favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN 3 - Phần 2 - Chương 3 (2)

2
 

Scobie đặt bút xuống và chà cổ tay lên giấy thấm. Mới sáu giờ ngày 12 tháng Mười Một, Louise còn ở ngoài bãi biển. Đầu óc ông tỉnh táo, nhưng những cơn co giật chạy râm ran từ vai xuống cổ tay. Ông nghĩ: mình đã đến đi được đến cùng. Cứ như hàng năm đã trôi qua từ ngày ông đi lên căn nhà Nissen trong mưa, giữa tiếng còi báo động: khoảnh khắc của hạnh phúc. Sau bao nhiêu năm như thế thì đúng là đã đến lúc chết rồi.

Nhưng vẫn còn những dối trá cần thực hiện, phải làm như thể ông sẽ sống qua đêm nay, còn những lời vĩnh biệt ông phải nói khi chỉ bản thân ông biết đó là vĩnh biệt. Ông rất chậm chạp bước lên đồi, phòng trường hợp ông đang bị theo dõi - chẳng phải ông đang bị bệnh sao? - và rẽ vào dãy nhà Nissen. Ông không thể cứ thế chết đi mà không nói vài lời - lời gì? Chúa ơi, ông cầu nguyện, xin hãy làm cho đó là lời đúng, nhưng khi ông gõ cửa, không ai đáp, không một lời nào. Có lẽ cô ấy đang ở bãi biển với Bagster.

Cửa không khóa, ông bước vào. Trong đầu ông, hàng năm trời đã trôi qua, nhưng ở đây, thời gian bất động. Đây hẳn là chai gin thằng nhỏ đã uống trộm - từ khi nào? Những cái ghế cấp cho sĩ quan cấp thấp vật vờ im lìm như những đạo cụ trong một phim trường: ông còn chẳng thể tin chúng có bao giờ nhúc nhích, cũng như tấm đệm mà - có phải là bà Carter không? – tặng. Trên giường, chiếc gối vẫn chưa được vỗ lại sau giấc ngủ trưa và ông đặt tay lên khuôn trũng còn ấm mà cái đầu in lại. Chúa ơi, ông cầu nguyện, tôi sẽ vĩnh viễn xa khỏi tất cả: xin hãy để cô ấy trở về kịp lúc: xin hãy để tôi thấy cô ấy một lần. Nhưng nắng nhạt dần mà không ai đến. Sáu rưỡi Louise sẽ từ bãi biển trở về. Ông không thể chờ lâu hơn nữa.

Mình phải để lại một lời nhắn nào đó, ông nghĩ, và có lẽ trước khi mình viết xong, cô ấy sẽ về. Ông thấy một cơn buốt nhói lên trong ngực, kinh khủng hơn bất kỳ cơn đau nào ông từng sáng tác ra cho Travis. Mình sẽ không bao giờ chạm vào cô ấy lần nữa. Mình sẽ để lại cái miệng kia cho những kẻ khác trong hai mươi năm tiếp theo. Hầu hết những người yêu nhau tự lừa mình với ý nghĩ về đoàn tụ vĩnh cửu bên kia nấm mồ, nhưng ông đã biết mọi đáp án: ông sẽ chỉ bước tới vĩnh cửu của đọa đày, bị tước đoạt tất thảy. Ông tìm giấy và chẳng thấy gì ngoài một cái phong bì cũ nát; ông tưởng thấy một cuốn sổ, nhưng hóa ra là cuốn album tem. Ông cầm nó lên, vô thức mở ra và thấy định mệnh giáng thêm một đòn chí mạng: ông nhớ ra con tem ấy, vì sao nó ố vết gin. Cô sẽ phải gỡ nó ra, ông nghĩ, nhưng chẳng sao: cô đã bảo ông rằng không thể thấy được chỗ con tem bị gỡ. Không có mẩu giấy nào cả trong túi ông, và trong cơn ghen đột ngột bốc lên, ông nhặt con tem nhỏ màu xanh in hình George V lên, viết lên đằng sau bằng bút mực: Anh yêu em. Cô ấy hẳn sẽ chẳng bao giờ gỡ nó ra, ông nghĩ, tàn nhẫn và thất vọng, những lời không thể xóa. Trong khoảnh khắc, ông thấy như thể mình vừa gài mìn bẫy kẻ thù, nhưng đây không phải là kẻ thù. Chẳng phải ông đang dọn mình khỏi đường cô đi như dọn một xác tàu nguy hiểm sao? Ông đóng cửa sau lưng và chậm chạp đi xuống đồi - cô ấy vẫn có thể về kịp. Mọi điều ông làm bây giờ đều là lần cuối - một cảm giác lạ lùng. Ông sẽ chẳng bao giờ đi con đường này nữa, và năm phút sau, lấy ra một chai gin mới khỏi tủ, ông nghĩ: mình sẽ chẳng bao giờ mở một chai nào nữa. Những hành động có thể lặp lại càng lúc càng ít đi. Giờ sẽ chỉ còn một hành động không thể lặp lại, hành động nuốt. Ông đứng đó, cầm chai gin dựng thẳng và nghĩ: rồi Địa Ngục sẽ bắt đầu, và họ sẽ được an toàn giải thoát khỏi mình, Helen, Louise, và Người.

