QUYỂN 3 - Phần 1 - Chương 4 (1)
1
Ông có thể thấy Yusef còn làm việc rất khuya trong văn phòng trên bến. Tòa nhà hai tầng nhỏ màu trắng đứng cạnh cầu tàu bằng gỗ nằm trên rìa lục địa châu Phi, chỉ ở bên kia những bể chứa xăng quân đội: một tia sáng lóe lên bên dưới rèm cửa sổ. Một viên cảnh sát chào Scobie khi ông đang đi giữa các thùng hàng. ‘Ổn cả chứ, hạ sĩ?’
‘Ổn cả, thưa ngài.’
‘Anh đã tuần tra bên Kru Town chưa?’
‘Rồi, thưa ngài. Hoàn toàn yên tĩnh.’ Lời đáp tức thì cho ông biết nó hoàn toàn sai sự thật.
‘Lũ chuột cầu cảng bắt đầu ra khỏi ổ rồi chứ?’
‘Ồ không, thưa ngài. Tất cả im lìm như nhà mồ vậy.’ Câu văn hoa nhạt nhẽo này cho thấy cậu ta đã học ở trường dòng.
‘Thôi được, chúc ngủ ngon.’
‘Chúc ngủ ngon, thưa ngài.’
Scobie đi tiếp. Đã nhiều tuần ông không gặp Yusef - lần cuối là đêm ông ta đến hăm dọa. Giờ ông cảm thấy một gắn bó lạ lùng đối với kẻ tra tấn. Tòa nhà nhỏ màu trắng như nam châm hút lấy ông, như thể ẩn giấu ở đó là người bầu bạn của ông, người duy nhất ông có thể tin tưởng. Ít nhất thì kẻ hăm dọa biết ông rõ hơn bất kỳ ai khác: ông có thể ngồi đối diện thân hình phì nộn quái đản ấy và nói toàn bộ sự thật. Trong thế giới mới của những lời nói dối này, kẻ hăm dọa là một chuyên gia: ông ta biết đường đi lối lại: ông ta có thể đưa ra lời khuyên: thậm chí giúp đỡ… Bên kia đống thùng gỗ, Wilson hiện ra. Đèn pin của Scobie rọi lên gương mặt anh như một tấm bản đồ.
‘Chà, Wilson,’ Scobie nói, ‘anh ra ngoài muộn nhỉ.’
‘Vâng,’ Wilson nói, và Scobie bồn chồn nghĩ, anh ta mới ghét mình làm sao.
‘Anh có giấy thông hành vào bến chứ?’
‘Vâng.’
‘Tránh xa phía Kru Town nhé. Đến đó một mình không an toàn đâu. Mũi không chảy máu nữa chứ?’
‘Không,’ Wilson nói. Anh không động đậy; cứ như thể đó đã luôn là tư thế của anh - đứng chắn đường: khiến ta phải đi vòng qua.
‘Vậy thì, tôi sẽ chúc ngủ ngon, Wilson. Anh có thể ghé nhà tôi bất cứ khi nào. Louise ...’
Wilson nói, ‘Tôi yêu cô ấy, Scobie.’
‘Tôi cũng nghĩ anh yêu cô ấy,’ Scobie nói. ‘Cô ấy thích anh, Wilson ạ.’
‘Tôi yêu cô ấy,’ Wilson nhắc lại. Anh giật nghiến tấm vải dầu phủ lên thùng hàng và nói, ‘Ông không hiểu điều đó nghĩ là gì đâu.’
‘Cái gì nghĩa là gì?’
‘Tình yêu. Ông không yêu ai ngoài chính mình, con người bẩn thỉu của ông.’
‘Anh căng thẳng quá rồi, Wilson. Vì khí hậu này đấy. Đi nằm đi.’
‘Ông sẽ không làm vậy nếu ông yêu cô ấy.’ Trên làn sóng đen, từ một con tàu vô hình, vẳng lên tiếng máy quay đĩa phát ra một khúc nhạc nhói tim. Một lính gác thuộc đội Cánh sát thực địa hô ‘đứng im’ và ai đó đáp lại một mật khẩu. Scobie hạ thấp chiếc đèn cho tới khi nó chỉ còn rọi sáng ủng chống muỗi của Wilson. Ông nói, ‘Tình yêu không đơn giản như anh nghĩ đâu, Wilson. Anh đọc quá nhiều thơ rồi.’
