favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN 1 - Phần 3 - Chương 1 (1)

1

Chiếc xe cảnh sát vào vị trí trong hàng dài xe cam nhông đang chờ phà. Đèn pha của chúng sáng rực như một ngôi làng nhỏ trong đêm. Những cái cây rủ xuống hai bên, bốc lên mùi mưa và mùi nực nội, và đâu đó ở cuối đoàn xe, một tài xế cất tiếng hát - giọng rền rĩ bợt bạt không sinh khí, rung lên rồi tuột xuống như gió luồn qua ổ khóa. Scobie ngủ rồi thức, thức rồi ngủ. Khi thức, ông nghĩ về Pemberton và tự hỏi không biết cậu ta sẽ cảm thấy thế nào nếu ông là cha cậu - ông chủ ngân hàng già đã về hưu, vợ chết khi sinh Pemberton - nhưng khi ngủ, ông lại trượt mình êm ái vào giấc mơ hạnh phúc và tự do toàn bích. Ông dạo bước qua một đồng cỏ rộng mát cùng Ali theo gót; chẳng có bất kỳ ai khác trong giấc mơ của ông, và Ali không nói bao giờ. Chim lững lờ trên cao tít, và khi ông ngồi xuống, một con rắn lục mỏng manh chẽ đôi đám cỏ, trườn lên bàn tay ông rồi bò dọc cánh tay không sợ hãi, và trước khi lại lẩn xuống cỏ, nó thò cái lưỡi lạnh, êm dịu và xa cách chạm lên má ông.

Một lần khi mở mắt, Ali đang đứng cạnh chờ ông tỉnh dậy. ‘Massa thích giường,’ nó nói dịu dàng, quả quyết, chỉ về phía cái giường xếp đã dựng bên vệ đường, màn chống muỗi mắc vào những cành cây bên trên. ‘Phải hai, ba giờ nữa,’ Ali nói. ‘Còn nhiều xe cam nhông.’ Scobie nghe theo, nằm xuống và lập tức trượt lại vào đồng cỏ dịu mát, nơi sẽ chẳng bao giờ có gì xảy ra. Lần tiếp theo ông tỉnh lại, Ali vẫn ở đó, lần này với một tách trà và đĩa bánh quy. ‘Một giờ nữa,’ Ali nói.

Rồi cuối cùng cũng đến lượt chiếc xe cảnh sát. Họ lái xe xuống con dốc đá ong đỏ, lên bè, rồi nhích từng foot qua dòng chảy đen đặc âm u như sông Styx, tiến về cánh rừng bờ bên kia. Hai người lái phà kéo sợi dây, trên người không mặc gì ngoài chiếc khố, như thể họ đã bỏ lại quần áo trên bờ sông, nơi sự sống kết thúc, và một người thứ ba điểm nhịp cho họ, dùng tạm một cái hộp cá mòi rỗng làm nhạc khí ở nơi chuyển giao thế giới này. Giọng rền rĩ không ngơi của người ca sĩ sống trôi về phía sau.

Đây là chuyến phà đầu tiên trong ba chuyến phải qua, lần nào cũng cùng cảnh xếp hàng. Scobie không bao giờ có thể ngủ lại cho tử tế; đầu ông bắt đầu ong lên vì những rung lắc của chiếc xe: ông uống vài viên aspirin và hy vọng đừng xảy ra chuyện gì. Ông không muốn bị sốt khi xa nhà. Giờ không phải là Pemberton làm ông lo lắng nữa - chết là hết - mà là những gì ông đã hứa với Louise. Hai trăm bảng là một khoản thật nhỏ: những con số nhảy loạn xạ trong cái đầu đau như búa bổ của ông như một chuông dồn dập: 200 002 020: ông lo mình không thể tìm được tổ hợp thứ tư: 002 200 020.

Họ đã vượt ra ngoài địa phận của những lán mái tôn và những lều gỗ cũ nát; họ đi qua những ngôi làng nhà đắp bùn, mái lợp tranh, lầm lũi ẩn mình trong bụi: chẳng có chút ánh sáng nào lọt ra: mọi cửa đều đóng kín, chỉ có đôi mắt vài con dê dõi theo đèn pha của đoàn xe. 020 002 200 200 002 020. Ali ngồi xổm trong thùng xe, một tay choàng đỡ vai ông, tay kia cầm một tách trà nóng - bằng cách nào đó, nó đã đun được một bình trà nữa trong thùng xe lắc lư. Louise đúng – cảm giác hệt như những ngày cũ. Nếu ông thấy trẻ hơn, nếu không có chuyện những con số 200 020 002, hẳn ông đã có thể hạnh phúc. Cái chết của Pemberton khốn khổ sẽ chẳng làm ông bận tâm - ông chỉ đơn thuần thực hiện nghĩa vụ, đằng nào ông cũng chưa bao giờ thích Pemberton.