Bữa tối, ông cố tình nói về tuần tới: ông trách mình đã nhận lời mời của Fellowes và giải thích rằng bữa tối với Chánh thanh tra ngày hôm sau là không tránh được - có quá nhiều thứ phải bàn.

‘Không còn hy vọng nào sao, Ticki, rằng sau một thời gian nghỉ, một thời gian dài nghỉ ngơi...?’

‘Sẽ không công bằng nếu anh tiếp tục - đối với họ cũng như đối với em. Anh có thể ngã quỵ bất cứ lúc nào.’

‘Thực sự anh sẽ nghỉ hưu sao?’

‘Phải.’

Bà bắt đầu bàn chuyện họ sẽ sống ở đâu. Ông thấy rã rời khủng khiếp và phải thu hết ý chí để tỏ vẻ quan tâm tới ngôi làng huyễn tưởng này hay kia, tới kiểu nhà ông biết họ sẽ chẳng bao giờ ở. ‘Em không muốn sống ở ngoại ô,’ Louise nói. ‘Em thích ở một ngôi nhà đóng ván nghiêng ở Kent, như thế đến London sẽ rất tiện.’

Ông nói, ‘Tất nhiên còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của chúng ta nữa. Lương hưu của anh không cao lắm đâu.’

‘Em sẽ làm việc,’ Louise nói. ’Thời chiến thì dễ thôi.’

‘Anh hy vọng chúng ta sẽ xoay sở được mà không cần phải vậy.’

‘Em không bận tâm đâu.’

Đến giờ đi ngủ. Ông thấy vô cùng không muốn để bà đi. Chẳng còn gì để làm một khi bà đã đi, ngoài việc chết. Ông không biết phải làm thế nào để giữ bà lại - họ đã nói về mọi chủ đề có chung. Ông nói, ‘Anh sẽ ngồi đây một lúc. Có lẽ anh sẽ thấy buồn ngủ nếu anh thức thêm nửa tiếng hay hơn. Anh không muốn uống Evipan nếu có thể.’

‘Đi biển về làm em mệt quá. Em đi ngủ đây.’

Khi cô ấy đi rồi, ông nghĩ, mình sẽ phải một mình vĩnh viễn. Tim đập dồn dập, ông chìm trong cơn chóng mặt - cảm giác về một sự phi thực khủng khiếp. Mình vẫn không tin mình chuẩn bị làm điều này. Giờ mình sẽ đứng dậy, đi ngủ, và cuộc sống sẽ bắt đầu lại. Không gì, không ai có thể ép mình chết. Dù giọng nói không còn cất lên từ hang sâu trong bụng, ông thấy như có những ngón tay chạm vào ông, gửi đến những lời câm lặng của sự giày vò, cố gắng giữ lấy ông…

‘Chuyện gì thế, Ticki? Trông anh ốm quá. Anh cũng đi ngủ đi.’