‘Ông sẽ làm gì nếu tôi nói với cô ấy tất cả - về bà Rolt?’
‘Nhưng anh đã nói rồi, Wilson. Nói những gì anh tin. Nhưng cô ấy thích câu chuyện của tôi hơn.’
‘Một ngày nào đó, tôi sẽ hủy hoại ông, Scobie.’
‘Làm vậy có ích gì cho Louise không?’
‘Tôi có thể làm cô ấy hạnh phúc,’ Wilson ngây thơ tuyên bố, giọng vỡ ra, đưa Scobie quay lại mười lăm năm - về một thanh niên trẻ hơn nhiều hình hài đã lấm láp này, người đang đứng trên rìa đại dương nghe Wilson nói, nhận ra bên dưới những lời kia tiếng nước âm thầm ăn mòn gỗ. Ông ôn tồn nói, ‘Anh sẽ cố. Tôi biết anh sẽ cố. Có lẽ…’ nhưng chính ông cũng không biết câu phải kết thúc câu thế nào, lời an ủi mơ hồ đối với Wilson vừa quét qua óc đã lại xoẹt đi ngay. Thay vào đó, cơn bực bội ập xuống hình hài lãng mạn kia, lóng ngóng bên thùng gỗ, kẻ chẳng hiểu gì nhưng lại biết quá nhiều. Ông nói, ‘nhân tiện, tôi mong anh dừng do thám tôi.’
‘Đó là công việc của tôi.’ Wilson thú nhận, đôi ủng lê vào vùng sáng đèn pin.
‘Những gì anh tìm được chẳng có gì quan trọng.’ Ông để lại Wilson bên bể chứa dầu và đi tiếp. Khi bước lên những bậc thang dẫn tới văn phòng Yusef, ông có thể nhìn thấy, khi ngoái lại, bóng tối mịt mù đặc lên nơi Wilson đang đứng, bất động, trừng trừng, căm hận. Anh ta sẽ về nhà và thảo một báo cáo. ‘Lúc 11 giờ 25, tôi thấy Thiếu tá Scobie, rõ ràng là đã hẹn trước...’
Scobie gõ cửa và bước vào đúng lúc Yusef đang nửa nằm nửa ngồi sau bàn làm việc, chân gác lên bàn, ra lệnh cho một thư ký da đen. Vừa nói mà không dừng câu - ‘năm trăm khoanh vải hoa văn bao diêm, bảy trăm năm mươi khoanh vải hoa văn xô và cát, sáu trăm cuộn lụa nhân tạo chấm bi’ - Yusef vừa ngước nhìn Scobie, hy vọng xen lo lắng. Rồi ông ta sẵng giọng bảo thư ký, ‘Ra ngoài. Nhưng nhớ trở lại. Bảo thằng nhỏ tôi không gặp ai hết.’ Ông bỏ chân khỏi bàn, ngồi thẳng dậy, đưa bàn tay nhão nhợt ra, ‘Chào mừng, Thiếu tá Scobie,’ rồi thả nó rơi xuống như một mảnh vải không dùng đến. ‘Đây là lần đầu tiên ông hạ cố đến văn phòng của tôi đấy, Thiếu tá Scobie.’
‘Tôi cũng không biết vì sao mình lại đến đây, Yusef ạ.’
‘Đã lâu rồi chúng ta không gặp nhau.’ Yusef ngồi xuống và úp cái đầu lớn mệt mỏi vào lòng bàn tay như vào một cái đĩa. ‘Thời gian trôi đi với hai người thật khác nhau làm sao - nhanh hay chậm tùy vào tình bạn họ cảm thấy.’
‘Hẳn có một bài thơ Syria về điều đó.’
‘Có đấy, Thiếu tá Scobie,’ ông ta vội vàng nói.
‘Ông nên làm bạn với Wilson, không phải tôi, Yusef. Cậu ta đọc thơ. Còn đầu óc tôi là đầu óc văn xuôi.’
‘Whisky nhé, Thiếu tá Scobie?’
‘Tôi không từ chối đâu.’ Ông ngồi xuống bên kia bàn, ống xifông xanh vẫn đứng ngăn giữa họ.
‘Bà Scobie thế nào rồi?’
‘Sao ông lại gửi viên kim cương cho tôi, Yusef?’
‘Tôi nợ ông, Thiếu tá Scobie.’
