QUYỂN 2 - Phần 1 - Chương 1 (3)
3
Buổi tối họ lại tụ tập uống rượu nhưng ai nấy đều trầm xuống. Cả Perrot cũng không còn cố gây ấn tượng với mọi người. Druce nói, ‘Mai tôi đi rồi. Ông cùng đi chứ, Scobie?’
‘Tôi nghĩ vậy.’
Bà Perrot hỏi, ‘Ông có mọi thứ mình muốn rồi chứ?’
‘Mọi thứ tôi cần. Ông kỹ sư trưởng đó là một tay cừ. Ông ta đã chuẩn bị sẵn mọi thứ trong đầu. Tôi vất vả lắm mới chép cho kịp. Vừa dừng là ông ta gục luôn. Chính cái đó - ‘trách nhiệm của tôi’ - giúp ông ta trụ được. Bà biết đấy, họ - những người còn đi được - đã đi bộ năm ngày để tới đây.’
Wilson hỏi, ‘Tàu của họ không có hộ tống sao?’
‘Ban đầu họ đi theo đoàn nhưng rồi gặp trục trặc động cơ gì đó - anh biết quy tắc đi đường bây giờ mà: không đợi lũ vịt què. Họ bị rớt lại sau đoàn mười hai tiếng và đang cố bắt kịp thì trúng ngư lôi. Chỉ huy tàu ngầm nổi lên và chỉ đường cho họ. Ông ta nói đáng lẽ sẽ giúp kéo họ nếu không phải vì tuần tra hải quân đang tìm ông ta. Anh thấy đấy, không thể thực sự đổ lỗi cho ai khi chuyện như thế xảy ra.’ Nhưng “chuyện như thế” ngay lập tức hiện ra trước con mắt bên trong của Scobie - đứa trẻ miệng há hốc, đôi bàn tay gầy guộc bấu chặt cuốn album tem. Ông nói, ‘tôi đồ là bác sĩ sẽ qua báo tin cho chúng ta ngay khi nào có thể?’
Ông bồn chồn bước ra hiên, đóng cánh cửa chăng màn cẩn thận sau lưng, và một con muỗi lập tức vo ve bay về phía tai ông. Đám muỗi nhộn nhạo liên hồi nhưng khi nào chuẩn bị tấn công, chúng luôn phát ra âm thanh trầm đục của máy bay ném bom bổ nhào. Đèn vẫn sáng trong bệnh viện dã chiến, và sức nặng của nỗi khốn khổ kia đè lên vai ông. Cứ như thể ông trút đi một trách nhiệm chỉ để nhận lấy một trách nhiệm mới. Trách nhiệm này ông có chung với toàn bộ nhân loại, nhưng điều ấy chẳng an ủi được ông chút nào vì đôi khi ông thấy mình như kẻ duy nhất nhận ra trách nhiệm. Trong ‘Các thành phố bình nguyên’,[1] một linh hồn độc nhất cũng có thể thay đổi ý Chúa.
Viên bác sĩ bước lên những bậc thang dẫn lên hiên. ‘Chào, Scobie,’ giọng ông ta cũng hạ thấp như vai, ‘đang hít thở không khí ban đêm sao? Đêm ở đây độc lắm đấy.’
‘Họ sao rồi?’ Scobie hỏi.
‘Nhiều khả năng sẽ có thêm hai người chết, tôi nghĩ vậy. Có lẽ chỉ một thôi.’
‘Con bé à?’
‘Nó sẽ chết trước khi trời sáng,’ viên bác sĩ đáp cụt lủn.
‘Con bé có tỉnh không?’
‘Chẳng lúc nào tỉnh hẳn. Nó thỉnh thoảng hỏi cha đâu: có lẽ nó nghĩ mình vẫn còn trên thuyền. Ở đó người ta giấu nó - bảo bố mẹ nó đang ở một thuyền khác. Nhưng tất nhiên, qua tín hiệu, họ đã ra biết chuyện gì xảy ra rồi.’
‘Con bé không tưởng ông là cha nó sao?’
‘Không, nó không chấp nhận bộ râu.’
Scobie hỏi, ‘Bà giáo viên thì sao?’
‘Cô Malcott à? Bà ấy sẽ ổn. Tôi đã cho bà ấy đủ bromide[2] để hãm cơn kích động cho tới sáng. Đó là tất cả những gì bà ấy cần - và cảm giác được đi đâu đó nữa. Ông có đủ chỗ cho bà ấy trong xe cảnh sát chứ? Tốt hơn là bà ấy nên rời khỏi đây.’