‘Cái đầu humbug tao, Ali ạ.’

‘Massa uống nhiều aspirin.’

‘Mày có nhớ không, Ali, hai trăm 002 mười ngày, mười hai năm trước; hai trong số những phu khuân vác đã đổ bệnh...’

Ông có thể thấy trong gương tài xế, Ali gật đầu, mặt nở ra. Ông thấy như đây là tất cả những gì mình cần, từ tình yêu hay tình bạn. Ông có thể hạnh phúc mà chẳng cần gì hơn thế này - chiếc xe tròng trành, trà nóng kề môi, rừng nặng nề ẩm ướt, thậm chí cả cơn đau đầu, cả sự cô đơn nữa. Giá mình có thể thu xếp hạnh phúc của cô ấy trước, ông nghĩ, và trong đêm hỗn độn, ông quên mất, trong khoảnh khắc, những gì kinh nghiệm đã dạy ông - rằng không người nào có thể thực sự hiểu một kẻ khác, rằng không ai có thể xếp đặt hạnh phúc cho ai. ‘Một giờ nữa,’ Ali nói, và ông thấy màn đêm đang mờ dần. ‘Thêm một cốc trà nữa, Ali, nhớ rót whisky vào.’ Đoàn xe đã tách khỏi họ từ mười lăm phút trước, lúc chiếc xe cảnh sát rẽ khỏi con đường chính và tiến sâu hơn vào rừng rậm theo một nhánh rẽ gập ghềnhh. Ông nhắm mắt, cố gắng kéo tâm trí mình xa khỏi hồi chuông quay cuồng tản mát của những con số để tập trung vào công việc chán ngán trước mặt. Ở Bamba chỉ có một hạ sĩ cảnh sát người bản địa, và ông muốn nắm được những gì xảy ra trước khi nghe báo cáo không thể luận nổi của viên hạ sĩ. Tốt hơn, ông miễn cưỡng cân nhắc, là đến nhà truyền giáo trước và gặp Cha Clay cái đã.

Cha Clay đã dậy và đang đợi ông trong tòa nhà nhỏ u ám kiểu Âu. Đứng giữa những túp lều đắp bùn, tòa nhà đá ong này trông như một nhà linh mục kiểu Victoria. Một chiếc đèn bão rọi lên mảng tóc đỏ ngắn cũn của vị linh mục và khuôn mặt Liverpool trẻ trung lốm đốm tàn nhang của ông. Ông không ngồi im được lấy vài phút, và chốc chốc ông lại chồm dậy, đi đi lại lại quanh căn phòng tí hon, từ bức tranh dầu gớm ghiếc tới bức tượng thạch cao rồi vòng lại bức tranh dầu. ‘Tôi gặp cậu ta ít lắm,’ ông rền rĩ, hai tay khua lên cắt nghĩa như thể đang ở trên bục giảng kinh. ‘Cậu ấy chẳng quan tâm đến điều gì ngoài bài bạc rượu chè. Tôi không uống rượu và tôi cũng chẳng bao giờ đánh bài - ngoài chơi demon, ông biết đấy, ngoài demon, và đó là dạng bài một người. Thật khủng khiếp, khủng khiếp.’

‘Cậu ta treo cổ à?’

‘Phải. Hôm qua thằng nhỏ của cậu ta đến tìm tôi. Từ đêm trước nó đã chẳng thấy cậu ta đâu, nhưng sau một chầu thì thế là thường, ông biết đấy, sau một chầu. Tôi bảo nó đến trình cảnh sát. Làm thế là đúng, phải không? Tôi chẳng thế làm gì. Không gì cả. Cậu ta chết hẳn rồi.’

‘Đúng lắm. Ông có thể cho tôi một cốc nước và ít aspirin được không?’

‘Để tôi pha aspirin cho ông. Ông biết đấy, Thiếu tá Scobie, hàng tuần hàng tháng ở đây chẳng xảy ra chuyện gì. Ở đây tôi chỉ đi qua đi lại, đi qua đi lại và rồi đột nhiên từ trên trời rơi xuống ... khủng khiếp.’ Mắt ông ta đỏ quạch và thiếu ngủ: Scobie thấy ông nằm trong số những người không hợp với cô đơn. Chẳng thấy sách vở gì ngoài một kệ nhỏ sách kinh và vài cuốn giáo lý. Ông không biết nhiều cách để giải sầu. Ông lại bắt đầu đi đi lại lại và đột nhiên, quay sang Scobie, phụt ra câu hỏi khấp khởi. ‘Liệu có hy vọng đây là ám sát không?’

