩm phán nếu ông ta thực thi quyền lực ấy; nhưng nó không thể miễn trừ cho ông ta tội lỗi (về mặt đạo đức) của tội giết người. Hơn nữa, làm sao có thể hình dung sự tồn tại của một tội phạm, gây phương hại đến phúc lợi của xã hội đến mức việc người phạm tội này tiếp tục tồn tại sẽ gây nguy hiểm, mà chính sự xuất hiện của tội phạm ấy lại không bao giờ được một nhà lập pháp sáng suốt dự liệu trước; rằng nó vừa khó được tiên liệu, vừa khó được xác định một cách chính xác các hành vi cấu thành nên nó?

[4] Kẻ chém đầu.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công