favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN 2 - Phần 1 - Chương 1 (2)

2
 

Sáng hôm sau, họ đứng trên bến: ánh rạng đầu tiên vạch những đường lạnh lẽo dọc trời đông. Những túp lều trong làng vẫn phủ bạc. Bão đổ lúc hai giờ sáng - một cột mây đen xoay vần lên từ bờ biển, không khí hãy còn buốt lạnh vì mưa. Họ đứng, cổ áo khoác dựng lên, trông sang bờ Pháp, toán phu khiêng ngồi xổm trên nền đất đằng sau họ. Bà Perrot bước xuống con đường dẫn từ bungalow, quệt giấc ngủ trắng mờ khỏi mắt, và từ phía bên kia dòng nước vẳng tiếng dê be be như có như không. ‘Họ đến muộn à?’ Bà Perrot hỏi.

‘Không, chúng ta đến sớm.’ Scobie chăm chú dõi ống nhòm sang bờ đối diện. Ông nói, ‘Họ bắt đầu cựa rồi.’

‘Những người khốn khổ,’ bà Perrot nói, rùng mình vì cái lạnh đầu hôm.

‘Họ còn sống,’ viên bác sĩ nói.

‘Phải.’

‘Nghề của chúng tôi phải coi điều đó là quan trọng.’

‘Liệu có bao giờ người ta vượt qua được một cú sốc khủng khiếp đến thế không? Bốn mươi ngày trên một con thuyền không che chắn.’

‘Miễn tồn tại được,’ viên bác sĩ nói, ‘thì sẽ vượt qua được thôi. Không vượt qua được thì là thất bại, còn đây, bà thấy đấy, là một dạng thành công.’

‘Người ta đang đưa họ ra khỏi các lều,’ Scobie nói. ‘Tôi nghĩ tôi đếm được sáu cái cáng. Mấy cái thuyền đang được đưa vào.’

‘Chúng tôi được dặn phải chuẩn bị cho chín ca nằm cáng và bốn ca đi được,’ viên bác sĩ nói. ‘Hẳn đã có thêm vài người chết.’

‘Tôi có thể đã đếm sai. Giờ thì người ta đang khiêng họ xuống rồi. Tôi nghĩ có bảy cái cáng. Tôi không nhìn rõ những ca đi được.’

Ánh sáng lạnh lẽo nhạt nhòa, quá yếu ớt để có thể xua đi màn sương sớm, khiến lòng sông trông như rộng hơn so với lúc trưa. Một con thuyền độc mộc bản địa đen sẫm xuyên thủng sương mù, hẳn là chở các ca đi được. Qua được màn sương, đột nhiên con thuyền như được kéo gần sát lại. Ở bờ bên kia, người ta đang gặp khó khăn với động cơ của một chiếc xuồng; họ có thể nghe thấy tiếng hổn hển đứt quãng, như một con thú hết hơi.

Người đầu tiên trong những ca đi được đặt chân lên bờ là một ông già tay địu băng. Ông ta đội một cái mũ cát trắng bẩn thỉu và khoác trên vai một tấm vải bản địa; bàn tay không quấn băng liên tục cấu những sợi râu trắng lởm chởm trên mặt. Ông nói, giọng nặng âm sắc Scotland, ‘Tôi là Loder, kỹ sư trưởng.’

‘Hoan nghênh ông trở về nhà, ông Loder,’ Scobie nói. ‘Ông vui lòng đi lên bungalow trước được không, vài phút nữa bác sĩ sẽ lên với ông.’

‘À, không cần bác sĩ đâu.’

‘Ngồi xuống nghỉ đi. Tôi qua ngay với ông đây.’

‘A nhưng tôi muốn báo cáo với sĩ quan phụ trách.’

‘Ông đưa ông ấy lên được không, Perrot?’

‘Tôi là Thanh tra cảnh sát quận,’ Perrot nói. ‘Ông có thể báo cáo với tôi.’

‘Vậy thì ta còn chờ gì nữa?’ ông kỹ sư nói. ‘Đã gần hai tháng kể từ khi tàu chìm. Thuyền trưởng chết nên trách nhiệm dồn hết lên đầu tôi.’ Khi họ đã lên bungalow trên đồi, giọng Scotland vẫn vẳng lại dai dẳng, đều đều như máy nổ. ‘Tôi phải chịu tránh nhiệm trước các chủ tàu.’