‘Hy vọng?’

‘Tự tử,’ Cha Clay nói. ‘Thật khủng khiếp. Tự tử đặt con người ra ngoài vòng thương xót. Tôi đã nghĩ về điều đó cả đêm.’

‘Cậu ta không phải là người Công giáo. Có lẽ điều đó làm mọi chuyện khác đi. Không biết là không có tội,[1] phải không?’

‘Đó chính là điều tôi đang cố nghĩ đây.’ Đi đến giữa bức tranh dầu và bức tượng, ông ta đột nhiên khựng lại và dẹp qua một bên, như thể chạm trán một kẻ khác trên con đường diễu hành tí hon của mình. Rồi ông vội lén nhìn Scobie để xem liệu hành động ấy có bị phát giác không.

‘Ông có thường xuống cảng không?’ Scobie hỏi.

‘Chín tháng trước tôi xuống đó. Sao vậy?’

‘Ai cũng cần chút thay đổi. Ông có nhiều giáo đồ ở đây không?’

‘Mười lăm. Tôi cố thuyết phục mình rằng Pemberton trẻ tuổi vẫn còn thời gian - thời gian, ông biết đấy, khi cậu ấy tiến đến gần cái chết, để nhận ra...’

‘Khó mà suy nghĩ sáng suốt được khi cổ ta đang bị bóp nghẹt, Cha ạ.’ Ông uống một hớp aspirin, những hạt chua chua vướng trong họng ông. ‘Nếu đó là giết người thì Cha cũng chỉ đổi sang một kẻ phạm trọng tội khác thôi,’ ông cố nặn ra một câu hài hước, nhưng sự hài hước úa tàn ngay giữa bức tranh thánh và tượng thánh.

‘Một kẻ sát nhân vẫn còn thời gian ...’ Cha Clay nói. Ông ta đăm chiêu thêm vào, giọng hoài niệm, ‘Tôi từng thực hiện nghĩa vụ của mình ở Trại giam Liverpool.’

‘Cha có suy đoán gì về lý do cậu ta làm vậy không?’

‘Tôi không biết cậu ấy đủ rõ. Chúng tôi không hợp nhau.’

‘Hai người da trắng duy nhất ở đây. Thật đáng tiếc.’

‘Cậu ấy ngỏ ý cho tôi mượn mấy cuốn sách, nhưng đó không phải là loại sách tôi muốn đọc - chuyện tình, tiểu thuyết...’

‘Cha đọc gì?’

‘Bất cứ thứ gì về các thánh, Thiếu tá Scobie ạ. Tôi sùng mộ Bông Hoa Nhỏ.’[2]

‘Cậu ấy uống nhiều lắm, phải không? Cậu ấy lấy đâu ra rượu?’

‘Tôi đồ là ở cửa hàng của Yusef.’

‘Phải. Hẳn cậu ta cũng mắc nợ ở đó.’

‘Tôi không biết. Thật khủng khiếp, khủng khiếp.’

Scobie uống cạn aspirin. ‘Tôi nghĩ là tốt hơn tôi nên đi.’ Bên ngoài trời đã hửng, ánh sáng trước khi mặt trời lên có một vẻ ngây thơ lạ thường, dịu êm, trong trẻo, và tươi mát.

‘Tôi sẽ đi cùng ông, Thiếu tá Scobie.’

Viên hạ sĩ ngồi ở một cái ghế xếp bên ngoài bungalow của D.C. Anh ta bật dậy luống cuống chào, rồi lập tức, với giọng rời rạc còn chưa thành hình, bắt đầu đọc bảo cáo, ‘Lúc ba rưỡi chiều qua, thưa ngài, tôi bị thằng nhỏ của D.C. đánh thức, nó báo rằng D.C. Pemberton, thưa ngài...’

‘Thế được rồi, hạ sĩ, tôi sẽ vào trong xem một vòng.’ Thư ký chính của Pemberton đã đợi sẵn ông trong cửa.

