QUYỂN 2 - Phần 1 - Chương 2 (1)
1
Còi hú lên báo hiệu giờ giới nghiêm, thảm thiết xuyên qua màn mưa không ngớt; mấy thằng nhỏ xô nhau dồn vào bếp, quýnh quáng cài chặt then cửa như để tự bảo vệ mình khỏi những ác quỷ nào lẩn quất trong bụi rậm. Một trăm bốn bốn inch nước không ngừng điểm nhịp đều đều u ám lên các mái nhà thành phố cảng. Khó mà tưởng tượng được bất cứ ai có thể chọn thời điểm này trong năm để phát động một đợt tấn công, huống chi những kẻ chiến bại đã kiệt quệ rã rời bên lãnh thổ Vichy. Nhưng tất nhiên ta phải nhớ tới trận Bình nguyên Abraham.[1] Một cuộc cảm tử táo bạo có thể thay đổi toàn bộ hình dung về những điều có thể và không thể.
Scobie bước ra, đi vào màn đêm rả rích, tay cầm chiếc ô lớn kẻ sọc: trời quá nóng để mặc áo mưa. Ông rảo bước một vòng quanh khu vực nhà mình; không một ánh đèn ló ra, các cửa chớp trong bếp đã đóng và dãy nhà Creole đã thành vô hình sau màn mưa. Một chiếc đèn pin thoáng lóe lên trong bãi đỗ xe bên kia đường, nhưng khi ông cất tiếng gọi, nó vụt tắt: có lẽ chỉ là trùng hợp: chẳng ai ở đó có thể nghe được tiếng ông qua tiếng mưa rầm rầm trên mái. Trên Cape Station, nhà ăn của các sĩ quan vẫn sáng, ánh sáng ướt nhẹp rọi về phía biển nhưng việc đó không thuộc trách nhiệm của ông. Đèn pha của các xe tải quân sự giăng thành một chuỗi hạt dọc rìa đồi, nhưng đó cũng là việc của người khác.
Trên con đường đằng sau bãi đỗ xe, một ánh đèn đột ngột bật lên ở một trong các căn nhà Nissen,[2] nơi ở của các sĩ quan cấp thấp; căn đó hôm qua còn chưa có ai, có lẽ một khách vừa chuyển vào. Scobie nghĩ đến việc lấy xe khỏi gara, nhưng căn nhà chỉ cách ông vài trăm thước, thế nên ông đi bộ. Trừ âm thanh của mưa, trên đường, trên mái, trên ô, im lặng tuyệt đối ngự trị: chỉ có tiếng rên rỉ lịm dần của những hồi còi báo hiệu còn bập bùng trong tai ông một hai giây nữa. Sau này nhìn lại, Sobie thấy đây dường như là điểm tiệm cận hạnh phúc nhất mà ông chạm được: chìm trong bóng tối, một mình, giữa màn mưa, không tình yêu, không lòng thương hại.
Ông gõ cửa căn Nissen, gõ mạnh vì tiếng mưa quật trên mái tôn đen kịt như một đường hầm. Ông phải gõ hai lần cửa mới mở. Ánh sáng làm ông choáng mù trong thoáng chốc. Ông nói, ‘Tôi xin lỗi phải làm phiền bà. Một ngọn đèn của bà bị lộ.’
Một giọng phụ nữ đáp, ‘Ôi, tôi xin lỗi. Tôi bất cẩn quá...’ Mắt ông đã nhìn rõ, nhưng trong khoảnh khắc ông không thể gọi được tên những đường nét đã hằn trong trí nhớ. Ông biết tất cả mọi người trong thuộc địa. Đây là một ai đó đến từ bên ngoài... dòng sông ... sáng sớm ... đứa trẻ thoi thóp.
‘À,’ ông nói, ‘là bà Rolt, phải không? Tôi tưởng cô đang trong bệnh viện?’
‘Phải. Ông là ai? Tôi có biết ông không?’
‘Tôi là Thiếu tá cảnh sát Scobie. Tôi đã thấy cô ở Pende.’
‘Tôi xin lỗi,’ cô nói. ‘Tôi chẳng nhớ điều gì xảy ra ở đó cả.’
‘Tôi có thể sửa đèn cho cô được không?’
‘Tất nhiên. Mời ông.’ Ông bước vào, kéo rèm lại và di chuyển một chiếc đèn bàn. Căn phòng được ngăn đôi bởi một tấm rèm: một bên là giường, bàn trang điểm tạm bợ: bên kia là cái bàn, mấy cái ghế - những món đồ được cấp cho các sĩ quan cấp thấp lương dưới 500 bảng một năm. Ông nói, ‘Những đồ đạc này không làm cô kiêu hãnh lắm nhỉ? Giá mà tôi biết. Tôi đã có thể giúp.’ Giờ ông có thể nhìn kỹ cô: khuôn mặt trẻ kiệt quệ, mái tóc khô héo không sức sống... Bộ đồ ngủ cô đang mặc quá rộng so với cô: cơ thể cô chìm nghỉm trong đó: nó rủ xuống thành những nếp gấp xấu xí. Ông nhìn xem chiếc nhẫn có còn lỏng lẻo bám trên ngón tay không nhưng nó đã biến mất.