‘Ồ không, đâu phải. Ông đã trả đủ cho tôi bằng tờ thư đó.’
‘Tôi đã cố quên rằng chuyện xảy ra như thế. Tôi khăng khăng với mình rằng đó thực sự là vì tình bạn - trong sâu thẳm, đó là tình bạn.’
‘Tự dối mình không bao giờ là tốt cả, Yusef ạ. Ta quá dễ nhìn thấu lời nói dối.’
‘Thiếu tá Scobie, nếu tôi gặp ông thường xuyên hơn, tôi sẽ trở thành một người tốt hơn.’
Soda lục bục trong ly. Yusef tu hùng hục. Ông ta nói, ‘Trái tim tôi có thể cảm nhận được, Thiếu tá Scobie, rằng ông đang lo âu, trầm uất...Tôi đã luôn ước khi gặp rắc rối ông sẽ đến tìm tôi.’
Scobie nói, ‘Tôi từng cười vào ý nghĩ đó - rằng sẽ có bao giờ đến lúc tôi phải tìm đến ông.’
‘Ở Syria chúng tôi có truyện về con sư tử và con chuột...’
‘Chúng tôi cũng có truyện tương tự, Yusef. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ ông là con chuột, còn tôi thì chẳng phải sư tử gì. Không hề là sư tử.’
‘Ông gặp rắc rối vì bà Rolt và vợ ông phải không, Thiếu tá Scobie?’
‘Phải.’
‘Ông không cần phải thấy xấu hổ với tôi, Thiếu tá Scobie. Đời tôi đã qua kha khá rắc rối với đàn bà. Giờ thì đỡ hơn vì tôi biết cách rồi. Cách đối phó là kệ xác họ, Thiếu tá Scobie ạ. Ông nói với từng người, ‘Tôi chẳng quan tâm quái gì đâu. Tôi thích ngủ với ai thì ngủ. Cô chịu được thì chịu, không thì biến. Tôi cóc quan tâm.’’ Họ sẽ luôn ở lại với ông, Thiếu tá Scobie.’ Ông ta thở dài vào ly whisky. ‘Đôi khi tôi ước họ đừng làm thế.’
‘Tôi đã đi rất xa, làm rất nhiều, Yusef ạ, để giữ cho vợ tôi đừng biết.’
‘Tôi biết ông đã đi xa đến đâu, Thiếu tá Scobie.’
‘Vẫn chưa đến tận cùng. Chuyện kim cương là quá nhỏ so với...’
‘So với?’
‘Ông không hiểu được đâu. Dù sao thì giờ cũng có người khác biết rồi - Ali.’
‘Nhưng ông tin Ali mà?’
‘Tôi nghĩ là tôi tin nó. Nhưng nó cũng biết về ông. Đêm qua nó vào và thấy viên kim cương sờ sờ ở đó. Thằng nhỏ của ông rất thiếu kín kẽ.’
Bàn tay to bè khẽ cựa trên bàn. ‘Để tôi xử lý thằng nhỏ.’
‘Em cùng mẹ khác cha của Ali là thằng nhỏ của Wilson. Chúng qua lại với nhau.’
‘Thế thì đúng là tệ thật,’ Yusef nói.
Ông đã xả ra tất cả những sầu muộn của mình - tất cả trừ điều khủng khiếp nhất. Ông có cảm giác lạ lùng của việc lần đầu tiên trong đời chuyển được gánh nặng cho người khác. Yusef đã nhận nó - ông ta rõ ràng đã gánh lấy nó. Ông ta dựng thẳng người trên ghế rồi lê cái bụng ngấn mỡ của mình ra cửa sổ, đăm đăm nhìn bức rèm chắn nắng màu xanh như thể đang chiêm ngưỡng phong cảnh nào. Một bàn tay trườn lên miệng: ông ta cắn móng tay - cạch, cạch, cạch, răng bập vào từng móng. Rồi ông ta bắt đầu với tay kia. ‘Thực sự thì tôi không nghĩ chuyện đó có gì đáng lo đâu,’ Scobie nói. Ông cảm động vì sự bồn chồn kia, như thể ông đã vô tình khởi động một cỗ máy hùng mạnh mà chính ông cũng không điều khiển nổi.
‘Không thể tin là chuyện kinh khủng lắm,’ Yusef nói. ‘Ta phải luôn có những thằng nhỏ tin được. Ông phải luôn biết nhiều về chúng hơn chúng biết về ông.’ Hóa ra đây là khái niệm lòng tin của ông ta. Scobie nói, ‘tôi từng tin được nó.’