Phòng khách của bungalow rõ ràng đã từng là niềm tự hào của D.C. - hẳn là vẫn vậy khi Butterworth còn tại chức. Có phong khí tinh tế và sự trau chuốt kiêu hãnh trong nội thất; những nội thất này đều không phải là đồ phân phối của chính phủ. Có những bức tranh in khắc về sơ kỳ thuộc địa từ thế kỷ mười tám trên tường và một giá sách vẫn còn những quyển Butterworth để lại - Scobie lưu ý một số tiêu đề và tác giả, Lịch sử lập hiến của Maitland,[3] Ngài Henry Maine,[4] Đế chế La Mã thần thánh của Bryce,[5] thơ của Hardy,[6] và cuốn Ký lục ngày phán quyết của Withington nhỏ, in riêng. Nhưng hằn lên tất cả là những dấu tích của Pemberton - một cái ghế đệm da lòe loẹt mà người ta vẫn gọi là thủ công bản địa, những vết sém tàn thuốc trên ghế, một chồng những cuốn sách Cha Clay không thích - Somerset Maugham,[7] một cuốn Edgar Wallace, hai cuốn Horler,[8] và một cuốn đang trải rộng trên trường kỷ, Tử thần cười các bác thợ khóa. Căn phòng không được lau dọn chu đáo, đám sách của Butterworth cũng ố đi vì ẩm.

‘Thi thể nằm trong phòng ngủ, thưa ngài,’ viên hạ sĩ nói. Scobie mở cửa bước vào - Cha Clay theo sau. Thi thể đã được đặt lên giường, tấm ga phủ lên che mặt. Khi Scobie lật tấm ga xuống vai, ông cảm thấy như đang ngắm một đứa trẻ đang say giấc nồng trong bộ áo ngủ: những nốt mụn kia là mụn dậy thì, khuôn mặt chết chóc dường như chẳng in dấu kinh nghiệm nào vượt ngoài vòng lớp học hay sân bóng. ‘Thằng bé tội nghiệp,’ ông bật thành tiếng. Những cơn phun trào của lòng ngoan đạo nơi Cha Clay làm ông bực bội. Ông thấy lòng xót thương của Chúa dành cho một người còn chưa thành hình là chuyện đương nhiên. Ông hỏi cụt lủn, ‘Cậu ta làm như thế nào?’

Viên hạ sĩ chỉ vào thanh gỗ mà Butterworth đã tỉ mẩn gắn vào tường để treo tranh - không một chủ thầu công nào có thể nghĩ đến việc này. Một bức tranh - một ông vua bản địa xa xưa đang tiếp các nhà truyền giáo dưới một cái lọng - gắn vào tường và một sợi dây vẫn còn xoắn vào móc treo tranh bằng đồng. Ai mà ngờ được rằng thiết kế mỏng manh này không sụp xuống?

Cậu ta hẳn rất nhẹ, ông nghĩ, và ông nghĩ tới bộ xương một đứa trẻ, nhẹ và giòn như xương chim. Khi cậu ta treo cổ, bàn chân hẳn chỉ cách đất mười lăm inch.

‘Cậu ấy có để lại giấy tờ gì không?’ Scobie hỏi viên thư ký. ‘Thường thì họ làm vậy. Những người chuẩn bị chết hay dài lời tự bạch.

‘Có, thưa ngài, trong văn phòng.’

Chỉ cần nhìn qua là đủ biết phòng làm việc chẳng được chăm chút mấy. Tủ hồ sơ mở khóa: các giá trên bàn đầy ắp giấy tờ phủ bụi vì không được ngó ngàng. Tay thư ký người bản xứ rõ ràng cũng luộm thuộm y chang, chủ sao tớ vậy. ‘Ở kia, thưa ngài, trên tấm giấy lót tay.’

Scobie đọc, nét chữ cũng chưa thành hình như khuôn mặt, giống hàng trăm người cùng tuổi đi học với cậu ta: Cha thân yêu ơi, - Xin cha thứ lỗi cho tất cả những rắc rối này. Dường như chẳng còn gì để làm nữa. Khốn khổ là con lại không trong quân ngũ, ở đó ít ra người ta còn có thể giết con. Đừng đi trả khoản tiền con còn nợ - hắn chẳng xứng đáng đâu. Bọn chúng có thể sẽ cố moi tiền của cha. Nếu không con cũng chẳng nhắc đến làm gì. Việc này chắc sẽ làm cha đau đầu, nhưng biết làm sao được. Con yêu thương của cha. Chữ ký là ‘Dicky’. Lá thư này chẳng khác nào thư biện hộ của cậu học sinh cho một bảng điểm tồi.

Ông đưa lá thư cho Cha Clay. ‘Cha hẳn sẽ không bảo tôi rằng ở đây có bất cứ điều gì không thể tha thứ được. Nếu tôi hay Cha làm thế này thì sẽ đúng là tuyệt vọng cùng cực - tôi đồng ý với bất cứ điều gì Cha nói trong trường hợp chúng ta. Chúng ta sẽ bị trừng phạt vì chúng ta biết, nhưng cậu ấy thì chẳng biết gì.’