‘Chỉ có vừa đủ chỗ cho Druce và tôi cùng mấy thằng nhỏ và đồ đạc. Chúng tôi sẽ điều tới đây phương tiện di chuyển thích hợp ngay sau khi về đến nơi. Các ca đi được ổn cả chứ?’
‘Phải, họ sẽ qua khỏi thôi.’
‘Thằng bé và bà cụ thì sao?’
‘Sẽ hồi phục.’
‘Thằng bé là ai thế?’
‘Nó đang học ở một dự bị ở Anh. Cha mẹ nó ở Nam Phi nghĩ rằng nó sẽ an toàn hơn khi đến chỗ họ.’
Scobie dè dặt hỏi, ‘Còn cô gái đó - người có cuốn album tem?’ Là cuốn album chứ không phải khuôn mặt ám ảnh ông, vì lý do gì ông không sao hiểu được, cả chiếc nhẫn cưới lỏng lẻo trên ngón tay nữa, như thể một đứa trẻ hóa trang làm người lớn.
‘Tôi không biết,’ viên bác sĩ nói. ‘Nếu cô ấy vượt qua được đêm nay thì có lẽ.’
‘Ông mệt gần chết rồi phải không? Vào làm một ly đi.’
‘Được. Tôi cũng không muốn bị muỗi làm thịt.’ Viên bác sĩ mở cửa ban công, và một con muỗi phi thẳng vào cổ Scobie. Ông chẳng buồn tự vệ. Lừ đừ, do dự, ông lần theo con đường viên bác sĩ đã đi, xuống các bậc thang dẫn tới nền đá rắn. Sỏi vụn lọc xọc dưới ủng. Ông nghĩ về Pemberton. Thật ngớ ngẩn khi trông chờ hạnh phúc trong một thế giới đầy rẫy khổ đau. Ông đã giảm trừ nhu cầu của bản thân về mức tối thiểu, những bức ảnh cất vào ngăn kéo, những người chết cất khỏi đầu: một thắt lưng da để mài dao, một cặp còng tay gỉ làm đồ trang trí. Nhưng ta vẫn còn mắt, ông nghĩ, còn tai. Hãy tìm cho mình một kẻ hạnh phúc và mình sẽ chỉ ra ở hắn hoặc độc ác - đỉnh cao vị kỷ, hoặc vô tri tuyệt đối.
Đến bên ngoài nhà nghỉ, ông lại dừng. Ánh đèn bên trong hẳn sẽ mang tới ấn tượng bình yên vô biên nếu ông không biết chuyện gì đã xảy ra, hệt như những ngôi sao của đêm rất trong này gợi ấn tượng về sự xa xôi, tự do, vững chãi. Nếu ta biết, ông tự hỏi, tất cả các fact, liệu ta có phải thương hại cho cả các hành tinh không? Nếu quả thật ta có thể nói, như người ta vẫn thường, ‘vấn đề là ở chỗ’?
‘A, Thiếu tá Scobie.’ Vợ của nhà truyền giáo địa phương cất tiếng chào ông. Bà ta vận đồ trắng như y tá, mái tóc xám màu đá lửa vuốt ngược ra sau trán thành từng gợn như đá bị gió xói. ‘Ông đến xem à?’ bà nghiêm giọng hỏi như cấm đoán.
‘Phải,’ ông đáp. Ông không biết phải nói gì: ông chẳng thể tả cho bà Bowles những khắc khoải bồn chồn, cảm giác bất lực khủng khiếp của trách nhiệm và lòng thương hại, những hình ảnh không ngừng bủa vây ông.
‘Vào trong đi,’ bà Bowles nói, ông ngoan ngoãn làm theo bà như một đứa trẻ. Có ba phòng trong nhà nghỉ. Phòng đầu tiên xếp các ca đi được: đã uống đẫy thuốc, họ ngủ rất bình yên, như thể chỉ vừa thực hiện một bài thể dục dưỡng sinh. Trong phòng thứ hai là những ca nằm cáng, những người còn có thể hy vọng ít nhiều. Phòng thứ ba rất nhỏ, chỉ có hai chiếc giường ngăn bởi một tấm màn: cô bé sáu tuổi môi khô nứt nẻ và cô gái hôn mê nằm ngửa, vẫn ghì chặt cuốn album tem. Một ngọn đèn dầu cháy trong một chiếc đĩa cạn, đổ những cái bóng dẹt giữa hai chiếc giường. ‘Nếu ông muốn giúp gì,’ bà Bowles nói, ‘thì hãy ở đây một lúc. Tôi muốn tới dược phòng.’
‘Dược phòng?’