Yusef nhìn những móng tay nham nhở và cắn thêm miếng nữa. ‘Đừng lo. Tôi sẽ không để ông lo lắng đâu. Cứ giao mọi thứ cho tôi, Thiếu tá Scobie. Tôi sẽ giúp ông xác định xem liệu còn có thể tin nó được không.’ Ông ta đưa ra tuyên bố sửng sốt, ‘Tôi sẽ chăm sóc cho ông.’
‘Ông định làm thế nào?’ Mình chẳng hề bực bội, ông nghĩ, ngạc nhiên uể oải. Mình đang được chăm sóc. Một dạng bình yên nhà trẻ vỗ về buông xuống.
‘Ông không được hỏi gì tôi, Thiếu tá Scobie. Lần này ông phải giao mọi thứ cho tôi. Tôi biết cách.’ Rời cửa sổ, mắt Yusef hướng về Scobie như hai ống kính thiên văn đóng kín, trống rỗng và cứng lạnh kim loại. Ông ta nói, lòng bàn tay rộng ẩm ướt phác động tác vỗ về của một người bảo mẫu, ‘Thiếu tá Scobie, ông chỉ cần viết một mẩu giấy nhắn cho thằng nhỏ của ông, gọi nó đến đây. Tôi sẽ nói chuyện với nó. Thằng nhỏ của tôi sẽ mang cho nó.’
‘Nhưng Ali không biết đọc.’
‘Vậy thì còn tốt hơn. Ông hãy đưa món đồ đặc trưng nào đó cho thằng nhỏ của tôi để chứng minh ông lệnh cho nó đến. Cái nhẫn dấu của ông chẳng hạn.’
‘Ông định làm gì, Yusef?’
‘Tôi định giúp ông, Thiếu tá Scobie. Chỉ vậy thôi.’ Chậm chạp, ngần ngại, Scobie kéo chiếc nhẫn. Ông nói, ‘Nó đã ở với tôi mười lăm năm. Tôi đã luôn tin nó cho đến lúc này.’
‘Ông sẽ thấy,’ Yusef nói. ‘Mọi thứ sẽ ổn.’ Ông ta mở rộng lòng bàn tay nhận lấy chiếc nhẫn; tay họ chạm nhau: cứ như một cam kết giữa những kẻ đồng mưu. ‘Chỉ vài lời thôi.’
‘Cái nhẫn không chịu tuột ra,’ Scobie nói. Ông cảm thấy một ý muốn kháng cự lạ lùng. ‘Dù sao cũng chẳng cần. Nó sẽ đến nếu thằng nhỏ của ông bảo nó là tôi gọi.’
‘Tôi không nghĩ vậy. Chúng không thích đến cầu cảng ban đêm.’
‘Nó sẽ ổn thôi. Nó đâu phải đi một mình. Thằng nhỏ của ông sẽ đi cùng nó.’
‘Ồ phải, phải, tất nhiên. Nhưng tôi vẫn nghĩ - nếu ông đưa vật gì đó để chứng minh - ừm, rằng đây không phải là cái bẫy. Ông biết đấy, thằng nhỏ của Yusef cũng không đáng tin hơn Yusef.’
‘Vậy thì mai hẵng bảo nó đến.’
‘Tối nay tốt hơn,’ Yusef nói.
Scobie lần trong túi: chuỗi tràng hạt đứt cọ lên móng tay ông. Ông nói, ‘Bảo nó cầm theo cái này, nhưng không cần thiết...’ và im lặng, chằm chằm nhìn lại đôi mắt trống rỗng kia.
‘Cảm ơn ông,’ Yusef nói. ‘Thế này là hợp lý nhất.’ Đến cửa, ông ta nói, ‘Tự nhiên như ở nhà nhé, Thiếu tá Scobie. Ông rót cho mình thêm ly nữa đi. Tôi phải dặn dò thằng nhỏ của tôi...’
