QUYỂN 2 - Phần 2 - Chương 1 (1)
1
‘Đó. Anh nghĩ sao?’ Harris hỏi với niềm tự hào không giấu diếm. Anh đứng ở ngưỡng cửa căn Nissen trong khi Wilson thận trọng di chuyển giữa những món đồ chính phủ cấp như một con chó giữa những gốc rạ.
‘Tốt hơn trong nhà trọ,’ Wilson dè dặt nói, hướng cái miệng chó săn về phía một chiếc ghế bành.
‘Tôi đã nghĩ sẽ làm anh bất ngờ khi anh từ Lagos về.’
Harris đã dùng rèm ngăn căn Nissen thành ba phòng: mỗi người một phòng ngủ và một phòng khách chung. ‘Có một điều làm tôi lo lắng. Tôi không biết liệu có gián hay không.’
‘Dào, chúng ta chỉ chơi trò đó để tống khứ chúng thôi mà.’
‘Tôi biết, nhưng dẫu sao vẫn thật đáng tiếc, phải không?’
‘Hàng xóm của chúng ta có những ai?’
‘Có bà Rolt bị tàu ngầm tấn công, hai người ở Nha Công chính, một người tên Clive ở Nha Canh nông, Boling phụ trách cống rãnh - bọn họ đều có vẻ thân thiện. Tất nhiên cả Scobie nữa, ngay dưới đồi.’
‘Phải.’
Wilson bồn chồn đi lại quanh nhà và dừng trước tấm ảnh Harris đã dựng cạnh một giá mực chính phủ cấp. Ảnh chụp các cậu choai choai xếp ba hàng trên cỏ: hàng đầu ngồi xếp bằng trên mặt đất: hàng hai trên ghế, cổ áo cứng ngắc, cùng một ông già và hai phụ nữ (một mắt lác) ở trung tâm: hàng ba đứng. Wilson nói, ‘Bà mắt lác ấy - tôi thề là đã từng thấy ở đâu rồi.’
‘Cái tên Snakey có gợi cho anh điều gì không?’
‘À, đúng, tất nhiên rồi.’ Anh nhìn kỹ hơn. ‘Vậy ra anh cũng từng ở cái xó đó?’
‘Tôi đã thấy tờ Người Downham trong phòng anh, và tôi cắt cái này ra để làm anh ngạc nhiên. Tôi ở nhà Jagger. Anh thì sao?’
‘Tôi ở nhà Prog,’[1] Wilson đáp.
‘Ồ,’ Harris có vẻ thất vọng, ‘nhà Prog có mấy người cũng được lắm.’ Anh đặt tấm ảnh nằm bẹp xuống, như thể đã chờ đợi ở nó điều gì mà không được như kỳ vọng. ‘Tôi nghĩ chúng ta có thể tổ chức một bữa tối cựu học sinh Downham.’
‘Để làm gì mới được?’ Wilson hỏi. ‘Chỉ có hai chúng ta thôi mà.’
‘Mỗi người có thể mời một khách.’
‘Tôi chẳng thấy để làm gì.’
Harris cay đắng nói, ‘Chà, anh là một người Downham đích thực, tôi thì không. Tôi chưa bao giờ gia nhập hội cựu học sinh. Anh nhận được tờ tạp chí. Tôi đã nghĩ có lẽ anh yêu quý nơi đó.’
‘Bố tôi đăng ký thành viên trọn đời cho tôi. Ông ấy cứ gửi mấy số báo chết tiệt đó cho tôi đấy,’ Wilson cụt lủn đáp.
‘Nó nằm cạnh giường anh. Tôi tưởng anh đọc.’
‘Chắc tôi có xem qua.’
‘Có một đoạn về tôi trong đó. Họ muốn có địa chỉ của tôi.’
