favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN 2 - Phần 1 - Chương 1 (4)

4
 

Buổi sáng, ông bảo bác sĩ rằng mình sẽ ở lại chờ phương tiện di chuyển tới: cô Malcott có thể thế chỗ ông trong xe cảnh sát. Tốt hơn là để bà ấy đi đâu đó: cái chết của đứa trẻ đã làm bà muộn phiền trở lại, và không có gì chắc chắn là sẽ không có những cái chết tiếp theo. Ngày hôm sau, họ chôn đứa trẻ, dùng chiếc quan tài duy nhất kiếm được: nó đã được thiết kế cho một người đàn ông cao lớn. Trong khí hậu này, dềnh dàng là rất thiếu khôn ngoan. Scobie không dự lễ tang do ông Bowles chủ trì, nhưng vợ chồng Perrot đều có mặt, cùng Wilson và vài người chuyển trát hầu tòa: viên bác sĩ còn bận bịu trong nhà nghỉ. Scobie vội vàng băng qua các cánh đồng, nói chuyện với viên chức phụ trách nông nghiệp về việc tưới tiêu, cố đi thật xa lễ tang. Rồi khi đã nói cạn chủ đề tưới tiêu, ông vào kho hàng, ngồi trong bóng tối giữa bốn bề hộp thiếc, những mứt đóng hộp, xúp đóng hộp, bơ đóng hộp, bánh quy đóng hộp, sữa đóng hộp, khoai tây đóng hộp, sôcôla đóng hộp, chờ Wilson. Nhưng Wilson không tới: có lẽ lễ tang là quá sức chịu đựng đối với bọn họ, và họ đã quay lại bungalow của D.C. làm vài ly. Scobie xuống bến, nhìn những chiếc thuyền buồm dần mất hút về phía biển. Chợt ông thấy mình nói thành tiếng với khuỷu tay như với một con người, ‘Sao mày lại để cô bé chết đuối?’ Một người chuyển trát hầu tòa liếc ngang nhìn ông ngờ vực, và ông đi tiếp, lên đồi.

Bà Bowles đang hì hục nuốt lấy không khí bên ngoài nhà nghỉ: nuốt đúng nghĩa đen, từng liều từng liều như uống thuốc. Bà đứng đó, miệng há ra khép lại, hít vào thở ra. Bà nói, ‘Chào buổi chiều,’ một cách cứng nhắc, và thu lấy thêm một hớp nữa. ‘Ông không dự lễ tang sao, Thiếu tá?’

‘Không.’

‘Ông Bowles và tôi hiếm khi có thể dự một lễ tang cùng nhau. Trừ trường hợp chúng tôi nghỉ phép.’

‘Liệu sẽ còn có thêm đám tang nào nữa không?’

‘Còn một, tôi nghĩ vậy. Số còn lại dần dần sẽ ổn.’

‘Trong số họ ai đang hấp hối?’

‘Bà cụ. Bà ấy trở nặng đêm qua. Trước đó bà ấy vẫn hồi phục tốt.’

Ông cảm thấy một nỗi nhẹ nhõm tàn nhẫn. Ông hỏi, ‘Thằng bé ổn chứ?’

‘Phải.’

‘Còn bà Rolt?’

‘Cô ấy vẫn chưa qua cơn nguy kịch, nhưng tôi nghĩ sẽ thôi. Giờ cô ấy tỉnh rồi.'

‘Cô ấy có biết chồng mình chết không?’

‘Có.’ Bà Bowles bắt đầu vung cánh tay từ bả vai, lên rồi xuống. Rồi bà ta đứng nhón chân sáu lần. Ông nói, ‘Giá mà tôi có thể giúp được gì.’

‘Ông có thể đọc sách thành tiếng không?’ Bà Bowles hỏi, đứng nhón trên ngón chân.

‘Tôi nghĩ là có. Được.’

‘Ông có thể đọc cho thằng bé nghe. Nó đang bắt đầu chán, mà buồn chán thì không tốt cho nó.’