Ông ta đi một lúc lâu. Scobie tự rót ly whisky thứ ba và rồi, vì căn phòng nhỏ quá bí khí, ông kéo tấm rèm nhìn ra biển sau khi đã tắt đèn, để những cơn gió thưa thớt từ vịnh len vào. Trăng đang lên, tàu tiếp tế hải quân lấp lánh như một tảng băng xám. Bồn chồn, ông đi về phía cửa sổ còn lại, nhìn những lán kho và gỗ chất đống của dân bản địa. Ông thấy thư ký của Yusef đang trên đường về từ đó, và ông nghĩ nếu thuộc hạ của Yusef có thể một mình đi qua địa bàn của lũ chuột cầu cảng thì hẳn Yusef phải có cách trị chúng. Mình đến xin được giúp đỡ, ông tự nhủ, và mình đang được chăm sóc - bằng cách nào, ai phải trả giá đây? Hôm nay là Lễ Các Thánh. Ông nhớ mình đã tự động, gần như không sợ hãi hay hổ thẹn, quỳ xuống trước lan can bàn thờ lần thứ hai, nhìn linh mục bước tới.
Kể cả hành động buông mình đọa lạc cũng có thể trở nên vặt vãnh như một thói quen. Ông nghĩ: tim mình đã chai sạn rồi, và ông hình dung những vỏ sò hóa thạch nhặt trên bãi biển: những vần vũ đá chằng chịt như mạch máu. Lần đầu, ta có thể thấy mình đánh Chúa quá tay, nhưng sau đó liệu ta còn quan tâm nữa hay không? Ông thấy mình đã tha hóa quá mức, tới nỗi chẳng ích gì cố nữa. Chúa trú trong cơ thể ông, và cơ thể ông đang băng hoại từ trong ra ngoài chính vì hạt mầm ấy.
‘Nóng quá à?’ giọng nói của Yusef vang lên. ‘Chúng ta cứ để phòng tối nhé. Khi ở cùng một người bạn, bóng tối cũng trở nên dịu dàng.’
‘Ông đi lâu quá đấy.’
Yusef cố tình mơ hồ đáp, ‘Có nhiều chuyện phải lo.’ Scobie cảm thấy bây giờ hoặc không bao giờ, ông phải hỏi kế hoạch của Yusef là gì, nhưng nỗi rã rời của sự băng hoại làm lưỡi ông cứng lại.
‘Phải, nóng quá,’ ông nói, ‘để xem có cơn gió thổi ngang nào không.’ Rồi ông mở cửa sổ nhìn ra bến. ‘Không biết Wilson đã về nhà chưa.’
‘Wilson?’
‘Cậu ta thấy tôi đến đây.’
‘Ông không phải lo, Thiếu tá Scobie. Tôi nghĩ có thể làm thằng nhỏ của ông trở nên đáng tin được.’
Ông hỏi, nhẹ nhõm và hy vọng, ‘Ý ông là ông nắm được thóp nó sao?’
‘Đừng hỏi. Ông sẽ thấy.’ Hy vọng và nhẹ nhõm thoắt tàn lụi. Ông nói, ‘Yusef, tôi phải biết...’ nhưng Yusef nói, ‘Tôi đã luôn mơ về một đêm đúng như thế này, chúng ta ngồi bên hai ly rượu. Và bóng tối. Và thời gian. Chúng ta nói về những điều quan trọng. Chúa. Gia đình. Thơ. Tôi rất hâm mộ Shakespeare. Quân đoàn hậu cần Hoàng gia có những diễn viên tuyệt vời. Họ khiến tôi kính ngưỡng những viên ngọc của văn chương Anh. Tôi phát cuồng vì Shakespeare. Đôi khi vì Shakespeare, tôi muốn biết đọc, nhưng tôi đã quá già để học rồi. Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ mất trí nhớ. Sẽ không tốt cho việc kinh doanh, và dù tôi không chỉ sống để kinh doanh, tôi phải làm kinh doanh để sống. Có quá nhiều chủ đề tôi muốn nói với ông. Tôi muốn nghe triết lý sống của ông.’
‘Tôi không có triết lý nào cả.’
‘Mảnh vải bông ông giữ chắc trong tay khi đi rừng.’
‘Tôi lạc đường rồi.’
‘Người như ông không thể lạc được, Thiếu tá Scobie. Tôi vô cùng ngưỡng mộ nhân cách của ông. Ông là một người công chính.’
‘Tôi chưa bao giờ là vậy cả, Yusef. Tôi đã không biết mình, chỉ có thế thôi. Có một câu cách ngôn, ông biết đấy, về việc chính ở nơi kết thúc mới có thể thực sự bắt đầu. Khi tôi ra đời, tôi đã ngồi đây uống whisky với ông, biết...’