‘Giáo hội dạy rằng...’

‘Cả Giaó hội cũng không thể dạy tôi rằng Chúa không xót thương người trẻ dại ...’

Scobie đột ngột ngưng bặt. ‘Hạ sĩ, hãy lo đào huyệt nhanh trước khi trời trở nên quá nực. Và đi tìm bất kỳ biên lai ghi nợ nào của cậu ta. Tôi muốn nói chuyện với một người về việc này.’ Khi ông quay ra cửa sổ, ánh nắng làm ông lóa mắt. Ông đưa tay che mắt, nói, ‘Cầu Chúa cho cái đầu tôi ...’, cả người mềm nhũn. ‘Nếu không chặn được cơn này thì đúng là tôi ngộ cảm rồi. Nếu Cha không phiền để Ali dựng giường xếp của tôi ở chỗ Cha, tôi sẽ cố cho vã mồ hôi ra.’

Ông uống một liều lớn ký ninh và ở trần nằm giữa mấy lớp chăn. Mặt trời lên, ông nhìn quanh căn phòng bí bách như nhà tù. Những bức tường đá lúc thì như đổ mồ hôi lạnh, lúc thì như lò nung. Cửa mở, Ali ngồi xổm trên bậc thềm ngay bên ngoài, bổ củi, thi thoảng lại xua đi những người làng cất tiếng xâm phạm sự tĩnh lặng của phòng bệnh. Peine forte et dure[9] nặng trình trịch trên trán Scobie: có lúc nó cũng ép ông vào giấc ngủ chập chờn.

Nhưng cơn mê này chẳng mang tới mộng mị dịu êm nào. Trong mơ, Pemberton và Louise mơ hồ nối với nhau. Ông đọc đi đọc lại một bức thư chỉ chứa những biến đổi của con số 200, chữ kí ở cuối lúc thì là ‘Dicky’ lúc thì là ‘Ticki’; ông cảm giác được thời gian trôi và sự bất động của mình giữa những lớp chăn - có điều gì đó ông phải làm, ai đó ông phải cứu, Louise, Dicky hoặc Ticki, nhưng ông bị buộc chặt vào giường và người ta đặt lên trán ông những vật gì rất nặng, như đặt chặn giấy để giữ giấy rời. Một lần viên hạ sĩ đến cửa, Ali đuổi anh ta đi; lần khác, Cha Clay nhón chân bước vào, lấy một tập bài giảng khỏi giá, và một lần, nhưng lần này có thể là mơ, Yusef mò đến.

Tầm năm giờ chiều, ông tỉnh dậy, thấy trong mình khô, không nóng nhưng rất yếu, ông gọi Ali vào. ‘Tao mơ là tao thấy Yusef.’

‘Yusef đã đến tìm ngài.’

‘Bảo ông ta giờ tao sẽ gặp.’ Ông thấy rất mệt, cả người đau như dần: ông quay mặt về bức tường đá và lập tức ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, Louise lặng lẽ khóc cạnh ông; ông lại giơ tay ra chạm vào bức tường đá lần nữa - ‘Mọi thứ sẽ được sắp xếp ổn thỏa. Tất cả mọi thứ. Ticki hứa.’

Khi ông tỉnh giấc, Yusef đã ở cạnh ông.

‘Ông sốt rồi, Thiếu tá Scobie. Tôi rất lấy làm tiếc khi thấy ông không được khỏe.’

‘Tôi thì tiếc bất cứ khi nào phải thấy ông, Yusef.’

‘A, ông lúc nào cũng lấy tôi ra làm trò đùa.’

‘Ngồi xuống đi, Yusef. Giữa ông và Pemberton có chuyện gì vậy?’

Yusef giãn bộ mông mỡ trên chiếc ghế cứng; để ý thấy mấy cúc quần chưa cài mở toang hoang, ông ta dùng bàn tay rộng đầy lông xử lý chúng.

‘Chẳng có gì cả, Thiếu tá Scobie ạ.’

‘Thật là một trùng hợp lạ lùng rằng ông ở đây đúng thời điểm cậu ta tự tử.’

‘Tôi cho là ý trời thôi.’

‘Hẳn cậu ta nợ tiền ông?’

‘Cậu ta nợ người quản lý cửa hàng của tôi.’

‘Ông gây áp lực nào lên cậu ta vậy, Yusef?’