‘À, nhưng anh có biết tại sao không?’ Wilson nói. ‘Họ sẽ gửi thư kêu gọi quyên góp cho bất kỳ cựu học sinh Downham nào họ bới ra được. Panô ở Tòa nhà Sáng lập viên đang cần sửa. Nếu là anh thì tôi sẽ giữ kín địa chỉ.’ Có những người luôn biết chuyện gì đang xảy ra, biết trước thông tin hiệp hai ai sẽ vào thay người, tại sao một học sinh nào đó không quay lại trường sau kỳ nghỉ, buổi họp kín của hội đồng giáo viên trù tính chuyện gì - và Harris thấy Wilson là một người như thế. Vài tuần trước anh còn là ma mới để Harris hào hứng làm quen và chỉ đường đi nước bước. Harris nhớ hôm ấy nếu mình không can thì Wilson hẳn sẽ đóng bộ tới dùng bữa ở nhà một người Syria. Nhưng từ năm đầu đi học, Harris đã bị kết án phải chứng kiến sự vươn mình vùn vụt của các ma mới: kỳ này anh còn là cố vấn tốt bụng của họ - kỳ sau anh đã ra rìa. Anh chẳng bao giờ có thể tiến bộ nhanh như những cậu chàng chân ướt chân ráo tới kia. Anh nhớ kể cả trò săn gián chính anh phát minh ra, các quy tắc của anh ngay tối đầu tiên đã bị thách thức. Anh buồn bã nói, ‘Tôi cho là anh đúng. Có lẽ tôi sẽ không gửi thư đi nữa.’ Anh nhún nhường nói thêm, ‘Tôi đã lấy cái giường bên này, nhưng với tôi bên nào cũng được...’
‘À, vậy ổn rồi,’ Wilson nói.
‘Tôi chỉ thuê một quản gia. Tôi nghĩ chúng ta có thể tiết kiệm chút đỉnh bằng cách dùng chung.’
‘Càng ít thằng nhỏ lởn vởn quanh đây càng tốt,’ Wilson nói.
Đó là đêm đầu tiên của tình đồng chí mới. Họ ngồi đọc sách trên cặp ghế sinh đôi, đều do chính phủ cấp, đằng sau tấm rèm chắn sáng. Trên bàn là một chai whisky cho Wilson và một chai nước lúa mạch pha chanh cho Harris. Một cảm giác bình yên lạ thường dâng lên trong Harris khi mưa rả rích trên mái và Wilson đọc một đoạn Wallace. Thi thoảng, vài tay xỉn từ nhà ăn R.A.F.[2] la lối và rồ ga vụt qua, nhưng điều này chỉ càng làm tăng cảm giác bình yên bên trong căn nhà. Mắt anh lạc lên tường tìm một con gián, nhưng làm sao có thể đòi mọi thứ được.
‘Anh có tờ Người Downham nào ở đó không, ông bạn? Tôi muốn xem lại. Cuốn sách này chán quá.’
‘Có một tờ mới chưa mở trên bàn trang điểm.’
‘Anh không phiền nếu tôi mở nó ra chứ?’
‘Tôi bận tâm làm quái gì.’
Harris giở ngay đến mục thông báo cho cựu học sinh và đọc thấy họ vẫn đang nhắn tìm H R. Harris (1917-1921). Anh tự hỏi có thể nào Wilson sai chăng: ở đây chẳng có từ nào về panô ở Tòa nhà Sáng lập viên cả. Có lẽ cuối cùng anh vẫn sẽ gửi lá thư đi. Anh hình dung lời hồi âm của Thư ký hội. Harris yêu quý của tôi, thư sẽ bắt đầu như thế, tất cả chúng tôi đều hân hoan khi nhận được thư anh từ một chốn lãng mạn đến vậy. Sao anh không viết một bài dài gửi cho tạp chí? Khi viết thư trả lời anh đây, tôi cũng nghĩ không biết anh có hứng thú gia nhập Hội cựu học sinh Downham không? Tôi để ý là anh chưa bao giờ đăng ký tham gia. Thay mặt cho tất cả cựu học sinh Downham, tôi muốn nói chúng tôi hết sức vui mừng chào đón anh. Anh thử thay bằng ‘hãnh diện được chào đón anh’, nhưng gạt đi. Anh là một người theo chủ nghĩa hiện thực.