‘Mọi người đều rất tốt,’ cô nói. ‘bà Carter cho tôi một cái ghế nệm rất dễ thương.’
Mắt ông lang thang quanh phòng: chẳng tìm được ở bất kỳ đâu chút dấu ấn cá nhân: không ảnh, không sách, không bất kỳ loại nữ trang nào, nhưng rồi ông nhớ ra cô chẳng mang gì khỏi biển ngoài chính mình và tấm album tem.
‘Có nguy hiểm gì không?’ cô bồn chồn hỏi.
‘Nguy hiểm?’
‘Loạt còi báo động ấy.’
‘Ồ, không hề. Đó chỉ là cảnh báo không kích thôi. Chừng một tháng một lần. Chẳng bao giờ có gì xảy ra.’ Ông nhìn cô hồi lâu lần nữa. ‘Lẽ ra họ không được để cô rời bệnh viện sớm thế. Còn chưa đầy sáu tuần ...’
‘Tự tôi muốn đi đấy. Tôi muốn được một mình. Người ta cứ đến thăm tôi suốt.’
‘Chà, giờ tôi cũng đi đây. Nhớ là nếu cô có bao giờ muốn bất cứ điều gì thì tôi ở ngay dưới đồi nhé. Ngôi nhà trắng hai tầng bên kia bãi đỗ xe, nằm trên một đầm lầy.’
‘Ông sẽ không ở lại cho đến khi mưa ngừng sao?’ cô hỏi.
‘Tôi không nghĩ là nên vậy,’ ông nói, ‘cô thấy đấy, sẽ cứ thế này cho tới tháng Chín,’ và khơi lên được ở cô một nụ cười ngượng ngùng gắng gượng.
‘Tiếng ồn thật kinh khủng.’
‘Vài tuần là cô sẽ quen thôi. Như sống cạnh đường tàu ấy mà. Nhưng cô sẽ không phải quen đâu. Họ sẽ cho cô về nhà rất sớm thôi. Hai tuần nữa có tàu đến.’
‘Ông muốn uống chút gì không? bà Carter còn cho tôi một chai gin cùng chiếc ghế nệm.’
‘Vậy thì tốt hơn là tôi giúp cô uống nó.’ Khi cô lấy cái chai ra, ông nhận ra nó đã vơi gần nửa. ‘Cô có chanh không?’
‘Không.’
‘Người ta hẳn phải cho cô một thằng nhỏ chứ?’
‘Vâng, nhưng tôi không biết phải bảo nó làm gì. Vả lại dường như chẳng bao giờ thấy nó ở đây.’
‘Cô cứ để nguyên thế mà uống à?’
‘Ồ không, tôi còn chưa đụng vào. Thằng nhỏ làm đổ - nó nói thế.’
‘Đến sáng tôi sẽ nói chuyện với thằng nhỏ của cô,’ Scobie nói. ‘Cô có tủ đá chứ?’
‘Vâng, nhưng thằng nhỏ không kiếm được đá cho tôi.’ Cô yếu ớt ngồi xuống một cái ghế. ‘Đừng nghĩ tôi ngờ nghệch. Chỉ là tôi không biết mình đang ở đâu. Tôi chưa bao giờ đến nơi nào như thế này.’
‘Cô từ đâu đến?’
‘Bury St Edmunds. Ở Suffolk. Tám tuần trước tôi còn ở đó.’
‘Ồ không, làm sao cô ở đó được. Cô ở trên thuyền mà.’
‘Vâng. Tôi quên mất cái thuyền.’
‘Họ đáng lẽ không được đẩy cô khỏi bệnh viện khi chỉ có một mình thế này.’
‘Tôi ổn. Họ cần dùng giường của tôi. Bà Carter nói bà ấy sẽ tìm phòng cho tôi, nhưng tôi muốn được một mình. Bác sĩ bảo họ là tôi có thể làm những gì tôi muốn.’
Scobie nói, ‘tôi có thể hiểu là cô không muốn ở với bà Carter, cô chỉ cần nói một lời thì tôi cũng sẽ đi.’