‘Thiếu tá, bút sa gà chết.[10] Nếu D.C. muốn mua ở cửa hàng của tôi thì làm sao người quản lý cửa hàng có thể không bán cho cậu ta? Nếu ông ấy làm thế thì chuyện gì sẽ xảy ra? Sớm muộn gì cũng sẽ nổ ra một trận om sòm. Chánh thanh tra địa phương sẽ phát hiện ra. D.C. sẽ bị tống về nhà. Nếu ông ấy không ngừng bán thì kết quả thế nào? D.C. ghi nợ đầm đìa. Quản lý cửa hàng sợ tôi, ông ta đòi D.C. phải trả - như thế rồi cũng sẽ om sòm chẳng kém. Khi ông có một D.C. như Pemberton trẻ tuổi tội nghiệp thì kiểu gì cũng đến ngày sinh sự, dù ông có làm gì. Và người Syria thì lúc nào cũng là bên sai.’

‘Những gì ông nói cũng có lý đấy, Yusef.’ Cơn đau lại bắt đầu nhói lên. ‘Mang whisky và ký ninh ở kia cho tôi, Yusef.’

‘Ông sẽ không dùng quá nhiều ký ninh chứ, Thiếu tá Scobie? Cẩn thận sốt tiểu đen.’

‘Tôi không muốn nằm chết dí ở đây vài ngày trời. Tôi muốn diệt nó từ trong trứng. Tôi còn quá nhiều việc phải làm.’

‘Ngồi dậy một chốc đi, Thiếu tá, để tôi vỗ gối cho ông.’

‘Ông cũng không đến nỗi đâu, Yusef.’

Yusef nói, ‘Hạ sĩ của ông vẫn đang tìm biên lai, nhưng anh ta sẽ chẳng tìm được gì. Các IOU[11] ở chỗ tôi cả đây. Tôi lấy từ két ông quản lý.’ Ông ta đập một tệp giấy vào đùi.

‘Tôi thấy rồi. Ông định làm gì với chúng?’

‘Đốt sạch,’ Yusef đáp. Ông lôi ra một cái bật lửa và châm vào các góc. ‘Đó,’ Yusef nói. ‘Cậu ta thanh toán xong rồi, thằng bé tội nghiệp. Chẳng có lý do gì phải phiền đến bố cậu ta.’

‘Sao ông lại lên đây?’

‘Người quản lý của tôi đã rất lo lắng. Tôi đến để đề xuất một thỏa thuận.’

‘Muốn ăn xúp với ông thì phải dùng thìa dài đấy, Yusef ạ.’[12]

‘Kẻ thù của tôi thì đúng là vậy. Bạn thì không. Tôi sẵn sàng làm rất nhiều điều cho ông, Thiếu tá Scobie.’

‘Sao ông cứ gọi tôi là bạn thế, Yusef?’

‘Thiếu tá Scobie,’ Yusef nói, mái đầu trắng vĩ đại nồng nặc mùi dầu tóc chồm lại, ‘tình bạn là một điều nằm sâu trong tâm hồn. Đó là điều ta cảm nhận được. Không phải để đáp lại điều gì cả. Ông nhớ khi ông đưa tôi ra tòa mười năm trước chứ?’

‘Có, có.’ Scobie quay đầu, tránh ánh nắng từ cửa chiếu vào.

‘Lần đó ông suýt chút nữa đã tóm được tôi, Thiếu tá Scobie. Là chuyện thuế nhập khẩu, ông nhớ chứ. Ông đáng lẽ đã có thể bắt tôi: chỉ cần bảo viên cảnh sát dưới quyền nói khác đi một chút thôi. Tôi đã hết sức sửng sốt đấy, Thiếu tá Scobie, lúc ngồi ở tòa và nghe fact đúng từ miệng cảnh sát. Ông hẳn đã tốn rất nhiều công sức để tìm ra sự thật và làm họ nói đúng như thế. Tôi đã tự nhủ, Yusef à, một Daniel[13] đã giáng xuống đội ngũ Cảnh sát thuộc địa.’

‘Tôi ước gì ông đừng dài lời như vậy, Yusef. Tôi chẳng hứng thú gì với tình bạn của ông.’

‘Lời của ông sắt đá hơn trái tim ông, Thiếu tá Scobie ạ. Tôi muốn giải thích vì sao trong tâm hồn, tôi lúc nào cũng thấy mình là bạn ông. Ông làm tôi thấy tin tưởng. Ông sẽ không bẫy tôi. Ông cần fact, và tôi chắc chắn các fact sẽ luôn đứng về phía tôi.’ Ông ta phủi tro khỏi chiếc quần trắng, để lại thêm một vệt xám. ‘Fact đây. Tôi đã đốt tất cả các biên lai ghi nợ.’