‘Tôi tìm ở đâu được một cuốn sách đây?’

‘Có nhiều sách ở Nhà truyền giáo lắm. Hàng giá đầy.’

Dẫu sao cũng tốt hơn không làm gì. Ông đi bộ lên Nhà truyền giáo và thấy, đúng như bà Bowles nói, rất nhiều sách. Ông không quen thuộc lắm với sách, nhưng cả mắt ông cũng nhận thấy ngay là chẳng bói đâu ra một quyển tươi sáng để đọc cho một cậu bé đang nằm bệnh. Ố đi vì ẩm mốc và đều là tác phẩm cuối thời Victoria, các bìa sách mang những tiêu đề như Hai mươi năm truyền giaó, Đọa lạc và cứu rỗi, Con đường hẹp, Lời cảnh báo của nhà truyền giaó. Rõ ràng đã từng có một cuộc kêu gọi quyên góp sách cho thư viện Nhà truyền giáo và đây là những mảnh rút ra từ nhiều giá sách gia đình ngoan đạo. Thơ của John Oxenham,[1] Các ngư dân của con người. Ông rút một cuốn ngẫu nhiên khỏi giá và trở lại nhà nghỉ. Bà Bowles đang ở trong bếp pha chế thuốc.

‘Có tìm thấy gì không?’

‘Có.’

‘Toàn bộ sách ở đó đều an toàn,’ Bà Bowles nói. ‘Chúng đã được ủy ban kiểm duyệt trước khi cho ra mắt. Đôi khi người ta cứ cố gửi những cuốn hết sức không phù hợp. Chúng tôi không dạy trẻ con ở đây đọc để rồi chúng đọc - ừm, tiểu thuyết.’

‘Không, tôi nghĩ là không.’

‘Để tôi xem ông chọn được gì nào.’

Lúc này ông mới nhìn tiêu đề sách lần đầu: Một vị giám mục giữa những người Bantu.

‘Cuốn đó sẽ thú vị đấy,’ bà Bowles nói. Ông nghi ngại gật đầu.

‘Ông biết phải tìm thằng bé ở đâu rồi. Ông có thể đọc cho nó nghe mười lăm phút - không hơn.’

Bà cụ đã được đưa vào phòng trong cùng nơi đứa trẻ vừa chết, người đàn ông mũi chai thì được chuyển vào gian phòng mà bà Bowles giờ gọi là khu hồi sức, để chừa chỗ trong gian giữa cho cậu bé và bà Rolt. Bà Rolt nằm quay mặt vào tường, mắt nhắm nghiền. Họ rõ ràng đã thành công trong việc giật cuốn album khỏi bàn tay bấu chặt của cô và đặt nó lên một cái ghế cạnh giường. Thằng bé nhìn Scobie bằng đôi mắt tinh anh sáng quắc của người sốt.

‘Tên bác là Scobie. Còn cháu?’

‘Fisher.’

Scobie e dè nói, ‘Bà Bowles bảo bác đọc cho cháu.’

‘Bác làm gì? Bác là lính à?’

‘Không, bác là cảnh sát.’

‘Đây có phải là truyện giết người không?’

‘Không. Bác không nghĩ vậy đâu.’ Ông mở quyển sách ở một trang ngẫu nhiên và bắt gặp tấm ảnh giám mục mặc áo choàng ngồi trên một chiếc ghế phòng khách cứng ngắc bên ngoài một nhà thờ mái tôn bé nhỏ: vây quanh ông là những người Bantu nhe răng cười trước ống kính.

‘Cháu thích truyện giết người cơ. Bác đã bao giờ tham gia một vụ giết người chưa?’

‘Không phải giết người như cháu nghĩ, có manh mối điều tra và truy lùng kẻ sát nhân đâu.’

‘Thế đó là loại giết người nào?’

‘À, đôi khi người ta bị đâm trong lúc đánh nhau.’ Ông hạ giọng để không làm kinh động bà Rolt. Cô nằm, bàn tay nắm chặt trên tấm ga - cái nắm tay chẳng lớn hơn quả bóng tennis là bao.