Ba người còn lại đã lên bờ, và bên kia sông, việc sửa chữa chiếc xuồng vẫn tiếp tục: tiếng đục rất đanh, tiếng kim loại va lách cách, và rồi lại tiếng nổ hổn hển đứt quãng. Hai trong số những người vừa đến thuộc dạng bia đỡ đạn, nạn nhân điển hình của những vụ thế này: hai ông già trông như thợ sửa ống nước, nếu người ta không gọi một người Forbes, người kia là Newall thì hẳn đã có thể tưởng họ là anh em - những người không kêu ca cũng chẳng có quyền hành, đối với họ mọi tai họa chỉ đơn giản là ập xuống. Một người bị dập nát bàn chân, phải chống nạng; người kia bàn tay quấn những dải băng tồi tàn cắt từ một cái áo sơ mi nhiệt đới. Họ đứng trên bến, vẻ ơ hờ tự nhiên như đứng ở một góc đường Liverpool, chờ tửu điếm quen mở cửa. Một phụ nữ đầu bạc lực lưỡng đi ủng chống muỗi theo họ ra khỏi ca nô.

‘Tên bà, thưa bà?’ Druce hỏi, dò danh sách. ‘Bà có phải bà Rolt[1] không?’

‘Tôi không phải bà Rolt. Tôi là cô Malcott.’

‘Bà có thể đi lên nhà trên được không? Bác sĩ...’

‘Bác sĩ phải chăm sóc những ca nặng hơn tôi nhiều.’

Bà Perrot nói, ‘Có thể bà muốn đi nằm một lúc.’

‘Đó là điều tôi không muốn nhất,’ cô Malcott nói. ‘Tôi chẳng mệt tí nào.’ Bà ta khép miệng lại sau mỗi câu bật ra. ‘Tôi không đói. Tôi không sợ. Tôi muốn đi ngay.’

‘Đi đâu?’

‘Đi Lagos. Đến Nha học chính.’

‘Tôi e là sẽ có nhiều trùng trình trên đường đấy.’

‘Tôi trễ mất hai tháng rồi. Tôi không thể nấn ná thêm nữa. Công việc không chờ đợi.’

Đột ngột, bà ta ngẩng mặt lên trời và tru lên như một con chó.

Viên bác sĩ nhẹ nhàng nắm cánh tay bà, nói, ‘Chúng tôi sẽ làm những gì có thể để đưa bà đến đó ngay. Bà lên nhà trên gọi điện thoại đi.’

‘Chắc chắn rồi,’ cô Malcott đáp, ‘chẳng có gì không thể giải quyết được qua điện thoại.’

Viên bác sĩ nói với Scobie, ‘Ông đưa hai người còn lại lên chỗ chúng tôi nhé. Họ ổn cả. Nếu ông muốn thẩm tra gì thì hãy hỏi họ.’

Druce nói, ‘tôi sẽ đưa họ theo. Ông ở lại đây nhé, Scobie, phòng trường hợp phà qua. Tôi không nói được tiếng Pháp.’

Scobie ngồi ghé lan can bến và dõi mắt qua sông. Sương đã tan, bờ bên kia gần lại; giờ ông có thể thấy rõ nét cảnh vật chỉ bằng mắt thường: nhà kho trắng, những túp lều đắp bùn, chi tiết đồng trên chiếc xuồng máy lấp loáng trong nắng: ông có thể thấy những chiếc mũ Thổ Nhĩ Kỳ đỏ lô nhô trên đầu tốp lính bản địa. Ông nghĩ: Cùng một cảnh thế này, có thể mình sẽ đang đợi Louise xuất hiện trên một cái cáng - hay có lẽ cũng chẳng đợi. Ai đó ngồi xuống thành lan can cạnh ông, nhưng Scobie không quay đầu sang.

‘Ngài đang nghĩ gì vậy?’

‘Tôi chỉ đang nghĩ Louise đã an toàn thôi, Wilson.’

‘Tôi cũng đang nghĩ vậy, thưa ngài.’

‘Sao anh lúc nào cũng gọi tôi là ngài thế, Wilson? Anh không thuộc lực lượng cảnh sát. Gọi thế khiến tôi cảm thấy rất già.’