‘Tôi muốn ông chờ tới khi hết còi An Toàn.[3] Tôi hơi sợ, ông biết đấy.’ Sức chịu đựng của phụ nữ lúc nào cũng làm Scobie kinh ngạc. Người này đã sống qua bốn mươi ngày trên một chiếc thuyền không che chắn, vậy mà lại nói mình sợ. Ông nhớ tới những ca tử vong trong báo cáo của ông kỹ sư trưởng: viên sĩ quan boong và hai thủy thủ đã chết, thợ đốt lò phát điên vì uống nước biển và nhảy xuống biển tự tử. Khi phải đối mặt áp lực, đàn ông luôn là kẻ đứt dây. Giờ cô đã lại co về, dựa lên sự yếu đuối của mình như lên một tấm gối.
Ông nói, ‘Cô đã quyết định chưa? Cô sẽ trở lại Bury chứ?’
‘Tôi không biết. Có lẽ tôi sẽ kiếm một công việc.’
‘Cô có kinh nghiệm gì không?’
‘Không,’ cô thú nhận, quay mặt tránh ánh mắt ông. ‘Ông thấy đấy, tôi mới ra trường được một năm.’
‘Họ có dạy cô gì không?’ Ông thấy dường như điều cô cần hơn hết lúc này chỉ là chuyện trò, chuyện trò ngớ ngẩn không mục đích. Cô nghĩ cô muốn ở một mình, nhưng điều cô sợ là trách nhiệm khủng khiếp đi cùng việc nhận lòng cảm thông. Làm sao một đứa trẻ như thế này có thể vào vai người phụ nữ có chồng chết đuối gần như ngay trước mắt? Vậy thì chẳng khác nào trông chờ cô đóng vai Lady Macbeth. Bà Carter hẳn chẳng có chút thông cảm nào với thiếu sót của cô. Bà Carter, tất nhiên, sẽ biết phải hành xử ra sao vì chính tay bà đã chôn một người chồng và ba đứa con.
Cô nói, ‘tôi giỏi nhất môn bóng lưới,’ cắt ngang dòng suy nghĩ của ông.
‘Chà,’ ông nói, ‘cô không hẳn có thân hình phù hợp để làm một huấn luyện viên thể thao. Hay là có, khi cô khỏe?’
Đột nhiên, không báo trước, cô bắt đầu nói. Cứ như thể do vô tình dùng đúng mật khẩu, ông đã khiến cánh cửa mở ra: chính ông cũng không thể nói được mình đã dùng từ nào. Có lẽ là từ ‘huấn luyện viên thể thao’, vì cô bắt đầu liến thoắng kể cho ông về môn bóng lưới (nếu là bà Carter, ông nghĩ, thì có lẽ sẽ nói về bốn mươi ngày trên con thuyền không che chắn và vị hôn phu ba tuần). Cô nói, ‘tôi ở trong đội tuyển trường hai năm,’ hào hứng chồm người ra trước, cằm gối lên bàn tay, khuỷu tay xương xẩu tì lên đầu gối gầy guộc. Làn da trắng của cô - chưa bị atabrine hay ánh nắng làm cho vàng đi - làm ông nghĩ tới một khúc xương mà biển đã rửa sạch và đánh dạt lên bờ.’ Một năm trước đó, tôi ở đội hai. Hẳn tôi sẽ thành đội trưởng nếu tôi ở lại một năm nữa. Năm 1940, chúng tôi đã đánh thắng Roedean và cầm hòa Cheltenham.’
Ông lắng nghe với lòng quan tâm mãnh liệt của một người đối với cuộc sống của một người lạ, lòng quan tâm mà những người trẻ thường nhầm là tình yêu. Ông cảm thấy sự an toàn của tuổi tác khi ngồi đó nghe cô nói, với ly gin trong tay và mưa rầm rập bên ngoài. Cô kể với ông rằng trường cô nằm trên quả đồi ngay sau một cảng biển: rằng họ có một giáo viên người Pháp tên Mile Dupont, rất xấu tính. Cô hiệu trưởng có thể đọc tiếng Hy Lạp thuần thục như tiếng Anh – đọc Virgil.
‘Tôi đã luôn nghĩ Virgil viết tiếng Latinh đấy.’
‘À vâng. Ý tôi là Homer. Tôi không giỏi Kinh điển chút nào.’
‘Cô có giỏi môn nào ngoài bóng lưới không?’
‘Tôi nghĩ môn kế tiếp tôi giỏi là toán, nhưng tôi chưa bao giờ giỏi lượng giác.’ Mùa hè họ ra cảng tắm biển, và thứ Bảy nào họ cũng đi đã ngoại trên đồi - đôi khi họ chơi cưỡi ngựa đuổi theo người tung giấy,[4] và một lần một cuộc lượn xe đạp đã thành hỏng bét vì mọi người đi tán loạn khắp nơi, có hai cô ả mãi một giờ sáng mới mò về. Ông lắng nghe thích thú, xoay xoay gin trong ly mà không uống.
Tiếng còi An Toàn lại rú lên át tiếng mưa, nhưng cả hai không còn để ý. Ông nói, ‘Và rồi đến kỳ nghỉ, cô lại về Bury?’