‘Cuốn sách bác mang đến tên là gì thế? Có thể cháu đã đọc nó rồi đấy. Lúc ở trên thuyền cháu đọc Đảo giấu vàng. Cháu không chê truyện cướp biển đâu. Tên nó là gì thế?’

Scobie do dự nói, ‘Một bishop giữa những người Bantu.’

‘Thế nghĩa là gì?’

Scobie hít một hơi dài. ‘Chà, cháu thấy đấy, Bishop là tên anh hùng.’

‘Nhưng bác nói một bishop mà.’

‘Ừ. Tên ông ấy là Arthur.’

‘Tên gì mà mềm yếu quá.’

‘Ừ, nhưng ông ấy là một anh hùng mềm yếu.’ Đột nhiên, khi tránh ánh mắt của cậu bé, ông nhận ra bà Rolt không ngủ: cô đang đăm đăm nhìn vào tường, lắng nghe. Ông hăng hái nói tiếp, ‘Nhưng anh hùng đích thực là những người Bantu kia.’

‘Người Bantu là gì?’

‘Họ là một toán cướp biển đặc biệt hung tợn hoành hành ở vùng Tây Ấn và nhắm đến tất tật các tàu ở khu vực đó của Đại Tây Dương.’

‘Arthur Bishop có truy đuổi họ không?’

‘Có. Đây cũng là một dạng truyện trinh thám, vì ông ấy còn là đặc vụ của chính phủ Anh nữa. Ông ấy ăn mặc như một thủy thủ bình thường và đi trên một chiếc thuyền buôn để có thể bị toán Bantu bắt. Cháu biết chúng luôn cho thủy thủ bình thường cơ hội nhập bọn mà. Nếu ông ấy là sĩ quan thì chúng sẽ bắt ông ấy bịt mắt đi trên ván. Rồi tất nhiên ông ấy khám phá ra các mật khẩu và hang ổ bí mật cùng tất cả những kế hoạch đột kích của chúng, để ông ấy có thể lật mặt chúng khi thời điểm chín muồi.’

‘Ông ta nghe có vẻ hơi hèn hạ nhỉ,’ cậu bé nói.

‘Ừ, rồi ông ấy phải lòng con gái của thuyền trưởng toán Bantu, và đó là lúc ông ấy trở nên mềm yếu. Nhưng chuyện xảy ra ở gần cuối và chúng ta sẽ không đi xa đến thế đâu. Trước đó còn có nhiều đánh nhau và ám sát lắm.’

‘Nghe được đấy. Bắt đầu thôi bác.’

‘Chà, cháu thấy đấy, bà Bowles bảo bác là hôm nay bác chỉ được ở đây một chốc thôi, thế nên bác đã vừa kể cho cháu nghe về cuốn sách rồi, ngày mai chúng ta có thể bắt đầu.’

‘Mai bác có thể sẽ không ở đây. Có thể sẽ có một vụ giết người hoặc chuyện gì đó xảy ra.’

‘Nhưng cuốn sách sẽ vẫn ở đây. Bác sẽ đưa lại nó cho bà Bowles. Đó là sách của bà ấy. Tất nhiên bà ấy đọc thì nghe sẽ có vẻ hơi khác.’

‘Thôi bác bắt đầu đi,’ cậu bé nài nỉ.

‘Phải, bắt đầu đi,’ một giọng rất nhỏ từ giường bên vang lên, nhỏ đến nỗi ông hẳn đã gạt đi, cho là ảo ảnh nếu không ngước lên và thấy cô đang nhìn ông, đôi mắt mở to như mắt đứa trẻ lả đi vì đói. Scobie nói, ‘tôi đọc tệ lắm.’

‘Nhanh đi bác,’ thằng bé sốt ruột nói. ‘Ai cũng đọc thành tiếng được mà.’