‘Nhà bếp ấy. Ta phải cố gắng xoay xở trong mọi điều kiện.’
Scobie thấy ớn lạnh lạ lùng. Một cơn rùng mình làm vai ông run lên. Ông hỏi, ‘Tôi không thể đi thay bà sao?’
Bà Bowles nói, ‘Đừng ngớ ngẩn thế chứ. Ông có biết pha thuốc không? Tôi sẽ chỉ đi mấy phút thôi. Nếu đứa trẻ có dấu hiệu không xong thì gọi tôi.’ Nếu bà cho thời gian, ông hẳn đã nghĩ được một cái cớ nào, nhưng bà đã ra khỏi phòng, ông ủ rũ ngồi xuống chiếc ghế duy nhất ở đó. Nhìn đứa trẻ, ông thấy tấm khăn choàng trắng của lễ ban Thánh Thể phủ trên đầu: đó là cú chơi khăm của ánh sáng lên tấm màn chống muỗi hay cả cú chơi khăm của chính ký ức ông? Ông vùi đầu vào tay, không muốn nhìn. Ông đã ở châu Phi khi con gái qua đời. Ông đã luôn cảm tạ Chúa vì thoát được việc phải chứng kiến điều đó. Nhưng dường như cuối cùng thì ta chẳng bao giờ thực sự thoát được điều gì. Làm người nghĩa là phải uống đến cạn ly. Nếu ngày đầu ta may mắn, ngày hôm sau ta hèn nhát, thì ngày thứ ba, chuyện gì đến cũng phải đến. Ông thầm cầu nguyện vào lòng bàn tay, ‘Chúa ơi, xin đừng để điêù gì xảy ra trước khi bà Bowles trở lại.’ Ông có thể nghe thấy tiếng thở nặng nề đứt quãng của đứa trẻ. Như thể cô bé đang dồn hết sức leo ngược dốc, gánh nặng chất trên lưng: thật là một tình thế bất nhân khi không thể gánh thay. Ông nghĩ: đây là những gì các ông bố bà mẹ phải chịu đựng hết năm này qua năm khác, còn mình thì chỉ vài phút đã sợ hãi co người. Họ nhìn những đứa con chầm chậm tiến đến cái chết từng giờ. Ông lại cầu nguyện, ‘Cha ơi, hãy trông chừng cô bé. Ban cho cô bé bình yên.’ Tiếng thở đứt, hộc lên, rồi trở lại với nỗ lực ghê người. Qua khe hở giữa những ngón tay, ông có thể thấy khuôn mặt sáu tuổi quằn quại như một người phu đang ráng chút sức tàn còn lại. ‘Cha ơi,’ ông cầu nguyện, ‘xin ban bình yên cho cô bé. Hãy lấy đi bình yên của con mãi mãi, nhưng xin ban cho cô bé bình yên.’ Mồ hôi túa ra đẫm tay ông. ‘Cha...’ Ông nghe thấy một giọng khàn khàn yếu ớt nhắc lại, ‘Cha,’ và ngước lên, ông thấy đôi mắt xanh lam ngầu đỏ đang trân trân nhìn mình. Ông kinh hoàng nghĩ: đây chính xác là những gì mình tưởng đã thoát được. Ông muốn gọi bà Bowles nhưng giọng không còn để gọi nữa. Ông có thể thấy bờ ngực đứa trẻ đang cố giành giật hơi thở để nhắc lại cái từ nặng nề kia. Lao đến bên giường, ông nói, ‘Cha đây, con yêu. Đừng nói nữa, cha đây.’ Ánh đèn ngủ đổ bóng nắm tay chặt cứng của ông lên tấm ga, đập vào mắt đứa trẻ. Cơn cười làm cô bé quặn mình lại, và ông bỏ tay ra. ‘Ngủ đi, con yêu,’ ông nói, ‘con buồn ngủ rồi. Ngủ đi.’ Một ký ức ông đã cẩn thận chôn sâu vùng trở lại; rút khăn tay ra, ông làm bóng một cái đầu thỏ rơi xuống chiếc gối cạnh cô bé. ‘Con thỏ của con đấy,’ ông nói, ‘để ngủ cùng con. Nó sẽ thức chờ đến khi con ngủ. Ngủ đi.’ Mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt, để lại trong miệng ông vị mặn chát như nước mắt. ‘Ngủ đi.’ Ông vẫy hai tai thỏ lên rồi xuống, lên rồi xuống. Rồi ông nghe thấy tiếng bà Bowles rất khẽ sau lưng. ‘Dừng lại đi,’ bà sẵng giọng, ‘đứa trẻ chết rồi.’