‘Biết gì, Thiếu tá Scobie?’
Scobie uống cạn ly. Ông nói, ‘Chắc giờ này thằng nhỏ của ông đã đến nhà tôi.’
‘Nó có xe đạp.’
‘Vậy thì chúng phải trên đường về rồi.’
‘Chúng ta không được sốt ruột. Có thể phải ngồi chờ lâu đấy, Thiếu tá Scobie. Ông biết bọn nhỏ thì thế nào mà.’
‘Tôi đã nghĩ là tôi biết.’ Ông nhận ra bàn tay trái đang run lên trên bàn. Ông kẹp nó vào giữa hai đầu gối để giữ nó nằm im. Ông nhớ chuyến đi dọc biên giới: vô số bữa ăn dưới bóng rừng, Ali nấu gì đó trong một hộp cá mòi cũ, và một lần nữa chuyến xe cuối cùng tới Bamba hiện lên trong trí ông - cuộc chờ đợi dằng dặc ở bến phà, cơn sốt ập xuống, Ali luôn túc trực. Ông lau mồ hôi khỏi trán và thoáng nghĩ: Đây chỉ là một trận ốm, một cơn sốt, mình sẽ sớm tỉnh lại. Những ghi chép sáu tháng qua - đêm đầu tiên trong căn nhà Nissen, lá thư nói quá nhiều, kim cương lậu, những lời dối trá, lĩnh Thánh Thể để làm yên lòng một người phụ nữ - tất cả có vẻ phi thực như những cái bóng đổ lên chiếc giường dưới ngọn đèn bão. Ông tự nhủ: mình chuẩn bị tỉnh rồi đây. Và ông chợt nghe thấy tiếng còi báo động hệt như đêm hôm đó, đêm hôm đó… Ông lắc đầu, bừng tỉnh, để nhìn Yusef đang ngồi trong bóng tối bên cái bàn, để thấy vị whisky, và để biết rằng mọi thứ vẫn y như cũ. Ông mệt mỏi nói, ‘Giờ này đáng ra chúng đã phải đến rồi.’
Yusef nói, ‘Ông biết bọn nhỏ thì thế nào mà. Chúng bị còi báo động dọa cho phát khiếp, phải tìm chỗ trốn. Chúng ta phải ngồi đây nói chuyện với nhau thôi, Thiếu tá Scobie ạ. Đây là cơ hội tuyệt vời đối với tôi. Tôi chỉ muốn trời đừng bao giờ sáng.’
‘Sáng? Tôi sẽ không chờ Ali đến sáng đâu.’
‘Có lẽ nó sợ. Nó biết ông đã phát hiện ra và sẽ bỏ trốn. Đôi khi mấy thằng nhỏ trốn về rừng...’
‘Ông nói vớ vẩn gì thế, Yusef.’
‘Thêm whisky nhé, Thiếu tá Scobie?’
‘Được rồi. Được rồi.’ Ông nghĩ: mình cũng đang chìm vào rượu sao? Ông thấy như mình đã mất dạng hình, chẳng còn gì để ai có thể chạm và và nói: đây đúng là Scobie.
‘Thiếu tá Scobie, có tin đồn rằng cuối cùng thì công lý cũng được thực thi và ông sẽ trở thành Chánh thanh tra.’
Ông thận trọng nói, ‘Tôi không nghĩ sẽ có bao giờ đến lúc đó.’
‘Tôi chỉ muốn nói, Thiếu tá Scobie, rằng ông không cần lo về tôi. Tôi muốn tốt cho ông, không muốn gì hơn thế. Tôi sẽ biến khỏi đời ông, Thiếu tá Scobie. Tôi sẽ không làm một tảng đá cối xay ngáng đường đâu. Tôi có tối nay là đủ thỏa mãn rồi - cuộc trò chuyện dài trong bóng tối về mọi thứ. Tôi sẽ nhớ đêm nay mãi. Ông sẽ không phải lo đâu. Tôi đảm bảo.’ Qua cửa sổ, đằng sau đầu Yusef, từ đâu đó giữa lổn nhổn lán trại và nhà kho, nhói lên một tiếng rú: quằn quại và kinh hãi: nó vật ngược lên như một con vật sắp chết đuối, ngắc ngoải hớp không khí rồi lại rơi tõm vào màn đêm căn phòng, vào ly whisky, tuột xuống bên dưới cái bàn, vào sọt giấy vụn, một tiếng hét đã kết liễu, chẳng được đoái hoài.