Scobie thấy mắt mình dán vào đoạn mở đầu, nó viết, tôi sẽ không bao giờ quên được lần đầu tiên nhìn thấy lục địa nơi tôi sẽ lao lực suốt ba mươi năm sung sức của cuộc đời. Ông chậm rãi, ‘Từ lúc rời Bermuda, con tàu đen thấp, mảnh đã theo sát họ. Thuyền trưởng rõ ràng là lo lắng vì ông liên tục quan sát chiếc tàu lạ qua kính do thám. Khi đêm xuống nó vẫn theo dấu họ, và lúc bình minh, nó là cảnh đầu tiên đập vào mắt. Liệu có thể, Arthur Bishop tự hỏi, là mình chuẩn bị giáp mặt đối tượng cuộc truy tìm, Râu Đen, thủ lĩnh toán Bantu không, hay sẽ là viên thuyền phó khát máu của hắn...’ Ông lật một trang và thoáng khựng lại vì chân dung vị giám mục mặc đồ trắng, đeo cổ áo thầy tu, đội mũ cát, đang đứng trước một cầu môn, chặn một quả bóng mà một người Bantu vừa ném về phía ông.

‘Tiếp đi bác,’ cậu bé nói.

‘... Davis Điên, được gọi như vậy bởi những cơn thịnh nộ cuồng loạn của hắn khi bắt toàn bộ thủy thủ đoàn của một con tàu phải nhắm mắt đi trên ván? Rõ ràng là Đại úy Duller lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Đột nhiên, trên mặt nước phát ra tiếng súng nổ và một quả đại bác lao thẳng xuống trước mũi thuyền, chỉ cách họ hai mươi thước. Đại úy Buller giơ ống nhòm lên nhìn và từ đài chỉ huy gọi với xuống Arthur Bishop, ‘Roger vui tính,[2] Chúa ơi.’ Ông là người duy nhất trên tàu biết bí mật về cuộc săn đuổi lạ lùng của Arthur.’

Bà Bowles thoăn thoắt bước vào. ‘Thế, thế là được rồi. Quá đủ cho ngày hôm nay. Bác đọc gì cho cháu nghe thế, Jimmy?’

‘Bishop giữa những người Bantu.’

‘Ta hy vọng là cháu thích cuốn sách.’

‘Nó kỳ diệu lắm.’

‘Cháu là một cậu bé sáng dạ đấy,’ bà Bowles hài lòng nói.

‘Cảm ơn ông,’ một giọng nói cất lên từ giường bên và Scobie một lần nữa ngần ngại quay sang, thu lấy khuôn mặt trẻ tuổi tàn tạ.

‘Mai ông sẽ đọc nữa chứ?’

‘Đừng lo, Thiếu tá Scobie, Helen,’ bà Bowles trách cô. ‘Ông ấy phải quay về cảng. Bọn họ sẽ giết nhau nếu không có ông ấy.’

‘Ông là cảnh sát sao?’

‘Vâng.’

‘Tôi từng biết một cảnh sát - trong thị trấn của chúng tôi -’ giọng nói chìm dần vào cơn mê. Ông đứng lặng một phút, nhìn xuống gương mặt cô. Như những lá bài của thầy bói, nó hiển lộ quá khứ chẳng chút giấu diếm - chuyến đi, mất mát, bệnh tật. Nếu xáo bài lần nữa biết đâu sẽ thấy được tương lai? Ông cầm cuốn album tem lên và giở trang trắng đầu tiên: trên đó viết, ‘Helen, từ người cha yêu thương của con, vào sinh nhật mươi bốn tuổi.’ Rồi cuốn album mở ra Paraguay, đầy những hình vẹt đuôi dài - loại tem tranh mà một đứa trẻ hay sưu tập. ‘Chúng ta phải tìm cho cô ấy mấy con tem mới thôi,’ ông buồn bã nói.

 


[1] John Oxenheim là bút danh của nhà thơ và tiểu thuyết gia người Anh William Arthur Dunkerley (1852-1941).

[2] Jolly Roger: hình đầu lâu xương chéo cười, lá cờ cướp biển phổ biến nhất từ nửa đầu thế kỷ 18.

Thêm vào giỏ hàng thành công