‘Anh không ngủ đâu,’ ông ngoan cố nói.

            ‘Em không thể làm gì cho anh sao?’ Louise hỏi. ‘Anh yêu, em sẽ làm bất kỳ điều gì…’ Tình yêu của bà như lệnh tử hình.

‘Không có gì đâu, em yêu,’ ông nói. ‘Anh không nên làm em thức.’ Nhưng ngay khi bà quay bước, tiến về phía cầu thang, ông lại cất tiếng. ‘Đọc gì đó cho anh nhé,’ ông nói, ‘hôm nay em có một cuốn sách mới mà. Đọc gì đó cho anh đi.’

‘Anh sẽ không thích đâu, Ticki. Là thơ.’

‘Chẳng sao. Biết đâu nó giúp anh ngủ được.’ Ông gần như không nghe bà đọc. Người ta vẫn nói không thể yêu hai người phụ nữ cùng lúc, nhưng cảm xúc này là gì nếu không phải tình yêu? Nỗi cuống cuồng thu lấy những điều sẽ không bao giờ còn thấy lại? Mái tóc ngả bạc, những nét căng thẳng trên gương mặt, thân hình nặng nề buộc chặt ông hơn mọi sắc đẹp trên đời. Bà không đi ủng chống muỗi, dép đi trong nhà của bà đáng ra phải sửa lại từ lâu. Sắc đẹp không phải điều ta yêu, ông nghĩ, mà là thất bại - thất bại của sự già đi, thất bại của thần kinh hoảng loạn, thất bại của cơ thể. Sắc đẹp giống như thành công: ta không thể yêu nó lâu. Ông cảm thấy một ham muốn khủng khiếp, muốn bảo vệ bà - nhưng đó chính là điều mình sẽ làm, mình sẽ bảo vệ cô ấy khỏi mình vĩnh viễn. Một vài lời bà đọc thoáng làm ông chú ý:

Chúng ta tất cả đều đang rơi. Bàn tay này cũng đang rơi-

ai cũng mắc bệnh rơi, không kẻ nào cưỡng được.

Nhưng luôn còn Một Đấng, với bàn tay dịu dàng

để chúng sinh không thể nào rơi mãi.[1]

Những lời này nghe có vẻ giống sự thật, nhưng ông gạt đi - an ủi đâu đến dễ dàng như thế. Ông nghĩ, đôi tay ấy sẽ chẳng bao giờ đón được cú rơi của mình: mình lọt qua kẽ ngón tay, mình nhầy nhụa vì dối trá và phản trắc. Lòng tin là ngôn ngữ chết ông đã quên ngữ pháp.

‘Anh yêu, anh đã chập chờn ngủ rồi.’

‘Chốc nữa.’

‘Em lên lầu đây. Đừng thức khuya quá. Có lẽ tối nay anh sẽ không cần Evipan.’

Ông nhìn bà bước đi. Con thằn lằn nằm im trên tường. Trước khi bà đến thang, ông gọi bà lại. ‘Nói chúc ngủ ngon đi, Louise, trước khi em đi. Lát nữa có thể em đã ngủ rồi.’

Bà hôn ông qua loa lên trán và ông hờ hững vuốt tay bà. Đêm cuối cùng này không được có gì bất thường, không gì có thể làm bà hối tiếc khi nhớ lại. ‘Chúc ngủ ngon, Louise. Em biết anh yêu em chứ,’ ông nói, cẩn thận làm ra vẻ ơ hờ.

‘Tất nhiên, em cũng yêu anh.’

‘Ừ. Chúc ngủ ngon, Louise.’

‘Chúc ngủ ngon, Ticki!’ Đó là tất cả những gì ông có thể làm được trong vùng an toàn.