Ra là mẹ cô đã qua đời mười năm trước, và cha cô là một mục sư có liên hệ nào đó với nhà thờ tổng giáo xứ. Họ có một ngôi nhà rất nhỏ trên đường Angel Hill. Có lẽ ở Bury cô không hạnh phúc bằng khi ở trường, vì ngay khi có thể, cô đã lái ngay sang chuyện cô giáo dạy thể dục trùng tên với mình - Helen, người mà suốt năm cô dành một schwarmerei khổng lồ.[5] Giờ đây cô cười niềm mê đắm này từ một độ cao chiếu cố: đó là dấu hiệu duy nhất cho ông thấy cô là người lớn, rằng cô là - hay từng là - một phụ nữ đã kết hôn.
Cô đột ngột ngừng lại, nói. ‘Thật ngớ ngẩn khi kể cho ông những chuyện này.’
‘Tôi thích mà.’
‘Ông còn chẳng hề hỏi tôi về - ông biết đấy -’
Ông biết, vì ông đã đọc báo cáo. Ông biết chính xác khẩu phần nước cho mỗi người trên thuyền - một cốc hai lần một ngày, sau hai mươi mốt ngày thu lại còn nửa cốc. Khẩu phần này đã được duy trì đến hai mươi bốn giờ trước cuộc giải cứu chủ yếu nhờ những người chết khiến dư ra chút đỉnh. Đằng sau những tòa nhà trường học của cảng biển, cột totem của trò bóng lưới, ông nhận ra cơn sóng kinh hoàng đẩy cái thuyền lên rồi thả rơi nó, đẩy lên rồi lại thả rơi ngay. ‘Khi rời trường tôi khổ sở lắm - lúc đó là cuối tháng Bảy. Tôi khóc nấc trên taxi suốt dọc đường ra ga.’ Scobie đếm - từ tháng Bảy đến tháng Tư: chín tháng: thời kỳ thai nghén, được sinh ra là cái chết của một người chồng. Đại Tây Dương xô dạt họ vào bãi biển châu Phi dài bằng phẳng như xô xác một con tàu đắm, người thủy thủ đã gieo mình xuống biển. Ông nói, ‘Chuyện này thú vị hơn. Chuyện kia tôi có thể đoán được.’
‘Tôi nói nhiều quá thể. Ông biết không, tôi nghĩ tối nay tôi sẽ ngủ được.’
‘Lâu nay cô không ngủ được sao?’
‘Ở bệnh viện người ta thở khò khè khắp quanh tôi. Người ta xoay người, thở và lẩm bẩm. Khi đèn tắt, cảm giác hệt như - ông biết đấy.’
‘Ở đây cô sẽ được ngủ yên tĩnh. Không phải sợ gì hết. Luôn có người trực cả đêm. Tôi sẽ nói chuyện với cậu ta.’
‘Ông tốt quá,’ cô nói. ‘bà Carter và những người khác - họ cũng đều rất tốt.’ Cô ngước khuôn mặt nhàu nhĩ, bộc trực và ngây thơ lên nói, ‘Tôi quý ông lắm.’
‘Tôi cũng quý cô,’ ông nghiêm trang nói. Cả hai cùng có cảm giác an toàn vô biên: họ là hai người bạn không bao giờ có thể làm gì ngoài làm bạn - giữa họ có khoảng cách an toàn, hố sâu ngăn cách tạo bởi một người chồng đã chết, một người vợ còn sống, một người cha mục sư, một giáo viên thể dục tên Helen, và hàng năm hàng năm trời kinh nghiệm. Họ không phải lo xem nên nói với nhau điều gì.
Ông nói, ‘Chúc ngủ ngon. Mai tôi sẽ mang tới vài con tem cho cuốn album của cô.’
‘Sao ông biết về cuốn album của tôi?’
‘Đó là công việc của tôi. Tôi là cảnh sát.’
‘Chúc ngủ ngon.’
Ông bước đi, thấy một niềm hạnh phúc lạ lùng, nhưng điều này ông sẽ không nhớ là hạnh phúc như nhớ về việc bước vào bóng tối, một mình trong mưa.
[1] Bình nguyên Abraham nằm ở tây nam thành phố Quebec, Canada. Vào tháng 9 năm 1759, quân đội Anh đã bất ngờ tấn công và đánh bại quân đội Pháp tại đây, nhờ đó giành quyền kiểm soát Canada.
[2] Nissen (1871-1930), kỹ sư trong quân đội Canada đã thiết kế một dạng nhà di động ghép từ các tấm sắt đúc sẵn, được quân đội Anh áp dụng rộng rãi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.
[3] All Clear: còi báo tình trạng nguy hiểm đã chấm dứt.
[4] Tên trò chơi trong nguyên văn: paper-chase.
[5] Tiếng Đức: ái mộ quá đà.