‘Tôi vẫn còn có thể tìm ra dấu vết, Yusef, về loại thỏa thuận ông đã muốn đạt được với Pemberton. Trạm này kiểm soát một trong những tuyến đường chính xuyên biên giới từ - chết tiệt, cái đầu này làm tôi không sao nhớ ra được.’

‘Bọn buôn lậu gia súc. Tôi chẳng hứng thú với gia súc đâu.’

‘Những thứ khác cũng dễ theo đường này đi ngược sang bên kia.’

‘Ông vẫn mơ về kim cương, Thiếu tá Scobie. Từ khi khi chiến tranh bắt đầu, ai cũng phát điên lên vì kim cương.’

‘Đừng quá chắc chắn, Yusef, rằng tôi sẽ không tìm thấy gì khi rà qua phòng làm việc của Pemberton.’

‘Tôi lại khá chắc là đấy, Thiếu tá Scobie. Ông biết tôi không biết đọc biết viết mà. Chẳng bao giờ có gì lưu trên giấy hết. Mọi thứ luôn ở trong đầu tôi.’ Ngay khi Yusef vẫn đang nói, Scobie đã thiếp đi - ông chìm vào giấc ngủ nông vài giây, chỉ đủ thời gian tua qua một mối buồn phiền. Louise đang tiến về phía ông, hai tay giang ra cùng nụ cười nhiều năm rồi ông chưa thấy trên khuôn mặt. Bà nói, ‘Em hạnh phúc quá, hạnh phúc lắm,’ và rồi ông lại choàng tỉnh, giọng Yusef vẫn đều đều như ru. ‘Chỉ có các bạn ông không tin ông thôi, Thiếu tá Scobie. Tôi tin ông. Thậm chí cả thằng vô lại Tallit cũng tin ông.’

Phải một lúc ông mới thấy rõ được khuôn mặt kia. Não ông chật vật chuyển từ ‘hạnh phúc quá’ sang ‘không tin’. Ông nói, ‘Ông đang nói gì thế, Yusef?’ Ông có thể cảm thấy bộ máy của não mình kêu cọt kẹt, ken két, lọc sọc, các bánh răng không khớp được với nhau, tất thảy đều buốt nhói.

‘Đầu tiên là vị trí Chánh thanh tra.’

‘Họ cần một người trẻ,’ ông đáp một cách máy móc và nghĩ, nếu không bị sốt thì mình sẽ chẳng bao giờ nói về một chuyện như thế với Yusef.

‘Rồi còn người đặc biệt họ phái đến từ London nữa...’

‘Ông phải trở lại khi tôi tỉnh táo hơn thôi, Yusef ạ. Tôi chẳng biết ông đang nói về cái quái gì nữa.’

‘Họ đã phái tới một người đặc biệt từ London để điều tra chuyện kim cương - họ phát điên lên vì kim cương - hẳn chỉ Chánh thanh tra mới biết về anh ta - không một sĩ quan nào khác biết, kể cả ông.’

‘Ông lảm nhảm gì vậy, Yusef. Chẳng có ai như thế hết.’

‘Ai cũng đoán được trừ ông.’

‘Quá vớ vẩn. Ông không nên nghe tin đồn, Yusef ạ.’

‘Còn điều thứ ba nữa. Tallit rao lên khắp nơi là ông đến thăm tôi.’

‘Tallit! Ai mà tin những gì Tallit nói chứ?’

‘Ở đâu cũng vậy, ai cũng thế, miễn chuyện xấu xa là người ta tin tuốt.’

‘Biến đi, Yusef. Sao ông lại muốn làm tôi lo lắng lúc này?’

‘Tôi chỉ muốn ông hiểu, Thiếu tá Scobie ạ, là ông có thể dựa vào tôi. Trong tâm hồn tôi có tình bạn đối với ông. Điều đó là thật, Thiếu tá Scobie ạ.’ Mùi dầu tóc sực lên khi ông ta cúi xuống giường: đôi mắt nâu sâu hoắm như hơi ẩm đi vì xúc động. ‘Để tôi vỗ gối cho ông nhé, Thiếu tá Scobie.’

‘Ôi, vì Chúa, tránh xa tôi ra,’ Scobie nói.

‘Tôi biết chuyện của ông, Thiếu tá Scobie ạ, và nếu tôi có thể giúp...Tôi rất giàu.’

‘Tôi không nhận hối lộ đâu, Yusef,’ ông mệt mỏi đáp và quay đầu đi hòng thoát khỏi mùi dầu.