‘Tôi xin lỗi, Thiếu tá Scobie.’

‘Louise gọi anh là gì?’

‘Wilson. Tôi không nghĩ bà ấy thích tên Cơ đốc của tôi.’

‘Có lẽ cuối cùng họ cũng làm cái xuồng đó hoạt động được rồi, Wilson. Anh vui lòng đi báo cho bác sĩ được không?’

Một sĩ quan Pháp trong bộ đồng phục trắng cáu bẩn đứng ở mũi tàu: một người lính tung một sợi dây, Scobie bắt lấy nó và buộc cố định vào bến. ‘Bon jour,’[2] ông nói, giơ tay chào.

Viên sĩ quan Pháp chào đáp lễ – người ông ta queo quắt, mí mắt trái giật liên hồi. Ông nói bằng tiếng Anh, ‘Chào buổi sáng. Tôi đưa tới bảy ca nằm cáng cho ông đây.’

‘Thông báo tôi nhận được nói có chín ca mà.’

‘Một chết trên đường, một tối qua. Một vì sốt tiểu đen và một vì - vì, tiếng Anh của tôi tệ lắm, có phải các ông nói fatigue không?’

‘Kiệt sức.’

‘Chính nó.’

‘Nếu ông cho phép toán phu của tôi lên tàu, họ sẽ đưa cáng xuống.’ Scobie nói với đám người đi khiêng, ‘Nhẹ chân nhẹ tay thôi. Rất rất nhẹ.’ Đó là một mệnh lệnh không cần thiết: không hộ lý da trắng nào có thể nâng lên đặt xuống khẽ khàng hơn. ‘Ông có muốn lên bờ duỗi chân không?’ Scobie hỏi, ‘hay lên nhà trên làm ít cà phê?’

‘Không. Không cà phê, cảm ơn ông. Tôi ở đây để đảm bảo công việc tiến hành trôi chảy.’ Ông ta nhã nhặn và không dễ tiếp cận, nhưng lúc nào mí mắt trái cũng giật lên dấu hiệu của nghi ngờ và căng thẳng.

‘Tôi có một số tài liệu tiếng Anh nếu ông muốn xem.’

‘Không, không, cảm ơn. Tôi đọc tiếng Anh không tốt lắm.’

‘Ông nói tiếng Anh rất tốt đấy chứ.’

‘Đó lại là chuyện khác.’

‘Làm một điếu thuốc lá nhé?’

‘Cảm ơn ông, không. Tôi không thích thuốc lá Mỹ.’

Chiếc cáng đầu tiên đã lên bờ - ga kéo đến tận cằm, từ khuôn mặt trống rỗng cứng đờ kia, chẳng thể nào biết được anh ta khoảng bao nhiêu tuổi. Viên bác sĩ từ trên đồi đi xuống để đón các bệnh nhân nằm cáng và dẫn đường cho toán phu khiêng tới chỗ nhà nghỉ công đã chuẩn bị sẵn giường.

‘Tôi từng qua bên đó,’ Scobie nói, ‘đi săn với cảnh sát trưởng của các ông. Một người rất dễ chịu tên là Durand - người Norman.’

‘Ông ấy không còn ở đây nữa,’ viên sĩ quan nói.

‘Về nhà rồi à?’

‘Ông ấy đang ngồi tù ở Dakar,’ viên sĩ quan Pháp đáp, người thẳng đơ như một hình chạm ở mũi tàu, nhưng mắt vẫn giật và giật liên hồi. Những chiếc cáng từ từ lướt qua trước mặt Scobie và rẽ ngoặt lên đồi: một thằng bé hẳn không quá mười tuổi, khuôn mặt hầm hập sốt, cánh tay khẳng khiu như cành củi thõng ra khỏi chăn: một bà già tóc xám bù xù không ngớt vặn vẹo và lầm bầm: một người đàn ông mũi chai - cái gò sắc đỏ và xanh nổi trên khuôn mặt vàng bủng. Từng người một, họ lên đồi – bước chân toán phu khiêng đều đặn vững vàng như những con la. ‘Còn Père Brûle?’ Scobie hỏi. ‘Ông ấy cũng là một người tốt.’