Người Downham đã có một kỳ Giáng sinh tương đối thành công. Họ đánh bại Harpenden một bàn, Merchant Taylors hai bàn, và cầm hòa Lancing. Cặp tiền đạo Ducker và Tierney chơi hay, nhưng các cầu thủ biên vẫn chậm trong việc phá bóng. Anh lật trang sau và đọc thấy Opera đoàn vừa biểu diễn thành công vở Patience[3] trong hội trường Tòa nhà Sáng lập viên. F.J.K., hẳn là giáo viên Anh văn, viết: Lane trong vai Bunthorne đã thể hiện một trình độ nghệ thuật làm kinh ngạc tất cả các đồng môn lớp Năm B. Trước giờ, chúng ta vẫn chưa chịu thừa nhận anh có một bàn tay Trung Cổ, chưa sẵn sàng đồng nhất anh với hoa huệ tây. Nhưng anh đã chứng minh rằng chúng ta đã đánh giá lầm anh. Lane, một phần trình diễn tuyệt vời! Harris lướt qua tường thuật năm trận đấu, một truyện giả tưởng nhan đề ‘Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ’ bắt đầu bằng Ngày xưa, có một bà già bé nhỏ, tài sản yêu quý nhất của bà ta là... Những bức tường Downham - gạch đỏ viền vàng, những hình chạm lá lạ lùng, những tượng gargoyle thời trung Victoria - mọc lên quanh anh: giày nện trên thềm đá; một tiếng chuông báo giờ ăn tối làm anh bừng tỉnh, trở lại cuộc đời khốn khổ của mình. Anh thấy có một lòng trung thành buộc mình với bất hạnh - cảm giác rằng bất hạnh mới là nơi mình thực sự thuộc về. Mắt nhòa lệ, anh nhấp một ngụm nước yến mạch và nghĩ, ‘Mình sẽ vẫn gửi lá thư ấy mặc Wilson nói sao.’ Ai đó bên ngoài kêu lên, ‘Bagster. Mày đâu rồi, Bagster, đồ khốn?’ và ngã xuống một con mương. Harris có cảm giác mình đã trở lại Downham, ngoài việc tất nhiên ở đó người ta sẽ không dùng những từ như thế.
Harris lật một hai trang nữa. Nhan đề một bài thơ làm anh chú ý. Bài thơ tên ‘Bờ Tây’ và được đề tặng ‘L.S.’. Anh không hứng thú lắm với thơ ca, nhưng thấy thú vị khi nhận ra rằng đâu đó trên bờ biển đầy cát và hôi hám này còn tồn tại cựu học sinh Downham thứ ba.
Một Tristram[4] nữa trên bờ biển xa xôi, anh đọc
Nâng chén độc lên môi,
Một Mark nữa trên bờ biển viền cọ
Nhìn tình yêu lụi tàn.
Harris thấy bài thơ thật mù mờ: mắt anh lướt nhanh qua những khổ giữa để đến những chữ viết tắt tên ở cuối: E.W. Anh suýt hét lên nhưng đã kịp kìm lại. Cần phải thận trọng khi họ ở gần như bây giờ. Nếu cãi nhau thì chẳng có chỗ nào để đi. Ai là L.S. nhỉ, anh tự hỏi, và nghĩ, chắc chắn không thể là ... chỉ riêng ý nghĩ ấy đã làm môi anh mím thành một nụ cười. Anh nói, ‘Tờ tạp chí chẳng có gì. Chúng ta đánh bại Harpenden. Có một bài thơ nhan đề Bờ Tây. Thêm một kẻ khốn khổ nữa ngoài kia, có lẽ.’
‘Ồ.’
‘Thất tình,’ Harris nói. ‘Nhưng tôi không đọc thơ.’
‘Tôi cũng không,’ Wilson nói dối, giấu mặt đằng sau Wallace.
[1] Prog, tức progtor: giám thị, thành viên hội đồng kỷ luật
[2] Royal Air Force: Không lực hoàng gia
[3] Do nhà soạn nhạc người Anh Arthur Sullivan và kịch gia William S. Gilbert đồng sáng tác, công diễn lần đầu tại London năm 1881, trong đó có câu: “Mặc những nhộn nhạo của lũ phàm phu tục tử, anh sẽ xứng danh tông đồ của nghệ thuật nếu thả bước trên đường Piccadilly, bàn tay Trung Cổ cầm một bông nha phiến hay đóa huệ tây. Và tất thảy mọi người sẽ thốt lên […] đây người thuần khiết trong những người thuần khiết.”
[4] Tristam hay Tristam, trong truyện Tristan và Iseult, là một hiệp sĩ thời Trung Cổ được phái đi cầu hôn công chúa Ailen là Iseult cho chú của mình là vua Mark. Trên đường hộ tống, Tristan và Iseult vô tình uống phải độc dược làm họ yêu nhau.