‘Tôi không đề nghị hối lộ ông, Thiếu tá Scobie. Một khoản vay bất kỳ lúc nào với mức lãi suất hợp lý - bốn phần trăm một năm. Không kèm điều kiện gì. Ông có thể bắt tôi ngay ngày hôm sau nếu ông có fact. Tôi muốn là bạn của ông, Thiếu tá Scobie. Ông không cần phải là bạn tôi. Một nhà thơ Syria đã viết, "Trong hai trái tim, một luôn nóng và một luôn lạnh: trái tim lạnh còn quý hơn kim cương: trái tim nóng chẳng có giá trị gì, bị hắt hủi."’

‘Nghe có vẻ là một bài thơ rất tệ. Nhưng tôi cũng chẳng phải chuyên gia thơ.’

‘Thật là một tình cờ sung sướng đối với tôi khi hai ta ở đây cùng nhau. Trong thành phố có quá nhiều con mắt chằm chằm theo dõi. Nhưng ở đây, Thiếu tá Scobie, tôi có thể thực sự giúp ông. Tôi lấy thêm chăn cho ông nhé?’

‘Đừng đừng, để tôi yên là được.’

‘Tôi ghét thấy người có phẩm cách như ông bị đối xử bất công, Thiếu tá Scobie ạ.’

‘Yusef, tôi không nghĩ sẽ có bao giờ đến lúc tôi cần sự thương hại của ông. Nhưng nếu ông muốn làm gì cho tôi thì đi ngay đi và để yên cho tôi ngủ.’

Nhưng khi ông ngủ, những giấc mơ bất hạnh lại ập đến. Ở lầu trên, Louise đang khóc. Ông ngồi trên bàn viết thư tuyệt mệnh. ‘Việc này chắc sẽ làm em đau đầu, nhưng biết làm sao được. Chồng yêu thương của em, Dicky,’ và rồi khi ông quay đi tìm một vũ khí hay một cái dây, ông chợt nhận ra rằng đây là việc ông không bao giờ làm được. Tự tử vĩnh viễn nằm ngoài khả năng của ông - ông không thể đẩy mình vào trừng phạt vĩnh cửu - chẳng nguyên nhân nào đủ quan trọng. Ông xé bức thư và chạy lên lầu để bảo Louise rằng cuối cùng thì mọi chuyện vẫn ổn, nhưng bà đã thôi khóc, sự im lặng tràn ra từ bên trong phòng ngủ làm ông sợ. Ông đẩy cửa, cửa khóa. Ông gọi, ‘Louise, mọi chuyện ổn rồi. Anh đã đặt vé cho em,’ nhưng không có lời đáp nào. Ông lại kêu lên lần nữa, ‘Louise.’ Rồi có tiếng chìa khóa vặn, cánh cửa chầm chậm mở ra, làm dâng lên cảm giác về một thảm họa không thể vãn hồi, và ông thấy đứng đó, ngay bên trong là Cha Clay, nói với ông, ‘Lời dạy của Giaó hội ...’ Tới đó, ông choàng tỉnh để thấy lại căn phòng đá, bí bách chẳng khác nào một nhà mồ.

 


[1] Nguyên văn: invincible ignorance - khái niệm thần học Công giáo chỉ sự một người, chẳng hạn trẻ sơ sinh, không biết giáo lý Thiên chúa giáo vì chưa bao giờ được nghe.

[2] Đề cập đến Thánh Teresia của Lisieux (1873-1897), được xưng tụng là "Bông hoa nhỏ của Chúa Giêsu."

[3] Constitutional History của Frederic William Maitland, 1850-1906, luật gia và sử gia người Anh

[4] Ngài Henry Maine (1822-1888), luật sư người Anh.

[5] James Bryce (1838-1922) luật sư và sử gia người Anh.

[6] Thomas Hardy (1840-1928), tiểu thuyết gia và nhà thơ người Anh.

[7] William Somerset Maugham (1874—1965), tiểu thuyết gia người Anh.

[8] Sydney Horler (1888-1954), tiểu thuyết gia người Anh.

[9] Tên một hình phạt trong luật Anh, áp dụng từ năm 1406 cho những phạm nhân từ chối nhận là có tội, cũng từ chối nhận là vô tội. Phạm nhân bị một vật nặng đè lên có khi tới chết.

[10] Nguyên văn: you give an evil name to a dog and the dog is finished.

[11] IOU, viết tắt của cụm I owe you (tôi nợ bạn): là một văn bản ghi nợ không chính thức.

[12] Ngạn ngữ Scotland: it takes a long spoon to sup with a Fifer.

[13] Daniel: một trong bốn nhà tiên tri lớn của Cơ đốc giáo, ở đâ

Thêm vào giỏ hàng thành công