‘Ông ấy qua đời năm ngoái vì sốt tiểu đen.’

‘Ông ấy ở nơi này hai mươi năm không nghỉ phép, phải không? Sẽ khó mà thay thế ông ấy được.’

‘Ông ấy vẫn chưa có ai thế chỗ,’ viên sĩ quan nói. Ông ta quay người, gằn giọng phát một mệnh lệnh ngắn cho một người lính của mình. Scobie nhìn chiếc cáng tiếp theo và lại phải đưa mắt ra chỗ khác. Một cô bé - hẳn không quá sáu tuổi - nằm trên đó. Cô bé ngủ mê man; mái tóc đẹp rối bù đẫm mồ hôi; miệng há hốc, môi khô nứt nẻ, chốc chốc cả người lại giật lên thảng thốt. ‘Kinh khủng quá,’ Scobie nói.

‘Cái gì kinh khủng?’

‘Một đứa trẻ phải chịu thế này.’

‘Phải. Bố mẹ nó chết cả. Nhưng rồi sẽ ổn thôi. Con bé cũng chẳng sống được bao lâu nữa.’

Scobie nhìn đội phu lầm lũi bước lên đồi, chân trần dẫm lên đất rất êm. Ông nghĩ: sẽ cần toàn bộ sự thông thái của Cha Brûle để giải thích điều này. Không phải việc đứa trẻ sẽ chết - chuyện đó không cần giải thích. Cả những kẻ ngoại đạo cũng hiểu rằng một cái chết trẻ hoàn toàn có thể là biểu hiện tình yêu của Chúa, dù họ đưa ra những lý do khác nhau; nhưng việc đứa trẻ được cho phép sống sót suốt bốn mươi ngày đêm trên một cái thuyền không che chắn - đó là bí ẩn, làm sao có thể hợp nhất điều đó với tình yêu của Chúa?

Dẫu vậy ông vẫn chẳng thể nào tin vào một Chúa không đủ tính người để yêu những gì mình tạo ra. ‘Làm thế quái nào mà con bé có thể sống sót được đến giờ?’ ông bật lên nỗi băn khoăn thành tiếng.

Viên sĩ quan u ám đáp, ‘Tất nhiên trên thuyền họ gắng sức chăm sóc cho con bé. Họ thường xuyên nhường cho nó phần nước của mình. Làm thế thật ngu xuẩn, hiển nhiên, nhưng người ta không thể lúc nào cũng logic được. Và việc đó choán lấy tinh thần họ, cho họ điều gì đó để nghĩ về.’ Đây dường như manh mối cho lời giải thích, nhưng nó quá mơ hồ chẳng thể nào nắm được. Ông ta tiếp tục nói, ‘Đây, lại một ca nữa khiến người ta muốn nổi điên.’

Khuôn mặt méo mó quằn quại vì kiệt sức: lớp da trông như thể chuẩn bị nứt toác trên gò xương má: chỉ sự thiếu vắng nếp nhăn cho thấy đó là một khuôn mặt một người trẻ tuổi. Viên sĩ quan Pháp nói, ‘Cô ta vừa kết hôn - ngay trước khi khởi hành. Chồng cô ta mất tích. Hộ chiếu nói cô ta mười chín tuổi. Cô ta có khả năng sẽ sống được. Ông thấy đấy, cô ta vẫn còn chút sức.’ Cánh tay cô gái, gầy guộc như tay trẻ con, thò ra ngoài chăn, ngón tay bấu chặt một cuốn sách. Scobie có thể thấy chiếc nhẫn cưới đã lỏng ra trên ngón tay héo khô.

‘Đó là gì vậy?’

Timbres,’[3] viên sĩ quan Pháp nói. Ông ta cay đắng thêm vào, ‘Khi cuộc chiến chết tiệt này nổ ra, cô ta hẳn vẫn còn đi học.’

Scobie sẽ nhớ mãi cái cách cô gái được khiêng vào cuộc đời ông trên chiếc cáng, tay bấu chặt lấy cuốn album tem, mắt nhắm nghiền.

 


[1] Bà (Mrs): phụ nữ có chồng; cô (Miss): phụ nữ chưa chồng.

[2] Tiếng Pháp: Chào

[3] Tiếng Pháp: tem

Thêm vào giỏ hàng thành công