Ngay khi nghe tiếng cửa đóng, ông lấy ra hộp thuốc lá trong đó để mười liều Evipan. Ông thêm hai liều nữa cho chắc - dùng quá hai liều trong mười ngày chắc chắn không thể bị coi là khả nghi. Sau đó ông làm một hơi whisky dài và ngồi im, đợi lòng can đảm đến, thuốc giữ trong lòng bàn tay. Giờ thì, ông nghĩ, mình đã một mình tuyệt đối: điểm đóng băng đây rồi.

Nhưng ông lầm. Bản thân sự cô độc cũng có giọng nói. Nó nói với ông. Vứt những viên thuốc kia đi. Ông sẽ không bao giờ gom được đủ nữa đâu. Ông sẽ được cứu. Đừng đóng kịch nữa. Đi lên lầu, trèo lên giường và ngủ một giấc đẫy. Đến sáng thằng nhỏ sẽ đánh thức ông, và ông sẽ lái xe đến sở cảnh sát: một ngày làm việc bình thường. Giọng nói kéo dài từ ‘bình thường’ như thể nó hẳn sẽ nhấn vào từ ‘bình yên’ hay ‘hạnh phúc’.

‘Không,’ Scobie bật thành tiếng, ‘không.’ Ông tọng những viên thuốc vào miệng, sáu viên một lần và uống trôi hết trong hai ngụm whisky. Rồi ông mở nhật ký và viết cạnh ngày 12 tháng Mười Một, Ghé qua chỗ H.R., đi vắng; nhiệt độ lúc hai giờ chiều và đột ngột bỏ dở như thể đúng lúc đó cơn đau chung quyết đã tóm được ông. Sau đó ông ngồi thẳng người, chờ bất cứ dấu hiệu nào của cái chết đang đến - sự chờ đợi như dài vô tận; ông không hề biết nó sẽ đến như thế nào. Ông cố cầu nguyện, nhưng Kinh Kính Mừng tuột khỏi trí nhớ ông, và ông nghe thấy nhịp tim mình dội lên như tiếng đồng hồ điểm. Ông thử đọc Kinh Sám Hối, nhưng khi đến đoạn ‘tôi hối hận và cầu xin tha thứ’, một đám mây dồn lên ở cửa và bọc lấy toàn bộ căn phòng; ông không nhớ được mình hối hận điều gì nữa. Ông phải giữ thẳng mình bằng hai tay, nhưng ông quên cả lý do vì sao phải làm như vậy. Đâu đó xa xa, ông nghĩ mình nghe thấy âm thanh của đau đớn. ‘Bão,’ ông bật thành lời, ‘bão sắp tới,’ khi những đám mây dồn lên. Ông cố đứng dậy để đóng cửa sổ. ‘Ali,’ ông gọi, ‘Ali.’ Như thể ai đó bên ngoài căn phòng đang tìm ông, gọi ông, và ông thu hết sức tàn ra dấu rằng mình đang ở đây. Ông gượng dậy trên hai chân, nghe tiếng tim thình thịch lời đáp lại. Ông còn một lời muốn nói, nhưng bóng tối và cơn bão đã đẩy ép lời trở lại lồng ngực ông. Và suốt thời gian ấy, bên ngoài ngôi nhà, bên ngoài thế giới đang đập uỳnh uỳnh như búa bổ bên tai ông, ai đó lang thang, cố tìm cách đi vào, ai đó đang cầu xin cứu giúp, ai đó đang cần ông. Rồi như vô thức, tự động vì lời gọi khẩn khoản, vì tiếng cầu cứu của nạn nhân, Scobie cố bứt mình hành động. Ông vét ý thức lên từ một khoảng cách vô biên, tìm cách trả lời. Ông bật ra, ‘Chúa ơi, tôi yêu...’ nhưng cố sức ấy quá lớn; ông không còn cảm thấy cơ thể mình khi nó đổ vật xuống sàn hay nghe tiếng keng rất khẽ của mặt vòng khi nó lăn tròn như một đồng xu vào bên dưới tủ đá - vị thánh chẳng ai có thể nhớ tên.

 


[1] Bài thơ ‘Mùa thu’ của Rainer Maria Rilke (1875-1926).

Thêm vào giỏ hàng thành công