Yusef vội vàng lấp liếm, ‘Hẳn một tay xỉn nào đây.’ Ông ta kêu lên sợ hãi, ‘Ông đi đâu thế, Thiếu tá Scobie? Đi một mình không an toàn đâu.’ Đó là lần cuối cùng Scobie còn thấy Yusef, cái bóng dính chặt lên tường, bất động, cứng ngắc và rúm ró, ánh trăng rọi lên ống xifông và hai chiếc ly đã cạn. Viên thư ký đứng dưới chân cầu thang, mắt hau háu nhìn về phía cầu tàu. Ánh trăng lóe lên trong mắt ông ta như những đinh phân luồng đường, chúng báo hiệu hướng phải đi.
Chẳng có động tĩnh gì trong những nhà kho trống hai bên đường hay giữa những thùng hàng và bao tải khi ông rọi đèn tới: nếu lũ chuột cầu cảng mò ra rồi thì tiếng hét kia hẳn đã xua chúng lại vào ổ. Bước chân ông vọng lại giữa hai dãy lán, và đâu đó, một con chó hoang rên ư ử. Chắc phải tìm kiếm vô vọng trong chốn hoang vu rác rưởi này cho tới sáng. Nhưng điều gì đã dẫn ông không chút chần chừ bước xăm xăm đến chỗ cái xác, như thể chính ông đã chọn địa điểm gây án? Rẽ xuống con đường chen chúc vải dầu và gỗ, ông thấy trán giần giật như báo hiệu vị trí của Ali.
Cơ thể nằm co quắp, nhỏ nhoi như một cái lò xo đồng hồ bị hỏng quẳng bên dưới thùng xăng rỗng: trông như thể ai đó đã dùng xẻng hất nó ra đó, chờ cho loài chim ăn xác thối đến rỉa sáng mai. Scobie vẫn còn một thoáng hy vọng trước khi lật vai lại, dẫu sao cả hai thằng nhỏ cũng cùng đi. Cái cổ màu xám hải cẩu đã bị chém chi chít. Phải, ông nghĩ, giờ mình có thể tin nó rồi. Hai con ngươi vàng ệch trừng trừng nhìn ông như đôi mắt một người xa lạ, máu đỏ vằn. Cứ như thể cơ thể này đã cự tuyệt ông, ruồng bỏ ông - ‘Tao không biết mày’. Ông gầm lên điên loạn. ‘Thề có Chúa, mình sẽ tóm được kẻ gây ra chuyện này,’ nhưng sự thiếu thành thực đã hiện ra rành rành bên dưới ám chỉ vô danh kia. Ông tự nhủ: mình chính là kẻ đó. Chẳng phải suốt thời gian trong phòng Yusef, mình đã biết có âm mưu gì đó đang được sắp xếp sao? Sao mình không thể ép hắn trả lời?
Một giọng nói cất lên, ‘Thưa ngài?’
‘Ai đấy?’
‘Hạ sĩ Laminah, thưa ngài…’
‘Anh có tìm được một chuỗi tràng hạt đứt quanh đây không? Tìm cho kỹ.’
‘Tôi không thấy gì cả, thưa ngài…’
Scobie nghĩ: giá mình có thể khóc, giá mình có thể đau đớn; mình đã thực sự trở nên độc ác đến mức ấy rồi sao? Miễn cưỡng, ông nhìn xuống thi thể. Mùi xăng đặc quánh đêm nặng nề và trong thoáng chốc, ông thấy cái xác như một thứ gì đó rất nhỏ, tối, xa xăm - như chuỗi tràng hạt đứt ông đang tìm: những hạt đen rời rạc xâu vào hình Chúa. Ôi Chúa ơi, ông nghĩ, tôi đã giết Người rồi: Người đã phục vụ tôi suốt bao năm qua và cuối cùng chính tôi đã giết Người. Chúa nằm đó bên dưới những thùng xăng. Scobie thấy nước mắt trong miệng, muối trong những vết nứt trên môi. Chúa đã phục vụ tôi và tôi đối xử với Người như thế đấy. Chúa chung thủy với tôi, còn tôi lại không tin Người.
‘Chuyện gì vậy, thưa ngài?’ viên hạ sĩ thì thầm, quỳ bên cái xác.
‘Tôi yêu nó,’ Scobie nói.
